11/05/2021 09:12Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Phát Tần Châu
發秦州

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 05/02/2015 09:55

 

Nguyên tác

我衰更懶拙,
生事不自謀。
無食問樂土,
無衣思南州。
漢源十月交,
天氣涼如秋。
草木未黃落,
況聞山水幽。
栗亭名更佳,
下有良田疇。
充腸多薯蕷,
崖蜜亦易求。
密竹復冬筍,
清池可方舟。
雖傷旅寓遠,
庶遂平生遊。
此邦俯要衝,
實恐人事稠。
應接非本性,
登臨未銷憂。
溪谷無異石,
塞田始微收。
豈復慰老夫,
惘然難久留。
日色隱孤戍,
烏啼滿城頭。
中宵驅車去,
飲馬寒塘流。
磊落星月高,
蒼茫雲霧浮。
大哉乾坤內,
吾道長悠悠。

Phiên âm

Ngã suy cánh lãn chuyết,
Sinh sự bất tự mưu.
Vô thực vấn lạc thổ,
Vô y tư nam châu.
Hán nguyên thập nguyệt giao,
Thiên khí lương như thu.
Thảo mộc vị hoàng lạc,
Huống văn sơn thuỷ u.
Lật Đình[1] danh cánh gia,
Hạ hữu lương điền trù.
Sung trường đa thự dự,
Nhai mật diệc dị cầu.
Mật trúc phục đông duẩn,
Thanh trì khả phương châu.
Tuy thương lữ ngụ viễn,
Già toại bình sinh du.
Thử bang phụ yếu xung,
Thực khủng nhân sự trù.
Ưng tiếp phi bản tính,
Đăng lâm vị tiêu ưu.
Khê cốc vô dị thạch,
Tái điền thuỷ vi thâu.
Khởi phục uý lão phu,
Võng nhiên nan cửu lưu.
Nhật sắc ẩn cô thú,
Ô đề mãn thành đầu.
Trung tiêu khu xa khứ,
Ẩm mã hàn đường lưu.
Lỗi lạc tinh nguyệt cao,
Thương mang vân vụ phù.
Đại tai càn khôn nội,
Ngô đạo trường du du.

Dịch nghĩa

Tôi là người kém cỏi lại vụng tính,
Cuộc sống không tự mình lo lấy được.
Không có cái để ăn nên tìm hỏi đến đất lành,
Không áo nên tìm về phương nam cho ấm áp.
Vùng đồng bằng đất Hán vào tháng mười,
Khí trời mát như vào mùa thu.
Cây cỏ chưa bị vàng úa rơi rụng,
Nên nghe cảnh núi non âm u.
Lật Đình tên đã đẹp rồi,
Dưới lại có ruộng tốt nữa.
Làm đầy bụng có nhiều củ mài,
Hốc mật cũng dễ kiếm.
Măng trúc mùa đông cũng mọc,
Ao trong có thể thả thuyền được.
Tuy buồn vì phải ở nơi xa,
Nhưng thoả mãn về điều rong chơi trong cuộc sống.
Nơi này nhòm xuống vùng quan trọng,
Mối lo thực là làm cho dân đông đúc.
Cứ vơ lấy không phải là bản tính mình,
Bước lên thì chưa giải hết nỗi lo âu.
Hang hốc không có loại đá lạ,
Ruộng nơi quan ải mới khai, thu được ít ỏi.
Sao không vỗ yên thân già,
Chán nản khó mà ở lại lâu.
Sắc trời ẩn sau đồn cô quạnh,
Đầu thành chim kêu rổn rang.
Nửa đêm rong xe đi khỏi,
Cho ngựa uống nơi ven đê lạnh.
Trăng sao rờ rỡ trên trời,
Lồng lộng mây ráng nổi.
Vĩ đại thay là bầu trời,
Mà đời ta vẫn dằng dặc sầu.

Bản dịch của Phạm Doanh

Ta hèn lại vụng tính,
Chẳng lo nổi cuộc đời.
Thiếu ăn, tìm chỗ tốt,
Không áo, tính nam xuôi.
Khí thu nghe mát rượi,
Trời vừa vào tháng mười.
Cây cỏ chưa vàng úa,
Cảnh tốt huống nghe rồi.
Lật Đình tiếng là đẹp.
Dưới có ruộng tốt tươi.
Trong rừng dễ kiếm mật,
Cứu đói có củ mài.
Trúc rậm đông mầm nẩy,
Ao trong thả thuyền trôi.
Tuy buồn nơi đất lạ,
Nhưng thoả đời rong chơi.
Nơi này chốt hiểm yếu,
Mong dân đầy đủ thôi.
Đón nhận trái với tính,
Lo còn khi tới nơi.
Hang hốc không đá quý,
Hoa mầu thật ít oi.
Lại ngại cảnh già lão,
Chán nản, náu tạm thời.
Đầu thành, ồn tiếng quạ,
Đồn vắng, ẩn sắc trời.
Nửa đêm rong xe chạy,
Ngựa uống dòng lạnh xuôi.
Trăng sao cao vời vợi,
Mênh mông mây trời trôi.
Trời đất sao rộng quá,
Đường ta dằng dặc dài.
Lời tự: “Càn Nguyên nhị niên tự Tần Châu phó Đồng Cốc huyện kỷ hành” 幹元二年自秦州赴同谷縣紀行 (Thuật lại chuyến đi vào năm Càn Nguyên thứ hai 759 từ Tần Châu tới huyện Đồng Cốc).

[1] Thuộc Thành Châu, huyện Đồng Cốc

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Phát Tần Châu