04/12/2020 13:02Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Thành Nam cảm hoài trình Vĩnh Thúc
城南感怀呈永叔

Tác giả: Tô Thuấn Khâm - 蘇舜欽

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi hongha83 vào 19/12/2008 21:27

 

Nguyên tác

春陽泛野動,
春陰與天低。
遠林氣藹藹,
長道風依依。
覽物雖暫適,
感懷翻然移。
所見既可駭,
所聞良可悲。
去年水後旱,
田畝不及犁。
冬溫晚得雪,
宿麥生者稀。
前去固無望,
即日已苦饑。
老稚滿田野,
斫掘尋鳧茈。
此物近亦盡,
卷耳共所資。
昔雲能驅風,
充腹理不疑;
今乃有毒厲,
腸胃生瘡痍。
十月七八死,
當路橫其尸。
犬彘咋其骨,
烏鳶啄其皮。
胡為殘良民,
令此鳥獸肥?
天豈意如此?
泱蕩莫可知!
高位厭梁肉,
坐論攙雲霓。
豈無富人術,
使之長熙熙?
我今饑伶俜,
憫此復自思:
自濟既不暇,
將復奈爾為!
愁憤徒滿胸,
嶸宏不能齊。

Phiên âm

Xuân dương phiếm dã động,
Xuân âm dữ thiên đê.
Viễn lâm khí ái ái,
Trường đạo phong y y.
Lãm vật tuy tạm thích,
Cảm hoài phiên nhiên di.
Sở kiến ký khả hãi,
Sở văn lương khả bi.
Khứ niên thuỷ hậu hạn,
Điền mẫu bất cập lê.
Đông ôn vãn đắc tuyết,
Túc mạch sinh giả hy.
Tiền khứ cố vô vọng,
Tức nhật dĩ khổ cơ.
Lão trĩ mãn điền dã,
Chước quật tầm phù茈.
Thử vật cận diệc tận,
Quyển nhĩ cộng sở tư.
Tích vân năng khu phong,
Sung phúc lý bất nghi;
Kim nãi hữu độc lệ,
Trường vị sinh sang di.
Thập nguyệt thất bát tử,
Đương lộ hoành kỳ thi.
Khuyển trệ trách kỳ cốt,
Ô diên trác kỳ bì.
Hồ vi tàn lương dân,
Linh thử điểu thú phì?
Thiên khởi ý như thử?
Ương đãng mạc khả tri!
Cao vị yếm lương nhục,
Toạ luận sam vân nghê.
Khởi vô phú nhân thuật,
Sử chi trường hy hy?
Ngã kim cơ linh sính,
Mẫn thử phục tự tư:
Tự tế ký bất hạ,
Tương phục nại nhĩ vi!
Sầu phẫn đồ mãn hung,
Vanh hoằng bất năng tề.

Dịch nghĩa

Ánh xuân trải trên đồng rộng
Mây xuân liền với trời sà xuống đất
Mù toả cánh rừng xa
Đi trên đường, gió hiu hiu thổi
Nhìn mọi vật rất vừa ý
Nỗi cảm xúc trong lòng chợt thay đổi
Những điều trông tháy thật đáng sợ
Những điều nghe thấy thật đáng buồn
Năm ngoái sau lụt lại hạn
Ruộng đồng không cày cấy được
Cuối đông lại có tuyết
Hạt lúa mọc chẳng được bao nhiêu
Những ngày tới không còn gì để trông chờ
Trước mắt đã là đói khổ
Ngoài đồng đầy ông già và trẻ con
Đào bới tìm củ mã thầy
Củ này gần đây cũng hết
Lại ăn đến cây quyển nhĩ
Trước đây bảo ăn cấy này có thể trừ được bệnh phong
Không ngại gì cứ ăn cho đầy bụng
Nảy sinh ra bệnh
Lở loét đường ruột và dạ dày
Mười người chết đến bảy tám
Xác chết nằm trên đường
Xương bị chó lợn gặm
Da, quạ diều rỉa
Dân lành sao lại bị tàn hại như thế
Để béo cho lũ chim muông
Đâu phải là ý trời
Nên nông nỗi này biết sao
Các quan to ngán thịt béo
Ngồi bàn toàn những chuyện trời mây
Há không có cách nào làm cho dân giầu
Để họ được vui cười
Ta nay đói lại gầy
Thương đấy lại tự nghĩ
Tự lo cho mình không nổi
Làm sao mà lo cho người
Trong lòng dẫu chứa đầy buồn giận
Đỉnh núi cao không thể nào sơn bằng

Bản dịch của Hoàng Tạo

Xuân nắng đồng nhộn nhịp
Xuân râm trời thấp không
Rừng xa khí ngùn ngụt
Đường thẳm gió mênh mông
Cảnh tuy tạm thoả thích
Tình bỗng thấy chuyển rung
Mắt trông đã chột dạ
Tai nghe thêm não lòng
Năm ngoái lụt rồi hạn
Ruộng đồng cấy chửa xong
Đông ấm tuyết xuống muộn
Lúa con thưa thớt bông
Trước mắt đã đói khổ
Mai sau đành hết trông
Trẻ già mót chóc dại
Đào bới đầy ngoài đồng
Chóc dại rầy cũng hết
Rau ngổ thành món chung
Trước bảo nó trừ gió
Ăn no không ngại ngùng
Nay biết có chất độc
Sinh lở loét bên trong
Mười ưn, tám chín chết
Bên đường, thây chất chồng
Xương, chó lợn gặm thích
Da, diều quạ rỉa tung
Ai giết dân lương thiện
Nuôi béo đàn chim muông?
Lòng trời đâu muốn thế
Cao xa trông mithj mùng
Quan sang chén rượu thịt
Ngồi bàn chuyện viển vông
Há không kế no ấm
Cho dân sống thong dong
Ta đang đói thất thểu
Thấy cảnh thêm nấu nung
Lo mình còn chẳng nổi
Cứu người, thôi đừng mong
Buồn bực chất đầy ruột
Thực ngổn ngang vô cùng!
Vĩnh Thúc là tên tự của Âu Dương Tu.
Nguồn: Thơ Tống, Trương Chính giới thiệu, Nam Trân duyệt thơ, NXB Văn học, 1991

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Tô Thuấn Khâm » Thành Nam cảm hoài trình Vĩnh Thúc