28/01/2022 00:37Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thu nhật Quỳ phủ vịnh hoài phụng ký Trịnh giám, Lý tân khách nhất bách vận
秋日夔府詠懷奉寄鄭監李賓客一百韻

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 22/04/2015 23:23

 

Nguyên tác

絕塞烏蠻北,
孤城白帝邊。
飄零仍百里,
消渴已三年。
雄劍鳴開匣,
群書滿系船。
亂離心不展,
衰謝日蕭然。
筋力妻孥問,
菁華歲月遷。
登臨多物色,
陶冶賴詩篇。
峽束滄江起,
岩排石樹圓。
拂雲霾楚氣,
朝海蹴吳天。
煮井為鹽速,
燒畬度地偏。
有時驚疊嶂,
何處覓平川。
鸂鶒雙雙舞,
獼猿壘壘懸。
碧蘿長似帶,
錦石小如錢。
春草何曾歇,
寒花亦可憐。
獵人吹戍火,
野店引山泉。
喚起搔頭急,
扶行幾屐穿。
兩京猶薄產,
四海絕隨肩。
幕府初交辟,
郎官幸備員。
瓜時猶旅寓,
萍泛苦夤緣。
藥餌虛狼藉,
秋風灑靜便。
開襟驅瘴癘,
明目掃雲煙。
高宴諸侯禮,
佳人上客前。
哀箏傷老大,
華屋豔神仙。
南內開元曲,
常時弟子傳。
法歌聲變轉,
滿座涕潺湲。
吊影夔州僻,
回腸杜曲煎。
即今龍廄水,
莫帶犬戎膻。
耿賈扶王室,
蕭曹拱禦筵。
乘威滅蜂蠆,
戮力效鷹鸇。
舊物森猶在,
凶徒惡未悛。
國須行戰伐,
人憶止戈鋋。
奴僕何知禮,
恩榮錯與權。
胡星一彗孛,
黔首遂拘攣。
哀痛絲綸切,
煩苛法令蠲。
業成陳始王,
兆喜出於畋。
宮禁經綸密,
臺階翊戴全。
熊羆載呂望,
鴻雁美周宣。
側聽中興主,
長吟不世賢。
音徽一柱數,
道裏下牢千。
鄭李光時論,
文章並我先。
陰何尚清省,
沈宋欻聯翩。
律比昆侖竹,
音知燥濕弦。
風流俱善價,
愜當久忘筌。
置驛常如此,
登龍蓋有焉。
雖云隔禮數,
不敢墜周旋。
高視收人表,
虛心味道玄。
馬來皆汗血,
鶴唳必青田。
羽翼商山起,
蓬萊漢閣連。
管甯紗帽淨,
江令錦袍鮮。
東郡時題壁,
南湖日扣舷。
遠遊淩絕境,
佳句染華箋。
每欲孤飛去,
徒為百慮牽。
生涯已寥落,
國步乃迍邅。
衾枕成蕪沒,
池塘作棄捐。
別離憂怛怛,
伏臘涕漣漣。
露菊班豐鎬,
秋蔬影澗瀍。
共誰論昔事,
幾處有新阡。
富貴空回首,
喧爭懶著鞭。
兵戈塵漠漠,
江漢月娟娟。
局促看秋燕,
蕭疏聽晚蟬。
雕蟲蒙記憶,
烹鯉問沈綿。
卜羨君平杖,
偷存子敬氈。
囊虛把釵釧,
米盡坼花鈿。
甘子陰涼葉,
茅齋八九椽。
陣圖沙北岸,
市暨瀼西巔。
羈絆心常折,
棲遲病即痊。
紫收岷嶺芋,
白種陸池蓮。
色好梨勝頰,
穰多栗過拳。
敕廚唯一味,
求飽或三鱣。
兒去看魚笱,
人來坐馬韉。
縛柴門窄窄,
通竹溜涓涓。
塹抵公畦棱,
村依野廟壖。
缺籬將棘拒,
倒石賴藤纏。
借問頻朝謁,
何如穩醉眠。
誰云行不逮,
自覺坐能堅。
霧雨銀章澀,
馨香粉署妍。
紫鸞無近遠,
黃雀任翩翾。
困學違從眾,
明公各勉旃。
聲華夾宸極,
早晚到星躔。
懇諫留匡鼎,
諸儒引服虔。
不逢輸鯁直,
會是正陶甄。
宵旰憂虞軫,
黎元疾苦駢。
雲臺終日畫,
青簡為誰編。
行路難何有,
招尋興已專。
由來具飛楫,
暫擬控鳴弦。
身許雙峰寺,
門求七祖禪。
落帆追宿昔,
衣褐向真詮。
安石名高晉,
昭王客赴燕。
途中非阮籍,
查上似張騫。
披拂雲寧在,
淹留景不延。
風期終破浪,
水怪莫飛涎。
他日辭神女,
傷春怯杜鵑。
淡交隨聚散,
澤國繞迴旋。
本自依迦葉,
何曾藉偓佺。
爐峰生轉盼,
橘井尚高褰。
東走窮歸鶴,
南征盡跕鳶。
晚聞多妙教,
卒踐塞前愆。
顧凱丹青列,
頭陀琬琰鐫。
眾香深黯黯,
幾地肅芊芊。
勇猛為心極,
清羸任體孱。
金篦空刮眼,
鏡象未離銓。

Phiên âm

Tuyệt tái Ô Man[1] bắc,
Cô thành Bạch Đế[2] biên.
Phiêu linh nhưng bách lý,
Tiêu khát dĩ tam niên.
Hùng kiếm minh khai hạp,
Quần thư mãn hệ thuyền.
Loạn ly tâm bất triển,
Suy tạ nhật tiêu nhiên.
Cân lực thê noa vấn,
Tinh hoa tuế nguyệt thiên.
Đăng lâm đa vật sắc,
Đào dã lại thi thiên.
Giáp thúc thương giang khởi,
Nham bài thạch thụ viên.
Phất vân mai Sở khí,
Triêu hải xúc Ngô thiên.
Chử tỉnh vi diêm tốc,
Thiêu dư độ địa thiên.
Hữu thì kinh điệp chướng,
Hà xứ mịch bình xuyên.
Khê sắc song song vũ,
Di viên luỹ luỹ huyền.
Bích la trường tự đới,
Cẩm thạch tiểu như tiền.
Xuân thảo hà tằng hiết,
Hàn hoa diệc khả liên.
Liệp nhân xuy thú hoả,
Dã điếm dẫn sơn tuyền.
Hoán khởi tao đầu cấp,
Phù hành kỷ kịch xuyên.
Lưỡng kinh do bạc sản,
Tứ hải tuyệt tuỳ kiên.
Mạc phủ sơ giao tịch,
Lang quan hạnh bị viên.
Qua thì do lữ ngụ,
Bình phiếm khổ di duyên.
Dược nhị hư lang tạ,
Thu phong sái tĩnh tiên.
Khai sam khu chướng lệ,
Minh mục tảo vân yên.
Cao yến chư hầu lễ,
Giai nhân thượng khách tiền.
Ai tranh thương lão đại,
Hoa ốc diễm thần tiên[3].
Nam Nội[4] Khai Nguyên khúc,
Thường thì đệ tử truyền.
Pháp ca thanh biến chuyển,
Mãn toà thế sàn viên[5].
Điếu ảnh Quỳ Châu tích,
Hồi trường Đỗ Khúc[6] tiên.
Tức kim Long Cứu[7] thuỷ,
Mạc đới Khuyển Nhung[8] thiên.
Cảnh[9], Nghị[10] phù vương thất,
Tiêu, Tào[11] củng ngự diên.
Thừa uy diệt phong sái,
Lục lực hiệu ưng chiên.
Cựu vật sâm do tại,
Hung đồ ác vị thuân.
Quốc tu hành chiến phạt,
Nhân ức chỉ qua thiên.
Nô bộc hà tri lễ,
Nhân vinh thố dữ quyền.
Hồ tinh nhất tuệ bột,
Kiềm thủ toại câu luyên.
Ai thống ti luân thiết,
Phiền hà pháp lệnh quyên.
Nghiệp thành trần thuỷ vượng,
Triệu hỉ xuất ư điền[12].
Cung cấm kinh luân mật,
Đài giai dực đới tuyền.
Hùng bi tải Lã Vọng[13],
Hồng nhạn mỹ Chu Tuyên[14].
Trắc thính trung hưng chủ,
Trường ngâm[15] bất thế hiền.
Âm huy Nhất Trụ[16] số,
Đạo lý Hạ Lao[17] thiên.
Trịnh, Lý[18] quang thì luận,
Văn chương tính ngã tiên.
Âm[19], Hà[20] thượng thanh tỉnh,
Thẩm[21], Tống[22] hốt liên phiên.
Luật tỉ Côn Luân trúc[23],
Âm tri táo thấp huyền.
Phong lưu câu hỉ giá.
Khiếp đương cửu vong thuyên.
Trí dịch[24] thường như thử,
Đăng long[25] cái hữu yên.
Tuy vân cách lễ số,
Bất cảm truỵ chu triền.
Cao thị thu nhân biểu,
Hư tâm vị đạo huyền.
Mã lai giai hãn huyết,
Hạc lệ tất thanh điền.
Vũ dực Thương Sơn khởi,
Bồng Lai Hán các liên.
Quản Ninh[26] sa mạo tịnh,
Giang lệnh[27] cẩm bào tiên.
Đông quận[28] thì đề bích,
Nam hồ[29] nhật khấu huyền.
Viễn du lăng tuyệt cảnh,
Giai cú nhiễm hoa tiên.
Mỗi dục cô phi khứ,
Đồ vi bách lự khiên.
Sinh nhai dĩ liêu lạc,
Quốc bộ nãi truân chiên.
Khâm chẩm thành vu một,
Trì đường tác khí quyên[30].
Biệt ly ưu đát đát,
Phục lạp thế liên liên.
Lộ cúc ban Phong Cảo[31],
Thu sơ ảnh Giản Triền[32].
Cộng thuỳ luận tích sự,
Kỷ xứ hữu tân thiên.
Phú quý không hồi thủ,
Huyên tranh lãn trước tiên.
Binh qua trần mạc mạc,
Giang Hán nguyệt quyên quyên.
Cục xúc khan thu yến,
Tiêu sơ thính vãn thiền.
Điêu trùng[33] mông ký ức,
Phanh lý[34] vấn trầm miên.
Bốc tiễn Quân Bình[35] trượng,
Thâu tồn Tử Kính[36] chiên.
Nang hư bả thoa xuyến,
Mễ tận sách hoa điền.
Cam tử âm lương diệp,
Mao trai bát cửu duyên.
Trận đồ Sa bắc ngạn,
Thị kỵ Nhương Tây điên[37].
Ky bạn tâm thường chiết,
Thê trì bệnh tức thuyên.
Tử thụ Mân lĩnh dụ,
Bạch chủng lục trì liên.
Sắc hảo lê thắng giáp,
Nhương đa lật quá quyền.
Sắc trù duy nhất vị,
Cầu bão hoặc tam chiên[38].
Nhi khứ khan ngư cú,
Nhân lai toạ mã tiên.
Phọc sài môn trách trách,
Thông trúc lựu quyên quyên.
Tiệm để công huề lắng[39],
Thôn y dã miếu diên.
Khuyết ly tương cức cự[40],
Đảo thạch lại đằng triền.
Tá vấn tần triều yết,
Hà như ẩn tuý miên.
Thuỳ vân hành bất đãi,
Tự giác toạ năng kiên.
Vụ vũ ngân chương sáp,
Hinh hương phấn thự nghiên.
Tử loan vô cận viễn,
Hoàng tước nhiệm phiên huyên.
Khốn học[41] vi tòng chúng,
Minh công các miễn chiên.
Thanh hoa giáp thần cực,
Tảo vãn đáo tinh triền.
Khẩn gián lưu khuông đỉnh,
Chư nho dẫn phục kiền.
Bất phùng thâu ngạnh trực,
Hội thị chính đào chân.
Tiêu cán ưu nghiêu chẩn,
Lê nguyên tật khổ biền.
Vân đài chung nhật hoạ,
Thanh giản vị thuỳ biên.
Hành lộ nan khả hữu,
Chiêu tầm hứng dĩ truyền.
Do lai câu phi tiếp,
Tiệm nghĩ khống minh huyền.
Thân hứa Song Phong[42] tự,
Môn cầu thất tổ thiền[43].
Lạc phàm truy túc tích,
Y hạt hướng chân thuyên.
An Thạch[44] danh cao Tấn,
Chiêu vương[45] khách phó Yên.
Đồ trung phi Nguyễn Tịch[46],
Tra thượng tự Trương Khiên[47].
Phi phất vân ninh tại,
Yêm lưu cảnh bất diên.
Phong kì chung phá lãng,
Thuỷ quái mạc phi diên.
Tha nhật từ Thần Nữ,
Thương xuân khiếp đỗ quyên.
Đạm giao tuỳ tụ tán,
Trạch quốc nhiễu hồi triền.
Bản tự y Ca Diếp[48],
Hà tằng tạ Ốc Thuyên[49].
Lư phong[50] sinh chuyển phán,
Quất tỉnh[51] thượng cao khiên.
Đông tẩu cùng quy hạc,
Nam chinh tận diếp diên[52].
Vãn văn đa diệu giáo,
Thốt tiễn tắc tiền khiên.
Cố Khải[53] đan thanh liệt,
Đầu đà[54] uyển diễm tuyên.
Chúng hương thâm ám ám,
Kỷ địa[55] túc thiên thiên.
Dũng mãnh vi tâm cực,
Thanh luy nhiệm thể sàn.
Kim bề không quát nhãn[56],
Kính tượng vị ly thuyên[57].

Dịch nghĩa

Ở nơi biên giới cùng cực bắc của vùng Ô Man,
Và cũng là bên lề thành Bạch Đế trơ vơ.
Lưu lạc hơn cả trăm dặm,
Bị bệnh tiểu đường đã ba năm rồi.
Gươm thiêng ra khỏi bao còn vang tiếng mạnh,
Sách để đầy nơi con thuyền cột bến.
Loạn ly lòng chẳng khuây,
Mòn mỏi ngày càng buồn.
Vợ con hỏi thăm sức khoẻ mình,
Cái tinh anh giảm dần theo ngày tháng.
Lên cao chơi càng nhiều cảnh đẹp,
Sửa tính nhờ vào bài thơ.
Kẽm thu hẹp lại là khởi đầu cho sông trong,
Sườn núi phơi khóm tường vi (thạch nam) tròn vạnh.
Mây sớm bay mang hơi vùng Sở,
Biển chiều vượt trời Ngô.
Đun nước giếng để chóng có muối,
Đốt nương để có miếng đất nhỏ.
Có lúc sợ hãi vì đồi núi che lấp,
Nơi nào mà thấy được dòng sông phẳng lặng.
Cặp khê sắc cùng múa đôi,
Bày khỉ vượn đeo lủng lẳng.
Dây leo xanh dài như giải áo,
Đá sỏi xanh nhỏ như đồng tiền.
Cỏ non sao lại tàn úa,
Hoa bị lạnh thật cũng đáng thương.
Kẻ đi săn đốt lửa canh,
Quán quê cạnh suối núi.
Gọi dậy vội búi tóc,
Dìu đi khiến bao lần dép bị tụt.
Hai kinh tài sản teo lại,
Bốn bể không vai gánh vác.
Trong cơ quan mới quen thì bị lánh xa,
Làm quan may lắm được vô trong nhóm cho đủ số.
Lúc giao ban coi như ở tạm,
Bèo bọt khổ vì phải chạy kiếm việc.
Thuốc thang bỏ bừa bãi,
Gió thu thổi hiu hiu.
Cởi áo để xua khí độc,
Mở to mắt để quét quang mây khói.
Tiệc lớn là lễ cho chư hầu,
Người đẹp trước cả khách quý.
Tiếng đàn ai oán làm mủi lòng người già,
Phòng ốc đẹp dành cho thần tiên.
Cung Nam Nội, khúc hát thời Khai Nguyên,
Lúc thường truyền trong đám học trò,
Bắt chước điệu hát theo lời đã đổi,
Cả phòng nước mắt tràn trề.
Bóng cô đơn nơi Quỳ Châu vắng vẻ,
Lòng nôn nóng đi về Đỗ Khúc.
Tới nay tại nước ngay cửa Long Cứu,
Chớ để vương mùi hôi Khuyển Nhung.
Cảnh, Giả phục vụ vua,
Tiêu, Tào chầu bên tiệc vua.
Nhờ uy vua để dẹp bọn ong, bò cạp,
Xé sác bắt chước chim ưng chim diều hâu.
Vật cũ còn đầy đủ,
Mà cái ác của bọn dữ không giảm.
Nhà nước thì theo đuổi mãi chinh chiến,
Trong khi nhân dân mong hoà bình.
Tôi tớ làm sao mà biết được lễ nghi,
Hưởng ơn vua dễ sinh sai lầm lộng quyền.
Khi sao chổi xuất hiện,
Đầu đen (nhân dân) chịu cảnh áp bức.
Đau buồn như dây tơ cột,
Rầy rà được pháp lệnh giải tan.
Sự nghiệp thành đạt trước tiên trình nơi vua,
Điềm lành phát từ vùng ruộng.
Nơi cung cấm làm việc kín đáo,
Dưới thềm vua một lòng giúp sức.
Báo beo như Lã Vọng,
Chim hồng chim nhạn làm vẻ vang Chu Tuyên Vương.
Nghe đồn vị chúa trùng hưng,
Ngâm dài thật là người hiền hiếm có.
Vài tin tức từ Nhất Trụ,
Đường tới Hạ Lao dài kể cả ngàn.
Cùng với Trịnh, Lý bàn về lúc thái bình,
Văn chương của hai ông đều hơn tôi.
Như Âm, Hà còn trong sáng,
Thẩm, Tống bỗng bùng lên.
Về luật có thể coi như trúc nơi Côn Lôn,
Về âm nghe như lời thăm hỏi chí tình từ dây đàn.
Tính chân thật luôn được đánh giá cao,
Được việc rồi thường quên nơm.
Thay ngựa thường như thế,
Leo rồng há vậy sao.
Tuy rằng xa cách lễ tiết,
Nhưng nào dám bỏ không chu toàn.
Ngẩng nhìn cao để thu cái tốt của con người,
Giữ lòng trống để thấy cái mùi huyền bí của đạo.
Những ngựa tới với mình đều là giống mồ hôi máu,
Hạc kêu tất là ở nơi cánh đồng xanh.
Tung cánh từ vùng Thương Sơn,
Vụt tới cung Bồng Lai có gác của vua.
Mũ the của Quản Ninh sạch sẽ,
Áo gấm của Giang lệnh mới tinh.
Khi ở Đông quận có thơ đề trên tường,
Nơi Nam hồ ngày ngày gõ mạn thuyền.
Đi chơi xa tới những vùng cảnh đẹp,
Các câu thơ hay trải đầy trên trang giấy hoa.
Mỗi khi muốn tung bay đi,
Đều là vị trăm mối lo thúc đẩy.
Cách kiếm sống đã lận đận,
Vận nước lại càng chìm nổi.
Áo với gối cứ trùm kín mít vì bệnh,
Chăm làm nhà đào ao để bớt lo nghĩ.
Biệt ly lo ngay ngáy,
Ngày đông tháng hè khóc sướt mướt.
Hoa cúc thấm sương khiến có vằn như vùng Phong Cảo,
Rau mùa thu soi bóng trên sông Giản Triền.
Cùng ai mà bàn chuyện xưa,
Nơi nào là nơi có mả mới.
Cảnh phú quý quay đầu lại nhìn thấy trống không,
Ồn ào lười quất ngựa tranh đi trước.
Bụi chiến tranh mù cả trời,
Trăng nơi Giang Hán vằng vặc.
Thấp thỏm trông chim én mùa thu,
Văng vẳng nghe tiếng ve chiều.
Gọt dũa phải đào sâu vào ký ức,
Nấu cá hỏi thăm kẻ đang nằm bệnh.
Coi bói ham được cái gậy của Quân Bình,
Ăn trộm còn để lại cái mền của Tử Kính.
Túi rỗng mà đeo thoa xuyến,
Gạo hết, đồ trang sức cũng tiêu tan.
Cây cam bóng lá mát,
Nhà tranh tám chín kèo.
Trận được mưu đặt ở bãi Sa bắc,
Chợ họp ở đỉnh Nhương Tây.
Ở trọ lòng thường tan vỡ,
Nấn ná bệnh có giảm bớt.
Đỉnh núi đào khoai đỏ,
Ao cạn trồng sen trắng.
Sắc đẹp, trái lê hơn gò má,
Phân tốt, trái lật to hơn nắm tay.
Trong bếp chỉ có một vị,
Cầu no dù chỉ có con cá thiện dài ba tấc.
Con trai đi coi đơm cá,
Khách tới thăm cứ ngồi trên yên ngựa.
Gò bó trong cửa sài chật hẹp,
Thoáng thông dòng trúc dạt dào.
Ruộng nhà nước được bờ hào ngăn chặn,
Thôn ngay kề vạt đất của miếu hoang.
Dậu trống lấy cây gai lấp.
Đá lăn nhờ dây leo giữ.
Thử hỏi nhiều lần chầu vua,
Sao như kẻ ngủ say một xó.
Ai nói đi không kịp,
Tự biết thì ngồi có thể vững.
Mưa mù làm mờ đai bạc,
Hương thơm làm đẹp nhà quan.
Xa gần không có chim loan tím,
Chim vàng anh bay không ngớt.
Gặp cảnh cùng khổn mà biết được làm xa cách bạn bè,
Các ông đều cố gắng vậy thay.
Danh văn chương gần nơi sao bắc,
Sớm muộn thì cũng soi sáng như sao.
Hết lòng can ngăn để giữ vững giềng mối nước nhà,
Các nhà nho vẫn được ca ngợi cái lòng kiên quyết đó.
Không chịu tiếp thu những lời nói thẳng,
Đó chính là cái để rèn đúc mình.
Sớm tối lo ngay ngáy,
Dân đen cứ đeo mãi khổ tật.
Đài mây suốt ngày vẽ,
Tre xanh vì ai mà ghi chép.
Sao có đường đi khó,
Mời gọi hứng đã truyền đi.
Vì cớ cái mái chèo bay sẵn có,
Tạm bắt chước ngưng cái dây neo kêu.
Thân đã hứa nơi chùa Song Phong,
Cửa chùa đang đi tìm ông tổ thứ bảy cho phái thiền.
Cánh buồm lạc nẻo nghĩ đến thời xưa,
Áo vải thô đi tìm chân lý.
Ông Trịnh Thẩm có được cái tác phong cao vời của An Thạch đời Tấn,
Còn Lý Chi Phương có được cái đẹp của Chiêu vương cai quản vùng Yên.
Giữa đường mình chẳng phải là Nguyễn Tịch,
Trên bè thì mình lại như Trương Khiên.
Phủi phất thì mây lẻ nào tụ,
Ngưng đọng thì cảnh chẳng kéo dài.
Cuối cùng gió cũng tung sóng,
Chớ lấy làm lạ về việc nước làm toé bọt.
Ngày trước rời núi Thần Nữ,
Nhớ xuân mà chim đỗ quyên e dè (nên trốn lủi),
Giao thiệp nhạt nhẽo thì chúng bạn xa cách,
Vùng ngập nước này cứ vòng vo mãi.
Gốc vốn nương theo Ca Diếp,
Thế mà sao còn theo Ốc Thuyên nữa.
Ngọn núi Lư kia sinh ra trong chớp mắt.
Xuống giếng quất còn phải vén cao quần.
Chạy về đông như chim hạc lỡ đường,
Xuống nam đánh giặc tới tận vùng có con vịt bì bõm.
Chiều nghe nhiều lời dạy thâm thuý,
Bỗng thấy lỗi lầm ngày trước tan biến ngay.
Tranh vẽ của Cố Khải Chi như đã chỉ rõ cho thấy,
Vẻ từ bi của vị đầu đà như được hiện rõ ra.
Hương thơm dày mù mịt,
Chốn nào cung kính lâng lâng.
Mạnh nhất là ở nơi tinh thần,
Điểm yếu là ở cơ thể nhu nhược.
Móc bằng kim loại không làm sáng mắt,
Xét cái hình trong gương tức là chưa xa rời cái chứa đựng nó.

Bản dịch của Phạm Doanh

Ở cực bắc Ô Man hoang dã,
Ngay bên thành Bạch Đế cô đơn.
Lênh đênh từng vượt dặm ngàn,
Cơn bệnh tiêu khát đã tròn ba năm.
Gươm thiêng kêu nhăm nhăm khỏi vỏ,
Sách bày bừa thuyền đỗ bên sông.
Loạn ly lòng rối bòng bong,
Đau buồn ngày tháng long đong tàn dần.
Vợ con cứ hỏi gân với sức,
Cái tốt lành giảm súc tuổi trời.
Lên rừng lắm cảnh xanh tươi,
Luyện tính phó mặc để bài thơ ra.
Kẽm hẹp chính chỗ cho sông chảy,
Sườn non có những dãy hoa tròn.
Hơi Sở đượm đám mây tuôn,
Biển chiều như cuốn cả vòm trời Ngô.
Nung giếng để muối thu nhanh chóng,
Đốt rừng mong thêm ruộng đất trồng.
Núi non bao dải trập trùng,
Nơi nào là thấy dải sông phẳng lì.
Chim khê sắc múa đi có cặp,
Khỉ vượn kia tới tấp chuyền tung.
Dây xanh giống giải cột lưng,
Đá sỏi lóng lánh tưởng đồng tiền trôi.
Sao mà cỏ xuân tươi lại hết,
Hoa lạnh kia cũng thật đáng thương.
Thợ săn đốt lửa trong rừng,
Căn chòi bên núi một dòng nước trôi.
Đánh thức dậy vội cài tóc gấp,
Vịn cho đi guốc vấp mấy lần.
Hai kinh của cải tàn dần,
Bốn biển thôi hết người cần đi theo.
Nơi cửa công vừa chào đã né,
Được vừa may đủ số làm quan.
Đất khách lỡ lúc làm ăn,
Khổ vì nhờ vả cái thân bọt bèo.
Thuốc thang cứ phơi treo khắp chốn,
Nhờ gió thu thổi đến cho khô.
Cởi áo xua khí độc ra,
Cố giương đôi mắt để mà quét mây.
Lễ chư hầu có bầy tiệc lớn,
Thêm người đẹp xuất hiện trước bàn.
Đàn tranh già lão thấy buồn,
Nhà vàng lộng lẫy người tiên dạo hoài.
Khúc Khai Nguyên vang nơi Nam Nội,
Luôn luôn được kẻ nối truyền đi.
Theo bài âm lại khác xa,
Khiến cho bàn tiệc lệ sa tràn trề.
Lẻ bóng nơi châu Quỳ xa lắc,
Lại thêm ruột Đỗ Khúc rối bong.
Giờ này Long Cứu, cửa sông,
Xin chớ để bọn Khuyển Nhung vấy bùn.
Cảnh, Nghị sức đã dồn giúp chúa,
Tiêu, Tào cũng thường bữa hầu ăn.
Thừa uy diệt bọn hung tàn,
Cùng nhau góp sức như đàn chim ưng.
Vật cũ vẫn cứ từng còn đó,
Mà bọn gian cứng cổ không chừa.
Nước nhà chinh chiến từ xưa,
Nhân dân nhớ thuở binh qua không dùng.
Bọn người dưới nào thông luật pháp,
Kẻ làm quan dễ vấp lạm quyền.
Một khi sao chổi hiện lên,
Dân đen cam chịu phận hèn mà thôi.
Bao thống thiết là lời vua nói,
Bỏ những điều gây rối cho dân.
Vua đầu sự nghiệp dựng lên,
Điềm vui xuất hiện ở miền ruộng khơi.
Trong cung vua việc thời răm rắp,
Các bộ đều theo phép thi hành.
Phò vua, Lã Vọng hùng anh,
Chu Tuyên cũng một lòng thành theo vua.
Trộm nghe chủ mới vừa dấy nghiệp,
Tu thân dưỡng tính phép hơn người,
Nhất Trụ có chút tăm hơi,
Hạ Lao ngàn dặm xa vời thấy đâu.
Hai ông Trịnh, Lý cùng nhau bàn luận,
Văn chương thường vượt hẳn tôi đây.
Âm, Hà trong sáng bấy rầy,
Thẩm, Tống ý tứ ngày ngày vẫn soi.
Luật, trúc Côn Luân coi sao giống,
Âm, như đàn tỏ giọng thân thương.
Tài cao giá đáng ngàn vàng,
Mỗi khi được cá là thường quên nơm.
Đặt trạm cốt cũng nhằm như thế,
Thành công rồi hại sẽ tới thôi.
Tuy rằng số phận ngăn đôi,
Nhưng nào có dám bỏ rơi cho rồi.
Nhìn xa để người tài thấu đáo,
Lòng rỗng không mùi đạo thấm nhuần.
Ngựa về toàn giống tuyệt luân,
Hạc kêu ắt biết là gần cỏ non.
Nhân tài từ Thương Sơn tìm tới,
Cung Bồng Lai liền với Hán dinh.
Quản Ninh khăn lụa mới tinh,
Giang Lệnh áo gấm trên mình mởn mơ.
Tại Đông Quận đề thơ trên vách,
Ngày Nam Hồ lách cách mạn thuyền.
Xa chơi ngắm cảnh triền miên,
Câu thơ vừa ý giấy tiên chép đầy.
Mỗi khi hứng cao bay siêu thoát,
Nhưng trăm lo cột chặt lấy mình.
Cuộc đời vốn đã điêu linh,
Việc nước lại khiến tình hình thêm căng.
Lại chịu cảnh gối chăn trùm kín,
Lo nhà, ao để giãn nỗi lòng.
Biệt ly vốn đã long đong,
Nước mắt chảy suốt cả đông lẫn hè.
Sương thấm cúc, vết tì Phong Cảo,
Rau mùa thu mờ ảo Giản Triền.
Chuyện xưa ai giải nỗi niềm,
Những mả mới biết kiếm tìm nơi nao.
Giàu sang nhìn lại nào đâu có,
Cứ tranh dành thúc vó ngựa mau.
Loạn lạc bụi cuốn mịt mù,
Cả vùng Giang Hán trăng lờ mờ soi.
Thấp thỏm mùa thu coi chim yến,
Buồn chiều nghe mấy tiếng ve sầu.
Gọt thơ trí nhớ vào sâu,
Bệnh nằm mong nhận thư mầu hỏi thăm.
Gậy Quân Bình những ham, khi bói,
Tử Kính may còn cái chăn chiên.
Túi thủng mà đựng vòng chuyền,
Gạo cạn, của cải cũng liền cạn ngay.
Dưới bóng mát lá cây phủ kín,
Ngôi nhà tranh tám chín cột đòn.
Bãi bắc dấu trận vẫn còn,
Đỉnh Nhương Tây phố chợ dồn trên cao.
Cảnh chật vật lòng sao tan nát,
Nấn ná mong bệnh bớt đi dần.
Màu đỏ: đào khoai núi Mân,
Trắng thì đã có hoa sen ao bùn.
Sắc đẹp trái lê tròn hơn má,
Bón nhiều, trái lật quá nắm tay.
Nhà bếp chỉ một vị thôi,
Cá thiện ăn đủ chỉ dài ba gang.
Con vội chạy ra mương coi cá,
Người tới nhà, ngựa cứ ngồi yên.
Cửa tre cột khó mà chen,
Róc rách giữa trúc mon men một dòng.
Ngay bên hào ruộng công bát ngát,
Xóm làng dân gần sát miếu hoang.
Rào thưa, lấy cỏ gai giăng,
Lật đá xếp đề cát đằng leo cao.
Hỏi những kẻ tới chầu nhiều lượt,
Sao bằng say ngủ miết một nơi.
Ai rằng đi chẳng kịp rồi,
Biết mình thôi cứ ráng ngồi cho yên.
Mưa hơi nước làm hoen đai bạc,
Hơi thơm kia sực nức nhà quan.
Xa gần chẳng có chim loan,
Mà lũ chim sẻ huyên thiên cả vùng.
Khổ mà học tức không kịp bạn
Các ông đều may mắn hơn người.
Danh thơm gần sao bắc rồi,
Sớm muộn cũng sẽ cùng ngồi với sao
Cố khuyên can nhằm vào việc nước,
Các nhà nho vẫn được ngợi khen.
Chẳng theo lời thẳng tâu lên,
Dịp này là để luyện rèn bản thân.
Cứ lo nghĩ quên ăn mất ngủ
Lũ dân đen khốn khổ suốt đời
Đài mây suốt buổi vẽ vời,
Thẻ tre xanh lấy tên ai ghi vào.
Đường tất tả làm sao lại có,
Cố kiếm tìm, hứng đã nổi lên.
Bởi vì chèo cứ bơi luôn,
Có lần thử nghĩ tạm buông neo thòng
Thân này hẹn Song phong, chùa nọ,
Tổ thiền thứ bảy cố tìm ra.
Buồm xếp nghĩ tới chuyện xưa,
Áo sồng tìm đến để ưa cảnh thiền
Nơi nước Tấn, Tạ An lừng lẫy
Chốn đất Yên còn thấy Chiêu vương.
Chẳng phải Nguyễn Tịch giữa đường,
Nhưng trên bè nọ là Trương Khiên này.
Quét với phủi sao mây cứ dính,
Tụ đã lâu mà cảnh không lan.
Tới kì gió nổi sóng lên,
Chớ lạ thấy nước bọt phèn bay cao.
Đỉnh Thần nữ hôm nao rời khỏi,
Tiếc xuân thương cho cái đỗ quyên.
Nhạt tình tuỳ ở hợp tan,
Tại vùng nước thấp cứ lan man hoài.
Trong lòng đã theo ngài Ca Diếp,
Sao lại còn tìm gặp Ốc Thuyên.
Đỉnh Lư chớp mắt hiện liền,
Giếng Quất còn phải xắn quần mới xong.
Hạc về đông đã không còn lối,
Đi về nam tới cõi vịt ngoi.
Chiều nghe thấm thía những lời.
Bỗng thấy gột sạch lỗi thời xa xưa
Tranh Cố Khải đã đưa nét vẽ,
Dáng tôn nghiêm của vị đầu đà.
Làn hương bao phủ mịt mờ,
Nơi nào thấy đủ để mà tu thân
Cái quyết chí do tâm mình đó,
Cơ thể kia là chỗ mong manh.
Móc sắt chẳng giúp mắt tinh,
Soi gương tự thấy bóng mình chưa xa.
(Năm 767)

Trịnh Thẩm lúc này bị biếm ra vùng Giang Lăng, Lý Chi Phương từ Thổ Phồn về được cử làm thượng thư bộ lễ và sau đó là thái tử tân khách.

[1] Dân tộc ít người xưa ở vùng tây nam Trung Quốc, cũng dùng để chỉ cư chỉ của họ.
[2] Thuộc huyện Phụng Tiết, Tứ Xuyên. Thời Đông Hán, Công Tôn Thuật chiếm cứ vùng này và xưng là Bạch Đế, nên có tên. Trước là thành của huyện Ngư Phúc, sau đổi thành huyện lị. Thành ở trên núi. Thời Tam Quốc, Lưu Bị phá quân Ngô do Lục Tốn cầm đầu. Lưu Bị trú quân ở Ngư Phúc, sau chết ở Vĩnh An cung, thuộc thành này.
[3] Ám chỉ Dương Quý Phi.
[4] Tức cung Hưng Khánh đời Đường.
[5] Tại bữa tiệc do đô đốc Bá trung thừa đãi, Đỗ Phủ có được nghe Lý Tiên Nô, một người trong ban nhạc Lê viên.
[6] Về phía đông Phàn Xuyên, Vi Khúc mười dặm có hai vùng Nam Đỗ, và Bắc Đỗ. Khi nói Đỗ, tức là chỉ Nam Đỗ, khi nêu Đỗ Khúc tức là chỉ Bắc Đỗ.
[7] Còn có tên là cửa Uyển Mã, sông Vị chảy vào trong cửa này.
[8] Rợ Khuyển Nhung được vua Đường cầu viện và lưu giữ nơi kinh đô.
[9] Cảnh Thọ Xương 耿壽昌.
[10] Giả Nghị.
[11] Tiêu Hà, Tào Tham, hai người phụ tá cho Hán Cao Tổ.
[12] Túc Tông tức Lý Hanh 李亨 (711-762), con thứ ba của Đường Huyền Tông, lên ngôi năm 756 ở Linh Vũ.
[13] Lã Thượng hay Khương Tử Nha, người giúp những vua đầu đời Chu.
[14] Chu Tuyên Vương, đế hiệu của Cơ Tịnh, người có công trùng hưng cơ nghiệp nhà Chu.
[15] Học theo thơ Kê Khang, câu "Vĩnh khiếu trường ngâm, Di tính dưỡng thọ" 永嘯長吟,頤性養壽.
[16] Chỉ Giang Lăng, thuộc huyện Nghi Xương, Hồ Bắc, nơi Trịnh Thẩm ở.
[17] Chỉ Di Lăng thuộc huyện Tiềm Giang, Hồ Bắc, nơi Lý Chi Phương ở. Vùng Sở có Hạ Lao và Thượng Lao.
[18] Trịnh Thẩm và Lý Chi Phương.
[19] Âm Khanh tự Tử Kiên, thời Nam triều thường được các vị vua thời đó yêu thích thơ năm chữ của ông.
[20] Hà Tốn, một nhà thơ nước Lương thời Nam triều.
[21] Thẩm Ước (441-513), là văn nhân thời Nam Bắc triều.
[22] Tống Ngọc người nước Sở cuối thời Chiến Quốc.
[23] Sáo trúc.
[24] Thời xưa việc di chuyển của quan chức bằng ngựa được các trạm để thay ngựa mới hầu di chuyển cho nhanh.
[25] Vua thành công.
[26] Người đời Tam Quốc, sau được vua Nguỵ vời ra làm quan, nhưng không nhận.
[27] Người thời Nam Bắc triều, hiệu Tổng Trì, giỏi thơ văn, làm quan hai triều Lương và Trần, đều được vua sủng ái. Ông có bài phú Sơn thuỷ nạp bào 山水衲袍 (Nước non áo vá).
[28] Tức Di Lăng, phía đông Quỳ Châu.
[29] Giang Lăng có Hồ Đình.
[30] Nguyên chú: "Bình sinh đa bệnh, bốc trúc khiển hoài" 平生多病, 卜築 遣懷 (Trong đời lắm bệnh, chọn chỗ dựng nhà cốt tiêu sầu).
[31] Kinh đô cũ của nhà Chu, nay thuộc Tây An, Thiểm Tây.
[32] Xuất phát từ huyện Mạnh Tân, Hà Nam, chảy qua huyện Lạc Dương rồi đổ vào sông Lạc.
[33] Trạm trổ con sâu, chỉ công việc sáng tác thơ văn.
[34] Chỉ thư từ, lấy ý từ bài thơ cổ:
Khách tòng viễn phương lai,
Di ngã song lý ngư.
Hô nhi phanh lý ngư,
Trung hữu xích tố thư.
客從遠方來,
遺我兼鯉魚。
呼兒烹鯉魚,
中有尺 素書。
(Khách từ nơi xa tới,
Cho ta cặp cá chép.
Gọi con mổ cá nấu,
Trong có tấc giấy thư.)

[35] Tự của Nghiêm Tuân, người đời Hán sống ở Thành Đô, có tài nhưng lấy nghề bói toán để sinh sống, ông thường treo trăm đồng tiền ở đầu cây gậy.
[36] Hiệu của Vương Hiến Chi 王獻之, con thứ bảy của Hy Chi 羲之. Thanh chiên (cái mền xanh) xuất từ điển tích của Vương Hiến Chi, nổi tiếng với chuyện ông nói với tên trộm ban đêm vào nhà, ông thản nhiên bảo "Ngươi lấy gì cũng được, nhưng chừa cái mền xanh, đó là cái gia tài nhà ta truyền lại".
[37] Nguyên chú: "Dân trong kẽm thấy nơi thị tứ gọi là thị kỵ, nơi thành thị".
[38] Giống lươn, trạch, một loại cá rẻ tiền, ý nói ăn uống đạm bạc.
[39] Nguyên chú: "Huề lắng hay kỷ lắng: ở trung nguyên chỉ ruộng gần xa".
[40] Trang phục nghi lễ của quan đời Hán.
[41] Chữ trong Luận ngữ, thiên Quý thị, là cái sự hiểu biết do từng trải đời mà có, là cái học thấp nhất. Cái cao nhất là do bẩm tính, sinh ra mà biết, cái thứ hai là học được từ sách vở: "Sinh nhi tri chi, thượng dã, học nhi tri chi giả, thứ dã, khốn nhi học chi, hựu kỳ thứ dã" 生而知之,上也,學而知之者,次也。困而學之,又其次也.
[42] Tại Kỳ Châu, Hồ Bắc. Song Phong sơn có Đông Sơn tự, Tào Khê Bảo Lâm tự, sau lại cùng có Song Phong tự.
[43] Thiền tông Trung Quốc có từ đời Lương năm 526, do Bồ-đề-đạt-ma gốc người bên Tây Trúc sang truyền bá. Sau đến đời Hằng Nhẫn (tổ thứ năm) mới phân ra làm hai phái: Nam tông với Bắc tông. Thường vẫn truyền tụng câu "Thiền môn Nam (Huệ) Năng, Bắc (Thần) Tú" 禪門南能北秀.
Huệ Năng 慧能 (638-713) có nơi viết 惠能 họ khai sinh là Lô, là học trò của Hoằng Nhẫn 弘忍. Huệ Năng trước ở Tào Khê (Quảng Đông) chùa Bảo Lâm, nay là chùa Nam Hoa, đời Huyền Tông lên trụ trì tại chùa Quốc Ân và viên tịch tại đây. Ông có bài kệ nổi tiếng "Bồ đề bản vô thụ, Minh kính diệc phi đài. Bản lai vô nhất vật, Hà xứ nặc trần ai." 菩提本無樹,明鏡亦非臺。本來無一物,何處惹塵埃。 (Cây bồ đề nào có, Gương sáng đài ở đâu. Chẳng có vật nào cả, Nơi đâu bụi bám vào.) Sau Huệ Năng không thấy nói đến ai là người kế vị.
Thần Tú 神秀 (606-706) quê ở Uý Thị, Biện Châu (Hà Nam). Lý Chi Phương cũng là học trò của Hoằng Nhẫn. Sau khi Hoằng Nhẫn viên tịch, Thần Tú đang ở Kinh Châu truyền đạo, được Võ Tắc Thiên triệu về kinh sư. Chính vì thế mà sau này có tên là Bắc tông. Vì Nam tông nhận môn phái họ chính là thiền pháp tức tiệm ngộ pháp môn, nên phái Bắc tông cho thiền pháp của họ là Bắc tiệm hoặc Tiệm môn. Phái Bắc tông lập đệ tử của Thần Tú là Phổ Túc 普寂 (651-739) lên làm thất tổ. Đỗ Phủ theo về Nam tông nên mới nói thân này quay về chùa Song Phong, để tìm ra tổ thứ bảy.
[44] Tạ An (325-385) tự An Thạch 安石, người đời Tấn, ẩn cư nơi núi Đông, tới bốn mươi tuổi mới ra làm quan. Ông giúp vua đánh lại tướng nhà Tần là Bồ Kiên. Khi chỉ huy quân, ông vẫn bình tĩnh ngồi đánh cờ. Ở đây dùng để chỉ ông Trịnh Cao Giản, tức Trịnh Thẩm.
[45] Ở đây dùng để chỉ Lý Chi Phương.
[46] Tự Tự Tông 嗣宗, là một trong Trúc Lâm thất hiền. Nghe nói trong dinh có nhiều rượu, ông xin vào đó làm Bộ binh hiệu uý để có rượu uống. Sau ông lang thang sống nơi hoang dã.
[47] Tự Tử Văn 子文, người thời Tây hán. Thời Hán Vũ Đế, do quân công mà được phong tước là Bác Vọng hầu, giữ chức Trung lang tướng.
[48] Vị tổ thứ mười hai bên nước Thiên Trúc.
[49] Vị tiên tương truyền sống bằng trái thông. Người lông dài đến cả tấc, có thể chạy bộ đuổi kịp ngựa.
[50] Lô phong 爐峰 hay Hương Lô phong 香爐峰 tại huyện Cửu Giang, Giang Tây, phía bắc Lư sơn 廬山. Đỉnh cao vút lên trên không, hình trạng giống như cái đỉnh hương, hơi bay toả ra như khói trong lò. Dưới núi có thác, đỉnh có tảng đá lớn giống hình người, do đó lại còn mang tên Thạch Nhân phong 石人峰.
[51] Tại huyện Sâm, Hồ Nam. Theo Thần tiên truyện 神仙傳, Tô Đam 蘇耽 có căn dặn bà mẹ trước khi thành tiên: Sang năm thiên hạ bị nạn dịch, nước giếng trong sân, cây quất bên hè, có thể dùng cứu sống được, một gầu nước giếng, lá quất một cây có thể trị liệu cho một người. Năm sau quả có dịch, xa gần đều tới xin bà mẹ thuốc trị, đều có được nước giếng mà khỏi bệnh. Sau này dùng "quất tỉnh" để chỉ phương thuốc thần hiệu.
[52] Mã Viện, một đại tướng thời Hán xâm lăng Việt Nam có nói "Tôi đóng quân ở làng phía tây Lãng Bạc, ngẩng lên nhìn đám vịt trời bay, chúng lõm bõm sa xuống nước."
[53] Cố Khải Chi 顧凱之, người đời Đông Tấn, chuyên vẽ truyền thần.
[54] Đầu đà pháp, phép tu của nhà Phật, dịch âm từ Phạn ngữ "dhù ta" chỉ tu tập theo 12 điều khổ hạnh, có nghĩa là diệt trừ.
[55] Theo nhà Phật Đại thừa bồ tát, tuỳ theo mức độ chứng ngộ mà chia ra mười cảnh giới (địa giới). Đó là: Cực hỉ, Ly cấu, Phát quang, Diệm tuệ, Cực Nan thắng, Hiện tiền, Viễn hành, Bất động, Thiện tuệ, Pháp vân.
[56] Ở đây nói đến sự giác ngộ. Thành ngữ "Kim bề quát mục" 金篦刮目 (Móc bằng kim khí làm sáng mắt) lấy từ Đại ban niết bàn kinh 大般湼槃經 (Mahaparinivana). Qua thơ Đường, có nhiều nhà thơ nói đến tài chữa mắt của nhà sư Bà-la-môn, ví dụ như Lưu Vũ Tích 劉禹錫 trong bài Tặng nhãn y Bà-la-môn tăng 贈眼醫婆羅門僧 có câu "Sư hữu kim bề thuật, Như hà vi ngã mông?" 師有金篦術,如何為發蒙 (Nhà sư có cách dùng móc kim loại, Làm sao đề chữa mắt mờ cho tôi?) Phương tiện vật chất không làm cho tâm linh sáng láng thêm để gần đạo.
[57] Tâm chưa vượt ra khỏi thể cũng như bóng mình còn nằm trong gương.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Thu nhật Quỳ phủ vịnh hoài phụng ký Trịnh giám, Lý tân khách nhất bách vận