24/05/2024 01:47Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tuyên Châu Tạ Diễu lâu tiễn biệt hiệu thư thúc Vân
宣州謝眺樓餞別校書叔雲

Tác giả: Lý Bạch - 李白

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể); Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 01/06/2004 21:49

 

Nguyên tác

棄我去者,
昨日之日不可留;
亂我心者,
今日之日多煩憂。
長風萬里送秋雁,
對此可以酣高樓。
蓬萊文章建安骨,
中間小謝又清發。
俱懷逸興壯思飛,
欲上青天攬明月。
抽刀斷水水更流,
舉杯銷愁愁更愁。
人生在世不稱意,
明朝散髮弄扁舟。

Phiên âm

Khí ngã khứ giả,
Tạc nhật chi nhật bất khả lưu.
Loạn ngã tâm giả,
Kim nhật chi nhật đa phiền ưu.
Trường phong vạn lý tống thu nhạn,
Đối thử khả dĩ hàm cao lâu.
Bồng Lai[1] văn chương Kiến An cốt[2],
Trung gian Tiểu Tạ[3] hựu thanh phát.
Câu hoài dật hứng tráng tứ phi,
Dục thướng thanh thiên lãm minh nguyệt.
Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lưu,
Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu.
Nhân sinh tại thế bất xứng ý,
Minh triêu tán phát lộng biên chu.

Dịch nghĩa

Người bỏ ta đi mất,
Ngày hôm qua không thể giữ lại.
Người làm loạn tâm ta,
Ngày hôm nay thật lắm ưu phiền.
Gió thổi dài muôn dặm tiễn nhạn thu,
Trước cảnh có thể chuốc rượu say trên lầu cao.
Văn chương Bồng Lai, cốt cách Kiến An,
Trong đó có Tiểu Tạ là người cao nhã.
Lòng đầy dật hứng, tứ thơ hùng tráng bay lên,
Muốn lên đến trời xanh để hái trăng sáng.
Rút dao chém nước, nước càng chảy,
Nâng chén tiêu sầu, sầu càng sầu.
Người sống ở đời không được như ý,
Sớm mai rũ tóc xuôi thuyền bên sông.

Bản dịch của (Không rõ)

Bỏ ta đi mất
Ai mà giữ được ngày qua ngày
Làm lòng ta rối
Bao nhiêu phiền muộn chất hôm nay
Gió đưa cánh nhạn thu muôn dặm
Đối cảnh, lầu cao dốc chén say
Văn vẻ Kiến An phong cách nhã
Thanh cao nổi bật thơ ông Tạ
Lòng tràn hứng dật, tứ hùng bay
Trời xanh lên bắt vầng trăng lạ
Rút đao chém nước, nước càng trôi
Nâng chén tiêu sầu, sầu khó nguôi
Cuộc sống đời này không thoả ý
Sớm mai xoã tóc dạo thuyền thôi
(Năm 753)

Tuyên Châu nay là huyện Tuyên Thành, tỉnh An Huy. Tạ Diễu người Dương Hạ thuộc Nam Tề thời Nam Bắc triều, tự Pháp Huy, văn chương thanh tú, hoa lệ, giỏi làm thơ ngũ ngôn, từng làm thái thú Tuyên Thành. Lầu Tạ Diễu mang tên ông. Hiệu thư thúc Vân tức quan hiệu thư lang là chú của tác giả, tên Lý Vân 李雲.

[1] Tên cung đời Đường, tức là cung Đại Minh.
[2] Cốt cách của bảy danh sĩ (Kiến An thất tử) sống vào niên hiệu Kiến An đời Đông Hán: Khổng Dung, Trần Lâm, Vương Sán, Từ Cán, Nguyễn Vũ, Ưng Tích và Lưu Trinh.
[3] Chỉ Tạ Diễu. Lại có thuyết nói là Tạ Huệ Liên 謝惠連 (407-433), em của Tạ Linh Vận 謝靈運 (385-433) đời Nam Bắc triều, nổi tiếng văn hay.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Lý Bạch » Tuyên Châu Tạ Diễu lâu tiễn biệt hiệu thư thúc Vân