22/05/2024 21:08Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Nam trì
南池

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 14/02/2015 12:25

 

Nguyên tác

崢嶸巴閬間,
所向盡山谷。
安知有蒼池,
萬頃浸坤軸。
呀然閬城南,
枕帶巴江腹。
芰荷入異縣,
粳稻共比屋。
皇天不無意,
美利戒止足。
高田失西成,
此物頗豐熟。
清源多眾魚,
遠岸富喬木。
獨歎楓香林,
春時好顏色。
南有漢王祠,
終朝走巫祝。
歌舞散靈衣,
荒哉舊風俗。
高堂亦明王,
魂魄猶正直。
不應空陂上,
縹緲親酒食。
淫祀自古昔,
非唯一川瀆。
干戈浩茫茫,
地僻傷極目。
平生江海興,
遭亂身局促。
駐馬問漁舟,
躊躇慰羈束。

Phiên âm

Tranh vanh Ba, Lãng gian,
Sở hướng tận sơn cốc.
An tri hữu thương trì,
Vạn khoảnh tẩm khôn trục.
Nha nhiên Lãng thành nam,
Chẩm đới Ba giang[1] phúc.
Kỵ hà nhập dị huyện,
Ngạnh đạo cộng bỉ ốc.
Hoàng thiên bất vô ý,
Mĩ lợi giới chỉ túc.
Cao điền thất tây thành,
Thử vật phả phong thục.
Thanh nguyên đa chúng ngư,
Viễn ngạn phú kiều mộc.
Độc thán phong hương lâm,
Xuân thì hảo nhan sắc.
Nam hữu Hán vương từ,
Chung triêu tẩu vu chúc.
Ca vũ tán linh y,
Hoang tai cựu phong tục.
Cao đường diệc minh vương,
Hồn phách do chính trực.
Bất ưng không bí thượng,
Phiêu diểu thân tửu thực.
Dâm tự tự cổ tích,
Phi duy nhất xuyên độc.
Can qua hạo mang mang,
Địa tích thương cực mục.
Bình sinh giang hải hưng,
Tao loạn thân cục xúc.
Trú mã vấn ngư chu,
Trù trừ uý ky thúc.

Dịch nghĩa

Địa thế nơi Ba Thục, huyện Lãng Trung thật chênh vênh,
Đi cho tới tận hang núi (Mân).
Sao mà lại có cái ao đẹp,
Vạn mẫu chiếm mặt đất.
Ô lạ chưa, phía nam thành Lãng kia,
Gối dài lên bụng sông Ba.
Sen súng từ huyện khác vào,
Lúa tám lúa tẻ cùng sống chung.
Trời cao không phải là không có ý,
Giàu đẹp hạn cỡ mức vừa đủ.
Ruộng cao mất hút ở phía tây thành,
Vật này khá được mùa.
Suối trong lắm bày cá,
Bờ xa kia nhiều cây lớn.
Chỉ khen rừng phong thơm,
Mùa xuân vẻ rạng rỡ.
Ở phía nam có đền thờ vua Hán,
Sáng ngày có người tới cúng tế.
Ca múa khiến áo lễ như nát ra,
Mê tín thay là phong tục cũ.
Trên bệ thờ còn có minh vương,
Hồn phách như còn đó.
Không chịu để bờ trống,
Rượu thịt bày ê hề.
Thờ cúng nhảm nhí có từ xưa,
Không phải chỉ một dòng chảy.
Chiến tranh vẫn tràn lan,
Đất hẹp nhìn hút mắt mà buồn.
Hứng thú nơi sông bề trong đời,
Thời loạn thân này đâm vất vả.
Dừng ngựa hỏi thăm chiếc thuyền câu,
Lòng ngần ngại cảnh ở đậu.

Bản dịch của Phạm Doanh

Vùng Ba, Lãng chênh vênh,
Hướng mãi tới hang núi.
Còn biết có ao xanh,
Vạn mẫu đất thấm lõi.
Thành Lãng, nơi phía nam,
Bụng sông Ba làm gối.
Sen súng huyện khác vào,
Nếp tẻ cùng chung bụi.
Ông trời có chủ trương,
Đẹp, lợi hạn mức tới.
Ruộng cao tít thành tây,
Cái này thu vượt trội.
Nguồn trong cá có nhiều,
Bờ xa lắm cây cối.
Chỉ thích rừng phong thơm,
Mùa xuân sắc tươi rói.
Nam có đền Hán vương,
Suốt ngày tới lễ bái.
Hát múa nát áo chầu,
Tục cũ sao bừa bãi.
Nhà cao có vua hiền,
Hồn phách vẫn đúng phải.
Chẳng để trên bệ không,
Rượu thịt bày thừa thãi.
Cúng nhăng từ thời xưa,
Không phải chỉ một lối.
Giặc giã còn miên man,
Đất hẹp mắt nhìn mỏi.
Sông bể thú sống vui,
Loạn lạc thân tất tưởi.
Dừng ngựa hỏi thuyền câu,
Nghĩ phải nhờ nên ngại.
(Năm 764)

Lời tự: “Tại Lãng Trung huyện đông nam, tức Bành đạo tướng ngư trì” 在閬中縣東南,即彭道將魚池 (Tại đông nam huyện Lãng Trung, tức ao cá của tướng đạo Bành).

[1] Còn có tên Nam giang, chảy về phía nam Tứ Xuyên sau nhập vào Gia Lăng giang.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Nam trì