29/04/2026 00:39Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới
Đăng bởi Vanachi vào 11/02/2006 18:45
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,Nguyên bản bài thơ này bằng chữ Hán không có các dấu phết và dấu chấm ở cuối các câu. Nhưng tuỳ theo ý nghĩa của thơ, các tác giả đời sau đã phân đoạn và ngưng câu để thêm các dấu phết và chấm vào. Sự kiện này hay xảy ra, như trường hợp quyển Đạo Đức Kinh của Lão Tử được viết vào khoảng năm 500 đến 450 trước Tây Lịch. Đạo Đức Kinh được khắc trên các thẻ tre, không có dấu chấm phết, nhưng nhiều tác giả đời sau đã tuỳ theo cách đọc mà phân đoạn khác nhau. Mỗi khi các dấu chấm phết xê dịch thì ý nghĩa trong Đạo Đức Kinh thay đổi rất nhiều, có khi khác hẳn nhau.
Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên, (a)Bây giờ tôi ngắt câu và chữ khác đi đôi chút:
(Cách ngắt câu và chữ theo tác giả Trần Trọng San) (1)
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, (b)
(Cách ngắt câu và chữ theo tác giả Nguyễn Quảng Tuân)
Nguyệt lạc ô đề, sương mãn thiên, (c)Khi đọc, nếu ngắt câu khác nhau ý nghĩa câu thơ có thể khác nhau:
Trăng lặn, quạ kêu, trời đầy sương, (a)Như vậy, tuỳ theo cách ngắt câu, ô đề có thể là địa danh.
Trăng lặn quạ kêu trời đầy sương, (b)
Trăng lặn trên núi Ô Đề, trời đầy sương, (c)
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiênĐến nghi vấn về chữ “sầu miên” trong câu hai:
Giang phong, ngư hoả đối sầu miên. (2)Về địa dư, đất Ngô huyện thuộc tỉnh Giang Tô không có núi nào tên là Sầu Miên. Theo tác giả Nguyễn Quảng Tuân, có lẽ tên chùa là Hàn San, san có nghĩa là sơn, là núi, nên có tác giả đã nghĩ như vậy.
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,Câu hai, thơ như chậm lại bên hàng cây phong, dưới sông thấp thoáng ánh lửa thuyền chài, đêm buồn dịu lặng, ray rức:
Giang phong, ngư hoả đối sầu miên.Câu ba, thơ sực tỉnh, như dừng lại, ngoài trăng, sương, sông, nước, còn ngôi chùa ẩn hiện trong đêm:
Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự,Câu cuối, thơ ngỡ ngàng trước tiếng chuông chùa ngân vang trong lòng đêm yên lặng, giửa đêm tịch mịch, sương như lung lay, nước như gờn gợn, khách trong thuyền xao xuyến cả tâm hồn:
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.Đã có nhiều tác giả dịch bài thơ Phong Kiều dạ bạc sang tiếng Việt. Bản dịch tiếng Việt qua thể lục bát, theo tác giả Trần Trọng San, bản này của thi sĩ Tản Đà (5), nhưng tác giả Nguyễn Quảng Tuân đã đính chánh, bản dịch đúng ra là của thi sĩ Nguyễn Hàm Ninh, nhưng không thấy dẫn chứng.
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương,Bản dịch, theo Nguyễn Quảng Tuân là của Nguyễn Hàm Ninh (7), có vài điểm không giống hẳn như bản trên:
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Quạ kêu, trăng lặn, trời sương,Tôi ghi cả hai bản dịch ra đây để tiện đối chiếu.
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Ban đêm thuyền đậu bến Phong Kiều (8)Bản dịch của Trần Trọng San, cùng thể, vừa giữ được ý thơ lãng mạn lại vừa giữ được nét cứng cỏi của thất ngôn. Bản dịch, tôi thiết nghĩ đáp được hai yêu cầu của tác giả Nguyễn Quảng Tuân, thứ nhất là Cô Tô là thành luỹ chứ không phải bến và thứ hai là tính chủ động của tiếng chuông chùa ở câu bốn.
Trăng tà, tiếng quạ vẳng sương rơi,
Sầu đượm hàng phong, giấc lửa chài.
Ngoài luỹ Cô Tô, chùa vắng vẻ,
Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai.
Đêm đậu thuyền ở bến Phong KiềuBản dịch của tác giả Nguyễn Hà không ổn vì:
Tiếng quạ kêu sương, nguyệt cuối trời
Bờ phong sầu hắt lửa thôn chài
Hàn Sơn chuông vẳng Cô Tô lại
Khuya khoắt lay thuyền động giấc ai... (9)
Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,Và hai câu tiếp theo của chú tiểu là:
Bán tự ngân câu, bán tự cung.
Nghĩa là:
Mồng ba, mồng bốn, mặt trăng mờ mờ,
Nửa như móc bạc, nửa tựa cái cung.
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,Tác giả Trần Trọng San có dịch bốn câu thơ trên gồm hai câu của sư cụ và hai câu của chú tiểu:
Bán trầm thuỷ để, bán phù không.
Nghĩa là:
Một chiếc bình ngọc chia làm hai mảnh,
Nửa chìm đáy nước nửa nổi trên trời.
Mồng ba mồng bốn trăng mờ,Dĩ nhiên, chúng ta không thể so sánh hai câu của sư cụ và hai câu của chú tiểu với bốn câu thơ của Trương Kế được. Một bên là những người bình thường với hồn thơ dào dạt, làm được những câu thơ như thế cũng xứng đáng được tán thưởng lắm rồi. Lẽ nào, chúng ta so sánh bài thơ đó với bốn câu thơ của Trương Kế, là người đã nổi tiếng về tài thơ trong thời Thịnh Đường.
Nửa dường móc bạc, nửa như cung trời.
Một bình ngọc trắng chia hai,
Nửa chìm đáy nước, nửa cài từng không. (10)
Chú thích:
In từ trang: https://www.thivien.net/ » Trương Kế » Phong Kiều dạ bạc » Đọc lại “Phong Kiều dạ bạc”