Hà Nội, 25/12/2005
PGS.TS Trần Đăng Na, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
(1)
Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Bùi Kỉ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh dịch), Nxb Văn hoá, H, 1959, tr. 69.
(2)
Văn 10, Nxb. Giáo dục, H, 1990.
(3 Trần Danh Đạt: “Góp phần tìm hiểu thêm về nội dung bài Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du,
Tạp chí Hán Nôm, số 1/1993.
(4) Nguyễn Đình Chú:
- “Về lời dịch Độc Tiểu Thanh ký” (Nguyễn Du), báo
Văn nghệ, số 24 ngày 12/6/1993;
- “Lại bàn về hoàn cảnh sáng tác Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du,
Văn nghệ, số 23 ngày 4/6/1994.
(5) Trần Đình Sử: “Mấy điều suy nghĩ về bài thơ Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du,
Văn nghệ, số 28, ngày 10/7/1993.
(6) Trương Chính: Lời giới thiệu, sách
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb. Văn học, H,1965, tr.14.
(7), (8) Nguyễn Quảng Tuân: Cần phải tìm hiểu chính xác hơn bài “Độc Tiểu Thanh ký”của Nguyễn Du,
Tạp chí Hán Nôm, số 1/1994.
(9) Trần Đình Sử: “Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du, sách
Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb. Giáo dục, H, 1995.
(10), (11) Nguyễn Khắc Phi: Tiểu Thanh truyện (giới thiệu và dịch), Tạp chí
Văn học nước ngoài, số 5/1997.
(12)
Từ hải. Trung Hoa Thư cục xuất bản xã, súc ấn bản 1936; trùng ấn lần thứ nhất 1981, bản in lần thứ năm 1994, quyển Thượng, tr.974, mục Tiểu Thanh.
(13)
Từ hải. Thượng Hải Từ thư xb xã, Thượng Hải, 1979, tr.362. Tái bản năm 1989 (tr.412), nội dung vẫn giữ nguyên.
(14) Phan Quang Đán:
Phân tích Tiểu Thanh, Tân nguyệt Thư xã, 1927.
(15) Nam Tề: tên triều đại của Trung Hoa những năm 480-502.
(16)
Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh dịch). Sđd, tr.161 và Đào Duy Anh: Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb. Văn học, H, 1978, tr.172.
(17) Trần Đình Sử: Mấy điều suy nghĩ về bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du, Sđd.
(18) Nguyễn Đình Chú: Lại bàn về…, Bđd.
(19) Ngu Sơ: Ngu Sơ người Hà Nam thời Tây Hán, từng viết
Chu sử thông tục 943 thiên, gọi là Chu thuyết. Trong Hán thư, Ban Cố xếp Ngu Sơ vào hàng tiểu thuyết gia. Do đó, người đời sau thường lấy 2 chữ Ngu Sơ tên tác giả Chu thuyết để gọi thay cho loại bút ký tiểu thuyết. Bởi vậy, chữ Sơ phải viết hoa. Tiếc rằng, một số nhà nghiên cứu không biết điều này để viết hoa chữ Sơ.
(20)
Tiểu Thanh truyện, Sđd.
(21)
Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du, Sđd.
(22)
Hán ngữ đại từ điển, Tập 12, Hán ngữ đại từ điển xã xb, Thượng Hải, 1993.
(23) Điển Lưu Hoằng cử người hiền tài, tránh đề cử người thân thích như sau: “Thời Tấn Huệ đế (291-306), Lưu Hoằng làm Thứ sử Kinh Châu, thấy thiếu các chức quan nắm mười bộ ở Kinh Châu, xin nhà vua bổ dụng. Triều đình bổ Hạ Hầu Trắc - con rể của Hoằng làm Thái thú Tương Dương. Hoằng dậy Trắc rằng: Kẻ nắm đại thống thiên hạ, phải một lòng với thiên hạ; kẻ đứng đầu một nước, phải lấy cả nước làm trách nhiệm của mình. Nếu bổ dụng con rể, thì Kinh Châu lấy đâu cho đủ 10 con rể?”. Bèn dâng biểu lên vua rằng: “Trắc là người thân, theo chế độ trước, (bố vợ) không được bổ nhiệm (con rể)”. Bèn cử Bì Sơ làm Thái thú Tương Dương. Vua hạ chiếu theo đề nghị của Hoằng. Tấn thư quyển 66.
(24), (25)
Kim Vân Kiều truyện, Tú Hoa Hiên tàng bản, tờ 2a.
Chú thích: