18/09/2019 22:36Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ nhị đoạn
焦仲卿妻-第二段

Tác giả: Khuyết danh Trung Quốc

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Hán
Đăng bởi Vanachi vào 16/11/2008 08:02

 

Nguyên tác

府吏默無聲,
再拜還入戶。
舉言謂新婦,
哽咽不能語:
「我自不驅卿,
逼迫有阿母。
卿但暫還家,
吾今且報府。
不久當歸還,
還必相迎取。
以此下心意,
慎勿違吾語。」
新婦謂府吏:
「勿復重紛紜!
往昔初陽歲,
謝家來貴門。
奉事循公姥,
進止敢自專?
晝夜勤作息,
伶俜縈苦辛。
謂言無罪過,
供養卒大恩。
仍更被驅遣,
何言複來還?
妄有繡腰襦,
葳蕤自生光。
紅羅復斗帳,
四角垂香囊。
箱帘六七十,
綠碧青絲繩。
物物各自異,
種種在其中。
人賤物亦鄙,
不足迎後人。
留待作遺施,
於今無會因。
時時為安慰,
久久莫相忘。」

雞鳴外欲曙,
新婦起嚴妝。
著我繡裌裙,
事事四五通:
足下躡絲履,
頭上玳瑁光。
腰若流紈素,
耳著明月璫。
指如削蔥根,
口如含朱丹。
纖纖作細步,
精妙世無雙。
上堂謝阿母,
母聽去不止。
「昔作女兒時,
生小出野裏,
本自無教訓,
兼愧貴家子。
受母錢帛多,
不堪母驅使。
今日還家去,
念母勞家裏。」
卻與小姑別,
淚落連珠子:
「新婦初來時,
小姑始扶床,
今日被驅遣,
小姑如我長。
勤心養公姥,
好自相扶將。
初七及下九,
嬉戲莫相忘。」
出門登車去,
涕落百餘行。

府吏馬在前,
新婦車在後,
隱隱何甸甸,
俱會大道口。
下馬入車中,
低頭共耳語:
「誓不相隔卿,
且暫還家去,
吾今且赴府。
不久當還歸,
誓天不相負。」
新婦謂府吏:
「感君區區懷。
君既若見錄,
不久望君來。
君當作磐石,
妄當作蒲葦。
蒲葦紉如絲,
磐石無轉移。
我有親父兄,
性行暴如雷,
恐不任我意,
逆以煎我懷。」
舉手長勞勞,
二情同依依。

Phiên âm

Phủ lại mặc vô thanh,
Tái bái hoàn nhập hộ.
Cử ngôn vị tân phụ[1],
Ngạnh yết bất năng ngữ:
“Ngã tự bất khu khanh,
Bức bách hữu a mẫu.
Khanh đãn tạm hoàn gia,
Ngô kim thả báo phủ[2].
Bất cửu đương quy hoàn,
Hoàn tất tương nghênh thủ.
Dĩ thử hạ tâm ý[3],
Thận vật vi ngô ngữ.”
Tân phụ vị phủ lại:
“Vật phục trùng phân vân!
Vãng tích sơ dương tuế[4],
Tạ gia lai quý môn.
Phụng sự tuần công mụ,
Tiến chỉ cảm tự chuyên?
Trú dạ cần tác tức,
Linh sính oanh khổ tân.
Vị ngôn vô tội quá,
Cung dưỡng tốt đại ân.
Nhưng cánh bị khu khiển,
Hà ngôn phục lai hoàn?
Vọng hữu tú yêu nhu[5],
Uy nhuy tự sinh quang.
Hồng la phức đấu trướng[6],
Tứ giác thuỳ hương nang.
Tương liêm[7] lục thất thập,
Lục bích thanh ty thằng.
Vật vật các tự dị,
Chủng chủng tại kỳ trung.
Nhân tiện vật diệc bỉ,
Bất túc nghênh hậu nhân[8].
Lưu đãi tác di thi,
Ư kim vô hội nhân[9].
Thì thì vị an uỷ,
Cửu cửu mạc tương vong.”

Kê minh ngoại dục thự,
Tân phụ khởi nghiêm trang[10].
Trước ngã tú giáp quần,
Sự sự tứ ngũ thông:
Túc hạ nhiếp ty lý,
Đầu thượng đại mội quang.
Yêu nhược[11] lưu hoàn tố,
Nhĩ trước minh nguyệt đương.
Chỉ như tước thông căn[12],
Khẩu như hàm chu đan[13].
Tiêm tiêm tác tế bộ,
Tinh diệu thế vô song.
Thượng đường tạ a mẫu,
Mẫu thính khứ bất chỉ.
“Tích tác nữ nhi thì,
Sinh tiểu xuất dã lý,
Bản tự vô giáo huấn,
Kiêm quý quý gia tử.
Thụ mẫu tiền bạch[14] đa,
Bất kham mẫu khu sử.
Kim nhật hoàn gia khứ,
Niệm mẫu lao gia lý.”
Khước dữ tiểu cô biệt,
Lệ lạc liên châu tử:
“Tân phụ sơ lai thì,
Tiểu cô thuỷ phù sàng[15],
Kim nhật bị khu khiển,
Tiểu cô như ngã trường.[16]
Cần tâm dưỡng công mụ,
Hảo tự tương phù tương.
Sơ thất[17] cập hạ cửu[18],
Hy hí mạc tương vong.”
Xuất môn đăng xa khứ,
Thế lạc bách dư hàng.

Phủ lại mã tại tiền,
Tân phụ xa tại hậu,
Ẩn ẩn hà điện điện[19],
Câu hội đại đạo khẩu.
Hạ mã nhập xa trung,
Đê đầu cộng nhĩ ngữ:
“Thệ bất tương cách khanh,
Thả tạm hoàn gia khứ,
Ngô kim thả phó phủ.
Bất cửu đương hoàn quy,
Thệ thiên bất tương phụ.”
Tân phụ vị phủ lại:
“Cảm quân khu khu hoài.
Quân ký nhược kiến lục,
Bất cửu vọng quân lai.
Quân đương tác bàn thạch,
Vọng đương tác bồ vi[20].
Bồ vi nhận[21] như ty,
Bàn thạch vô chuyển di.
Ngã hữu thân phụ huynh[22],
Tính hạnh bạo như lôi,
Khủng bất nhiệm ngã ý,
Nghịch dĩ tiên ngã hoài.”
Cử thủ trường lao lao,
Nhị tình đồng y y.

Bản dịch (của Bản dịch của Điệp luyến hoa)

Phủ lại đành im lặng,
Bái lạy trở về phòng.
Cất lời cùng vợ nói,
Nghẹn ngào mà chẳng xong:
“Đâu phải ta muốn bỏ,
Mẹ bức bách khó hòng.
Nàng về nhà lánh tạm,
Ta lên phủ việc công.
Ít lâu rồi trở lại,
Đón nàng trở về cùng.
Cẩn trọng, lời đừng trái,
Hãy cứ tạm an lòng.”
Vợ đáp lời phủ lại:
“Xin chớ đắn đo lâu!
Năm xưa tiết xuân tới,
Lìa nhà tới làm dâu.
Hầu hạ theo lời mẹ,
Đi đứng tự ý đâu?
Ngày đêm năng làm lụng,
Một mình giữa khổ đau.
Tự nhủ không tội lỗi,
Cung dưỡng đáp ơn sâu.
Nhưng vẫn bị xua đuổi,
Còn nói trở về sao?
Thiếp còn chiếc áo gấm,
Rạng rỡ sắc hoa thêu.
Màn lụa hồng hai lớp,
Túi thơm bốn góc treo.
Hộp gương sáu bảy chục,
Tơ thắt dải xanh màu.
Mỗi vật đều một khác,
Trong từng loại xếp đều.
Người hèn vật cũng mọn,
Không đáng tiếp người sau.
Đem cho ai cũng được,
Từ nay chẳng gặp nhau.
Lòng luôn luôn tự nhủ,
Khắc ghi đến bạc đầu.”

Gà gáy, trời sắp sáng,
Vợ sửa soạn gọn gàng.
Mặc quần lụa gấm kép,
Bốn năm việc sẵn sàng:
Chân xỏ hài tơ gấm,
Trâm đồi mồi giắt đầu.
Eo thon lụa trắng thắt,
Tai cài ngọc minh châu.
Ngón trắng như hành bóc,
Miệng đỏ tựa chu đan.
Rón rén đi từng bước,
Tinh tế khó ai bằng.
Lên nhà bái biệt mẹ,
Mẹ nghe chẳng cản ngăn.
“Ngày trước thời con gái,
Sinh trưởng nơi khó khăn.
Vốn ít được dạy dỗ,
Thẹn làm dâu nhà sang.
Mẹ đưa nhiều sính lễ,
Sai khiến lại chẳng kham.
Hôm nay về nhà cũ,
Chỉ lo mẹ nhọc thân.”
Cùng em chồng từ biệt,
Châu lệ cứ rơi tràn:
“Nhớ ngày xưa chị tới,
Em đứng tựa bên giường.
Ngày hôm nay bị đuổi,
Em đã lớn ngang bằng.
Nên lo phụng dưỡng mẹ,
Bản thân tự biết chăm.
Thất tịch cùng hạ cửu,
Vui chớ quên người thân.”
Ra cửa lên xe ngựa,
Dòng lệ chảy trăm hàng.

Ngựa phủ lại đi trước,
Xe người vợ theo sau.
Lộc cộc cùng lách cách,
Đường lớn đã ra đầu.
Xuống ngựa vào xe vợ,
Ghé tai rồi khẽ nhủ:
“Thề chẳng muốn xa đâu,
Nàng tạm về nhà ở,
Ta tới phủ ít lâu.
Sẽ đón nàng trở lại,
Quyết chẳng phụ lòng nhau.”
Vợ đáp lời phủ lại:
“Đa tạ được quan tâm.
Chàng nếu còn ghi nhớ,
Mong sớm trở lại tìm.
Chàng vững như đá tảng,
Thân thiếp như cỏ lau.
Cỏ như tơ dai dẻo,
Đá tảng vững bền lâu.
Nhưng thiếp có huynh trưởng,
Tính nóng như sấm sét.
E chẳng tin lời thiếp,
Làm trái gây khổ đau.”
Vẫy tay chào từ biệt,
Đôi tình cùng luyến lưu.
Đoạn 2 kể việc Lan Chi bị đuổi và cảnh chia tay với Trọng Khanh.


[1] Cả hai chữ chỉ có ý là vợ, không phải là vợ mới.
[2] Tới quận phủ. Có bản chép là phó phủ 赴府.
[3] Nén lòng, tự an lòng.
[4] Chỉ tiết cuối đông đầu xuân.
[5] Một loại áo ngắn thêu hoa gấm thắt quanh eo.
[6] Chiếc màn hình như cái đấu (gáo) trùm lên người khi ngủ, thịnh hành từ đời Hán đến đời Nam Bắc triều.
[7] Do chữ 奩, cái hộp gương.
[8] Người đến sau, chỉ người khác mà Trọng Khanh sẽ cưới làm vợ.
[9] Cơ hội.
[10] Trang điểm và sửa soạn gọn gàng.
[11] Có lẽ là chữ trước 著 viết nhầm.
[12] Củ hành đã bóc.
[13] Một loại đá quý màu đỏ.
[14] Tiền và lụa bạch, chỉ đồ sính lễ.
[15] Tựa vào giường, ý nói thấp ngang với giường, tức còn bé.
[16] Bốn câu "Tân phụ sơ ... như ngã trường" đại ý nói khi mới về nhà chồng, em chồng mới còn rất bé, nay đã lớn ngang bằng mình, có thể chăm sóc mẹ được. Tuy nhiên ở phần trên bài thơ có nhắc Lan Chi làm dâu mới được hai ba năm, em chồng trong thời gian đó lớn được như vậy có phần vô lý. Bốn câu này lại rất giống với bốn câu có trong bài Khí phụ từ 棄婦詞 của Cố Huống 顧況 đời Đường nên nghi ngờ có thể trong nguyên tác không có mà do người đời sau thêm vào.
[17] Ngày mùng bảy tháng bảy (thất nguyệt sơ thất), Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Thời xưa phụ nữ ngày này vào ban đêm thường tế Chức Nữ, làm lễ khất xảo.
[18] Ngày mười chín hằng tháng. Phụ nữ xưa tới ngày này thường dừng việc thêu thùa may vá rủ nhau bày tiệc rượu chơi đùa, gọi là dương hội 陽會. Ngoài ra, ngày hăm chín gọi là thượng cửu, mồng chín gọi là trung cửu.
[19] ẩn ẩn, điện điện: đều là tiếng bánh xe lăn.
[20] Cỏ bồ và lau sậy, đều là giống cỏ mọc dưới nước, thân mềm mà dai, bẻ không thể đứt, được dùng để ví như tình ái.
[21] Do chữ 韌, dẻo dai.
[22] Xem phần sau của bài thơ có thể thấy cha của Lan Chi cũng không còn, nên ở đây chỉ anh trai của nàng.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Khuyết danh Trung Quốc » Tiêu Trọng Khanh thê - Đệ nhị đoạn