02/05/2026 00:28Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Tỳ bà hành - Bản dịch của Phan Huy Thực

Tỳ bà hành (Bạch Cư Dị)

Đăng bởi Vanachi vào 08/06/2004 21:41

 

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu.
Người xuống ngựa, khách dừng chèo,
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ty.
Say những luống ngại khi chia rẽ,
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong,
Đàn ai nghe vẳng bên sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.
Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá?
Dừng dây tơ, nấn ná làm thinh.
Dời thuyền ghé lại thăm tình,
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.
Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ,
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua,
Dẫu chưa nên khúc, tình đà thoảng hay.
Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu.
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Giãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.
Ngón buông, bắt khoan khoan dìu dặt,
Trước Nghê thường, sau thoắt Lục yêu.
Dây to nhường đổ mưa rào,
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng.
Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.
Trong hoa oanh ríu rít nhau,
Nước tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh.
Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt,
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ.
Ôm sầu, mang giận ngẩn ngơ,
Tiếng tơ lặng ngắt, bấy giờ càng hay.
Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,
Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao.
Cung đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,
Một vầng trăng trong vắt lòng sông.
Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,
Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời.
Rằng: “Xưa vốn là người kẻ chợ,
Cồn Hà Mô trú ở lân la.
Học đàn từ thuở mười ba,
Giáo phường đệ nhất chỉ đà chép tên.
Gã thiện tài sợ phen dừng khúc,
Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô.
Ngũ Lăng, chàng trẻ ganh đua,
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn.
Vành lược bạc gãy tan dịp gõ,
Bức quần hồng hoen ố rượu rơi.
Năm năm lần lữa vui cười,
Mãi trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu.
Buồn em chảy[5] lại lo dì thác,
Sầu hôm mai đổi khác hình dong.
Cửa ngoài xe ngựa vắng không,
Thân già mới kết duyên cùng khách thương.
Khách trọng lời khinh đường ly cách,
Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi.
Thuyền không đậu bến mặc ai,
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng.
Đêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ,
Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen.
Nghe đàn ta đã chạnh buồn,
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời.
“Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.
Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,
Tai chẳng nghe đàn địch cả năm.
Sông Bồn gần chốn cát lầm,
Lau vàng, trúc võ, âm thầm quanh hiên.
Tiếng chi đó nghe liền sớm tối,
Cuốc kêu sầu, vượn hót véo von.
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn,
Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng.
Há chẳng có ca rừng, địch nội,
Giọng líu lo, buồn nỗi khó nghe.
Tỳ bà nghe dạo canh khuya,
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.
Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca.
Đứng lâu dường cảm lời ta,
Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây.
Nghe não nuột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi,
Lệ ai chan chứa hơn người,
Giang Châu tư mã đượm mùi[8] áo xanh.
Một số tài liệu (trong đó có các cuốn sách được tham khảo nhiều là Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm, Văn đàn bảo giám của Trần Trung Viên, Tổng tập văn học Việt Nam, Tinh tuyển văn học Việt Nam) chép người dịch là Phan Huy Vịnh (tức con của Phan Huy Thực) là không chính xác. Qua một số các tư liệu đáng tin cậy như di cảo thơ văn của Phan Huy Thực, Phan Huy Vịnh còn lưu giữ trong họ tộc và một số sách gia phả thì Phan Huy Thực mới là tác giả của bài dịch. Các bản phả có ghi rõ Phan Huy Thực có:
- Phan gia công phả, bản gốc được lưu giữ tại thôn Gia Thiện, xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.
- Phan tộc công phả do Phan Huy Dũng (1842-1912) biên soạn, văn bản được lưu giữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2963.
- Phan gia thế tự lục do Phan Huy Quýnh biên soạn tại Sài Sơn năm Bính Tuất, Minh Mệnh thời Nguyễn (1826). Văn bản hiện được lưu giữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2691.

Bản dịch của Phan Huy Thực không chỉ được nhuận sắc, chau chuốt cho hay thêm bởi những người sử dụng cho việc hát ca trù qua các bản Nôm chép tay mà còn được nhuận sắc, sửa chữa khi phiên âm, giới thiệu ra quốc ngữ. Lâu nay, người đọc thường biết đến bản dịch hiện hành nổi tiếng qua các bản phiên âm trong Văn đàn bảo giám của Trần Trung Viên và Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, bản do nhà thơ Xuân Diệu hiệu đính, bản trong các Tổng tập Văn học Việt Nam, Tinh tuyển văn học Việt Nam... Ở đây, chúng tôi giới thiệu hai bản gồm bản quốc ngữ trong Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm, và bản do Hoàng Thị Ngọ phiên khảo từ bản Nôm ký hiệu AB.206 được khắc in năm 1881, được xác định là gần nhất với nguyên tác của Phan Huy Thực để góp phần làm rõ thêm những đóng góp của dịch giả nổi tiếng này.

Chú thích:

[1]Cất tiếng lên.
[2]Tức là “liệt bậc”, thể hiện nhiều cung bậc.
[3]Bản AB.206 in là “vân vân”, nhưng không hợp vần.
[4]“Chỉn đà” chữ cổ là vốn đã.
[5]Có bản chép “chảy” là đi lính, có bản chép “trẩy” là chết.
[6]Trúc ở thời kỳ cuối cùng.
[7]Gảy đàn.
[8]Tức là màu. Tiếng cổ thường dùng lẫn lộn “mùi” và “màu”.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Phan Huy Thực » Thơ dịch tác giả khác » Tỳ bà hành