Võ Vinh Quang
(1), (2) Trong các khoảng thời gian ông làm Tư nghiệp (1740), Tế tửu tại Quốc tử giám (tháng 3 - tháng 7 năm 1741), đặc biệt là từ năm 1758, với vai trò Quốc sử tổng tài kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Nguyễn Nghiễm đã góp công phục hưng nền học vấn. Bên cạnh đó, ông còn chỉnh lý “sử cũ rườm rà” để biên tác ra tác phẩm nổi tiếng
Việt sử bị lãm.
(3) Bài đầu tiên, chép trong
Cố Lê nhạc chương thi văn tạp lục, ký hiệu: VHv.2658 và A.1186, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(4) Phó bảng Phan Sĩ Bàng - Giải nguyên Lê Thước (1924),
Truyện cụ Nguyễn Du, tác giả
Truyện Thuý Kiều, Nhà in Mạc Đình Tư, Hà Nọi.
(5) Phan Sĩ Bàng - Lê Thước, Sđd, tr.5. Ở công trình này, mặc dù vẫn đánh giá cao như đã dẫn, song, hai tác giả cũng chưa có cách nhìn nhận chuẩn xác bài phú trên khi cho rằng “Trong bài phú ấy tuy cũng có chữ chưa được thanh thoát” (tr.5).
(6) Dương Quảng Hàm (1968),
Việt Nam văn học sử yếu, Bộ Giáo dục -Trung tâm Học liệu xuất bản, tr.144. Cuốn sách được Học giả Dương Quảng Hàm hoàn thành vào năm 1941. Từ năm 1968, sách được Bộ Giáo dục lựa chọn đưa vào chương trình học lớp 10 bậc phổ thông.
(7) Đỗ Đức Hiểu (Cb) (2004),
Từ điển Văn học bộ mới, NXB Thế giới, H, trang 1.171, mục Nguyễn Nghiễm có nói “…Về phương diện văn học, [ông] được chú ý nhiều là bài phú Khổng Tử mộng Chu Công. Đây là một bài phú phóng vận”; Những công trình khác vẫn khẳng định giá trị tác phẩm
Khổng Tử mộng Chu Công của Nguyễn Nghiễm, như các bài viết của nhiều học giả uy tín đăng trong
Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tế tửu Quốc tử giám Nguyễn Nghiễm: con người và sự nghiệp.
(8) Tạ Phong Châu - Nguyễn Văn Phú (1961),
Phú Việt Nam cổ và kim, NXB Văn hoá, H. Thái Kim Đỉnh khi biên soạn
Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ (NXB Nghệ An) năm 1995 cũng trích dẫn chủ yếu ở sách này.
Phú Việt Nam cổ và kim được NXB Văn hoá Thông tin in lại vào năm 2002. Đến năm 2008, NXB Văn học cho ra cuốn
Phú Việt Nam chọn lọc cũng lấy tư liệu ở sách
Phú Việt Nam cổ và kim của hai ông Tạ Phong Châu - Nguyễn Văn Phú.
(9) Nguyễn Q Thắng (1999),
Từ điển Tác gia văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, H, trang 855-857 chép tác phẩm
Khổng Tử mộng Chu Công bằng chữ Quốc ngữ.
(10) Phan Văn Các - Trần Ngọc Vương (Cb) (2010),
Di sản văn chương Văn miếu Quốc tử giám, NXB Hà Nội, H, tr.984-991. Trong sách này, các tác giả vẫn chưa chỉ nguồn gốc văn bản
Khổng Tử mộng Chu Công phú.
(11), (12) Viện Nghiên cứu Hán Nôm (2002),
Ngữ văn Hán Nôm tập 1, Tứ thư, NXB Khoa học xã hội, H, tr.337.
(13) Phạm Văn Khoái (2004),
Khổng phu tử và Luận ngữ, NXB Chính trị Quốc gia, H, tr.125.
(14) Thiên Thuật nhi, VII: “子曰:甚矣吾衰也久矣吾不復夢見周公” (Khổng Tử rằng: Đạo của ta suy lắm rồi. Đã lâu ta không còn mơ thấy Chu Công); Thiên
Thái Bá VIII: “子曰:如有周公之才之美, 使驕且吝,其餘不足觀也已” (Khổng Tử rằng: dẫu tài năng, tốt đẹp như Chu Công, nếu kiêu ngạo, bủn xỉn thì chẳng còn đáng xem nữa)…
(15) Hiên hậu 軒后: tức Hoàng đế 黃帝, họ Công Tôn 公孙, tên Hiên Viên 轩辕, là một vị vua huyền thoại và anh hùng trong văn hoá Trung Quốc.
(16) Cao Tông 高尊(宗): tức Ân Cao Tông Vũ Đinh 殷高宗武丁, họ Tử 子 tên Thiệu 昭 (ở ngôi 1250-1192 Tr.CN), là một vị vua hiền (tài) của nhà Thương. Giấc mộng Cao Tông: Thiên
Duyệt mệnh thượng 說命上 ở sách
Thượng thư 尚書có đoạn: 夢帝賚予良弼,其代予言.乃審厥象,俾以形旁求于天下.說築傅巖之野,惟肖.爰立作相 (Ta mơ thấy Thượng đế cho ta [Cao Tông] một người giúp rập giỏi, người ấy thay lời cho ta. Bèn xét rõ hình tượng, sai người đem hình đi khắp thiên hạ. Ông Duyệt đang đắp đất ở Phó Nham, giống hệt [hình], bèn lập làm tướng.)
(17) Lọ 擼: (từ cổ) chẳng, không; Lọ thấy Chu Công: chẳng (mơ) thấy Chu Công. Điển tích lấy từ câu ở
Thuật nhi VII, sách
Luận ngữ (xem chú thích 13).
(18) Nẻo từ 裊自: (liên từ nối) Từ lúc/ từ khi; Quang nhạc 光岳 tức tam quang ngũ nhạc 三光五岳, chỉ trời đất; cấu 構: cấu tạo nên => cấu khí 構氣: tạo nên khí tượng.
(19) Ni sơn 尼山: ngọn núi, vốn có tên là Khâu sơn 丘山, nơi cha mẹ của Khổng Tử cầu tự rồi sinh ra ông. Khuyết Lý 闕里: quê hương của Khổng Tử.
(20) Dạ 胣 ở đây ý trỏ bụng dạ (bộ nhục); Hưng Chu: thời nhà Chu hưng thịnh.
(21) Đòi phen 隊番: nhiều phen; trủng tể 冢宰: quan Tể tướng.
(22) Đàn hạnh 壇杏: Đức Khổng Tử ngồi dạy học nơi gò đất bằng phẳng bên giàn hạnh, nên gọi đàn hạnh (chữ Hán: hạnh đàn 杏壇).
(23) Cổn y 袞衣: lễ phục của các bậc đế vương có thêu rồng bay lên, còn gọi là cổn y tú thường 衮衣绣裳; chắm chắm 占占: (từ láy) tập trung không chớp mắt.
(24) Xích tích 赤舄: đôi dày của bậc đế vương mang đi tế lễ trời đất. Thiên
Dư phục chí hạ 輿服志下 trong
Hậu Hán thư viết: “赤舄絇屦,以祠天地” (đi hài xích tích, để cúng tế trời đất).
(25) Bình tố 平素: tình cảm lâu dài, xưa nay; Loàn đan 蘭單: (từ cổ) mạo muội, vượt khỏi khuôn phép. Nguyễn Trãi từng có câu “Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng” (
Vô đề); “Ta gìn nhân nghĩa chớ loàn đan” (
Bảo kính cảnh giới XII)…
(26) Gồm ba vua, ra bốn việc: điển tích;
Mạnh Tử 孟子, thiên
Ly Lâu chương cú hạ: 周公思兼三王以施四事 (Chu Công muốn gồm học các đạo của ba đời (Hạ Thương Chu) để thi hành bốn việc đạo); Thành Chu 成周: tức Chu Thành vương.
(27) Nọ chín tháng, trọn ba thu: Cụm từ phiếm chỉ thời gian; Nghị 議: bàn luận; Phong Cảo 豊鎬: đất Phong, đất Cảo. Kinh đô của Chu Văn Vương là Phong kinh豊京, Vũ Vương là Cảo kinh 鎬京. Năm 1126 TCN, Chu Vũ Vương dời đô từ đất Phong về đất Cảo.
(28) Mấy: (từ cổ) với; Tư lường 思量: suy tư; nghĩ ngợi; phỉ 丕: ấy; xảy nên: bỗng nên, chợt thành. Trẫm triệu 朕兆: điềm báo trước việc gì sẽ xảy ra.
(29) Chính giáo 政教: Nho giáo; Cất đặt 拮達: xếp đặt; Thi vi 施為: thi hành.
(30) Biến Lỗ, biến Tề 变魯变齊: điển tích;
Luận ngữ, thiên
Ung dã VI, 22: 齊一變至於魯,魯一變至於道” (Nước Tề biến đổi một lần là đến Lỗ, nước Lỗ biến đổi một lần là đến đạo thánh hiền); Sao hầu quốc lại chầu về Bắc: sách
Luận ngữ, thiên
Vi chính II, 1 có câu: 為政以德, 譬如北辰,居其所而眾星共之 (Dùng đức để làm chính sự, tựa như Bắc thần ở yên đó mà các sao lại hướng chầu về).
(31) Tài lạ: tài năng kỳ lạ; Vạc Thành Chu ắt dễ sang tây: Tương truyền Chu Vũ vương lại dời 9 đỉnh (vạc) sang Lạc ấp ở phía tây.
(32) Lỗ, Vệ, Tống, Trần 魯駆宋陳: bốn nước Khổng Tử đi qua trên hành trình du thuyết.
(33) Khôn 坤: (từ cổ) sẽ, sắp; Thành, Khang, Văn, Võ 成康文武: tức vua Thành Vương 成王, Khang Vương 康王, Văn Vương文王, Võ Vương 武王 của nhà Chu.
(34) Khóc lân sùi sụt, than phượng nghêu ngao 哭麟洡湥,嘆鳳嘵嗷: Điển tích. Sách
Khổng Tùng tử 孔丛子, thiên
Ký vấn 記問 chép: “Năm Lỗ Ai Công thứ 14 thời Xuân Thu, có người bắt được con Kỳ Lân. Khổng Tử xem đó là điềm gở, và khóc rằng: ta đối với người như con lân đối với nước Lỗ vậy. Lân đi ra mà chết, đạo ta suy kiệt rồi”.
(35) Hai trăm lẻ Xuân Thu: Khổng Tử chép lịch sử thời Xuân Thu được hơn 200 năm.
(36) Bảy mươi dư tuế nguyệt: Khổng Tử sống hơn 70 năm (72 tuổi).
(37) Câu này lấy tích từ thiên
Thuật nhi VII (xem chú thích 13).
(38) Cháy cháy: (từ láy) cháy rực, cháy bừng sáng rỡ; Thu dương 秋陽: tiết trời Thu dương, lúc ánh sáng mặt trời sáng rõ, huy hoàng, nhất. Thiên
Đằng Văn công thượng 滕文公上 ở sách
Mạnh Tử có đoạn: 江漢以濯之,秋陽以暴之,皜皜乎不可尚已 (Món đồ đem giặt ở sông Giang, sông Hán, rồi đem phơi dưới áng thu dương, thì trở nên sáng rỡ, không vật gì hơn thế); Đùn đùn 屯屯: tuôn ra, mọc ra nhiều. Nguyễn Trãi trong
Bảo kính cảnh giới 43 có câu: “Hoè lục đùn đùn tán rợp trương”; Thái nhạc 泰岳 (泰嶽): tức núi Thái Sơn 泰山 nằm ở tỉnh Sơn Đông phía Bắc thành Thái An. Thái Sơn là núi hùng vĩ, linh thiêng nhất của Trung Quốc.
(39) Dội: (động từ) đánh vang dội; Kim thanh 金聲: tức chinh thanh 鉦聲 (tiếng chiêng); mộc đạc 木鐸: thứ chuông nhỏ cầm tay lắc, làm bằng đồng. Ngày xưa, dùng mộc đạc để ban bố pháp lệnh ở khắp nơi.
(40) Hai trăm năm thay quyền thưởng phạt: Nói về lịch sử biến động của thời Xuân Thu, với sự thay thế quyền lực lẫn nhau giữa các nước chư hầu, được Khổng Tử thu thập và biên tập lại thành biên niên sử hơn 200 năm trong sách
Xuân Thu.
Chú thích: