25/01/2020 21:34Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Hỉ văn quan quân dĩ lâm tặc cảnh, nhị thập vận
喜聞官軍已臨賊境二十韻

Tác giả: Đỗ Phủ - 杜甫

Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi tôn tiền tử vào 18/03/2015 00:24

 

Nguyên tác

胡虜潛京縣,
官軍擁賊壕。
鼎魚猶假息,
穴蟻欲何逃。
帳殿羅玄冕,
轅門照白袍。
秦山當警蹕,
漢苑入旌旄。
路失羊腸險,
雲橫雉尾高。
五原空壁壘,
八水散風濤。
今日看天意,
遊魂貸爾曹。
乞降那更得,
尚詐莫徒勞。
元帥歸龍種,
司空握豹韜。
前軍蘇武節,
左將呂虔刀。
兵氣回飛鳥,
威聲沒巨鼇。
戈鋋開雪色,
弓矢尚秋毫。
天步艱方盡,
時和運更遭。
誰云遺毒螫,
已是沃腥臊。
睿想丹墀近,
神行羽衛牢。
花門騰絕漠,
拓羯渡臨洮。
此輩感恩至,
羸俘何足操。
鋒先衣染血,
騎突劍吹毛。
喜覺都城動,
悲憐子女號。
家家賣釵釧,
只待獻春醪。

Phiên âm

Hồ lỗ tiềm kinh huyện,
Quan quân ủng tặc hào.
Đỉnh ngư do giả tức,
Huyệt nghị dục hà đào.
Trướng điện la huyền miện[1],
Viên môn chiếu bạch bào[2].
Thái Sơn đương cảnh tất,
Hán uyển nhập tinh mao.
Lộ thất dương trường hiểm,
Vân hoành trĩ vĩ[3] cao.
Ngũ nguyên[4] không bích luỹ,
Bát thuỷ[5] tán phong đào.
Kim nhật khan thiên ý,
Du hồn thải nhĩ tào.
Khất hàng na cánh đắc,
Thượng trá mạc đồ lao.
Nguyên suý[6] quy long chủng,
Tư không[7] ác báo thao.
Tiền quân[8] Tô Vũ[9] tiết,
Tả tướng[10] Lã Kiền[11] đao.
Binh khí hồi phi điểu,
Uy thanh một cự ngao.
Qua thiên khai tuyết sắc,
Cung thỉ thượng thu hào.
Thiên bộ nan phương tận,
Thì hoà vận cánh tào.
Thuỳ vân di độc thích,
Dĩ thị ốc tanh tao.
Duệ tưởng đan bệ cận,
Thần hành vũ vệ lao.
Hoa Môn đằng tuyệt mạc,
Tháp Yết độ Lâm Thao.
Thử đồ cảm ân chí,
Luy phu hà túc thao.
Phong tiên y nhiễm huyết,
Kỵ đột kiếm xuy mao.
Hỉ giác đô thành động,
Bi lân tử nữ hào.
Gia gia mãi thoa xuyến,
Chỉ đãi hiến xuân lao.

Dịch nghĩa

Bọn gặc núp trong kinh đô,
Quan quân vây đồn giặc.
Như cá trong nồi nước sôi đang ngắc ngư,
Kiến trong lỗ muốn bò đi đâu được.
Nơi phòng có treo màn đầy những mũ đen,
Ngay cửa trại quân áo trắng chiếu sáng.
Núi Thái cũng còn nhường lối,
Vườn Hán cờ xí đi vào.
Những khúc quanh co trên đường nay mất đi,
Mây phủ ngang cao với đuôi chim trĩ.
Năm cánh đồng vắng tường luỹ,
Tám con sông tan hết sóng gió.
Ngày nay thấy rõ ý trời,
Hồn hoang tha thứ cho bọn bay.
Xin hàng làm sao mà được,
Còn chống lại sẽ không tránh được đau khổ.
Vị chỉ huy trưởng có nòi rồng,
Quan tư không nắm vững chiến thuật lẹ như báo.
Tiền quân có được cái khí tiết của Tô Vũ,
Tả tướng giống như con dao của Lữ Kiền.
Khí thế quân khiến cho chim bay phải quay lại,
Tiếng hô khiến cá sấu lớn phải lặn chìm.
Giáo mác sáng ngời mầu tuyết,
Cung tên bay mù trời như sợi tơ mùa thu.
Vận khó khăn của đất nước vừa chấm dứt,
Thời hoà bình đã đến rồi.
Ai nói đến cái nọc độc còn lại,
Đó là cái chất tanh tưởi dơ dáy.
Cái ý tưởng sáng ngời đang gần thềm đỏ,
Các binh chủng tiến nhanh và vững chắc.
Người Hoa Môn vọt lên từ vùng sa mạc xa tít,
Anh hùng vượt qua sông ở vùng Lâm Thao.
Những đoàn quân này vì mang ơn mà tới,
Những bọn tàn binh ốm yếu không bắt đủ hết sao.
Máu thấm ướt áo người lính tiên phong,
Lưỡi kiếm của quân đột kỵ còn sắc bén.
Mừng được biết rằng kinh đô đầy phấn khởi,
Nhưng cũng thương cho trai gái khóc than.
Nhà nhà đem thoa với xuyến bán,
Chỉ để lấy tiền đợi cúng cho cuộc liên hoan.

Bản dịch (của Bản dịch của Phạm Doanh)

Bọn giặc Hồ kinh đô chiếm đoạt,
Quan quân nay tiến sát bờ hào.
Cá trong nồi thở được đâu.
Kiến ở trong lỗ lối nào chạy đây.
Bộ chỉ huy bày đầy mũ mãng,
Cửa trại quân áo trắng sáng choang.
Thái Sơn còn phải nhường đường,
Vườn Hán cờ xí hiên ngang mà vào.
Đường đi lối cong queo nay hết,
Mũ đoàn quân cao vút ngang mây.
Năm đồng chẳng vướng tường xây,
Tám sông không gợn mảy may sóng dồi.
Ý trời nay hãy coi theo đó,
Hồn hoang kia liệu có tha bay.
Xin hàng chẳng có cơ may,
Nếu còn chống cự càng đầy đau thương
Nguyên suý vốn nòi rồng thiêng đó,
Tư không mạnh như hổ, lược thao.
Tiền quân, Tô Vũ giống sao,
Tả tướng y hệt con dao Lã Kiền.
Khí thế khiến chim chuyền phải rớt,
Tiếng hò vang giải, niết lặn sâu
Dáo gươm tuốt, tuyết trắng phau
Cung tên vun vút khắp bầu trời bay.
Vận nước nay tới ngày hết khổ,
Đời yên lành sau đó tiếp theo.
Ai rằng chất độc còn nhiều,
Đó là cái chất bều nhều tanh tao.
Đấng anh minh gần vào bệ đỏ,
Đoàn quân đi như gió ào ào.
Tháp Yết vượt qua Lâm Thao,
Hoa Môn vùng tới từ đầu bãi xa.
Những người này tới do nghĩa nặng,
Bọn giặc quèn há chẳng tóm sao.
Tiên phong áo thấm máu đào,
Đột kỵ kiếm sắc lông vù đứt nhanh.
Mừng biết chốn kinh thành náo nức,
Thấy gái trai thổn thức mà buồn.
Thoa xuyến đem bán lấy tiền,
Chỉ đợi đem hiến khao quân rượu mừng.
(Năm 757)

[1] Chỉ các công khanh.
[2] Phục sức của quân Hồi Hột.
[3] Trang sức nơi mũ quan, nghi trượng trang nghiêm của quân đội.
[4] Gọi chung vùng đất nay thuộc Thiểm Tây. Thời Đường, ngoài kinh đô Trường An, và huyện Vạn Niên, còn có năm vùng (nguyên) là Tất, Bạch Lộc, Thiếu Lăng, Cao Dương, Tế Liễu.
[5] Gồm Bá 灞, Sản 滻, Kinh 涇, Vị 渭, Phong 灃, Cảo 鎬, Lạo 澇, Duật 潏.
[6] Quảng Bình Vương.
[7] Quách Tử Nghi 郭子儀.
[8] Lý Yự Nghiệp 李嗣業.
[9] Gương trung thành với triều đình.
[10] Bộc Cố Hoài Ân 僕固懷恩.
[11] Tự Tử Khác 子恪, người Nhiệm Thành (nay là Tế Ninh, Sơn Đông) am tường về tình báo và phản gián.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Đỗ Phủ » Hỉ văn quan quân dĩ lâm tặc cảnh, nhị thập vận