05/04/2026 03:44Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới
Đăng bởi Vanachi vào 25/11/2019 04:08
Ba sinh dành một kiếp hẹn hò,Vả lại, theo bài thơ của Nguyễn Huy Quýnh tặng Nguyễn Du:
Hai năm được mấy lần chung chạ.
Tảng mai Hầu trở về nhà,“Hầu” đây là Nguyễn Du, lúc nhỏ tập tước của cha là Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, thường gọi là Du Đức Hầu. Vậy thì rõ ràng Nguyễn Du đã lên chơi và hát ví ở Trường Lưu lúc còn niên thiếu và được Nguyễn Huy Quýnh tặng bài thơ trên thông qua cô gái hát phường vải - hoặc cô phường vải đã tặng Nguyễn Du bài thơ trên dựa theo lời kể chuyện của Nguyễn Huy Quýnh, trước lúc Nguyễn Du ra Sơn Nam. Vậy thì ở đây ta thấy rõ Nguyễn Huy Quýnh làm bài thơ tặng Nguyễn Du chỉ có thể trước năm 1783, chính xác hơn là vào khoảng từ 1780-1783 trước lúc Nguyễn Du đậu tam trường và tập tước quan võ của cha nuôi.
Hồn tương tư hãy còn mê giấc nồng.
Khi lên để rối cho nhau,Sau đó, Nguyễn Du đã đáp lại, cùng là một bài thơ lục bát, bài Thác lời trai phường nón, tức là trai làng Tiên Điền, làng này vốn có nghề làm nón, trả lời bài Thác lời gái phường vải là gái Trường Lưu. Đó cũng là bức thư tình và chan chứa tình cảm. Những câu:
Khi về trút một gánh sầu về ngay.
Xua buồn từ nớ lại hay
Nào ai mó đến xa quay xin thề.
Hồng Sơn cao ngất mấy tầng,đều là xuất phát tự đáy lòng của những người đang yêu, đang đợi chờ, đang mong nhớ.
Đò Cài mấy trượng thì lòng bấy nhiêu.
Làm chi cắc cớ lắm điều,
Mới đêm hôm trước lại chiều hôm nay.
Khi xa xa hỡi thế này,
Tiếng xa nghe vẫn rù rì bên tai.
Quây ngoài sân thì trong làng chín mười ả, ả ví, ả hát, ả kéo sợi, ả đưa thoi, lại có ả bưng trầu tận miệng, mỹ nữ như hoa.“Quan họ” ở đây là con em họ Nguyễn Huy bạn bè của Nguyễn Du, “Đội thế thần quan họ trong làng, cũng mang tới cân trà quá đá” và những cảnh:
Léo trên giường thì, quan họ năm bảy ông, ông nói, ông cười, ông ngâm thơ, ông đọc truyện, lại có ông lấy áo trùm đầu, cao bằng mãn toạ.
Đêm đêm thường hát ví xôn xao,Sau những đêm hát ví Nguyễn Du ra về, O Uy, O Sạ đã gởi gắm tình cảm của mình qua bài của Nguyễn Huy Quýnh và Nguyễn Du cũng đáp lại bằng tình cảm chân thành:
Ai ai cũng trầu cau đãi đoạ
Kéo dài những hai năm:
Ba sinh dành một kiếp hẹn hò,
Hai năm được mấy lần chung chạ
Hồng Sơn cao ngất mấy tầng,Ấy thế mà rồi, trai trong làng phá đám, cũng là trâu buộc ghét trâu ăn, cho nên tối đến là:
Đò Cài mấy trượng thì tình bấy nhiêu.
Trai trong làng rình bốn mặt chan chan,Một hôm họ thổi tắt đèn, rồi đốt lói, một thứ pháo làm bằng ống tre, tộng thuốc súng vào và suýt nữa xảy ra ẩu đả:
Chó làng xóm sủa năm canh xa xả.
Phụt ngọn đèn trước mắt, đếch sự đời chẳng phải đứa tiểu tâm;Nếu không có sự phá đám của trai làng thì Nguyễn Du - cậu ấm con quan ở trong hoàn cảnh xã hội phong kiến thời bấy giờ cũng không thể lấy những cô gái hát ví được...
Đùng tiếng lói sau nhà, đù mẹ kiếp bỗng có thằng đại phá.
Ta đã đành mắc tiếng thày layvà sau đó, vào dịp tháng sáu, cả hai O Uy, O Sạ đều lấy chồng, cũng không có gì là lạ, nơi hỏi cũng xứng đáng, một người là nông dân, một người là lính và Nguyễn Du tất nhiên lại trở về với con đường công danh, học hành của mình. Trong mấy câu tiếp, Nguyễn Du có ý hờn dỗi, trách móc hai cô và không ít thì nhiều cũng có ý châm biếm hai người chồng của hai cô: “tiếc người ấy gieo mình vào đồng lúa, túc túc gà; gẫm thằng kia là tướng giữ nương dưa, đùng đùng quạ”.
Ả cũng hoá ra người đĩ thoã
Một đứa thì dắt mũi trâu từ thuở bé, tắc tắc hò rì,và Nguyễn Du về dùi mài kinh sử, đi thi và học ở phương Bắc cho một đến mười mấy năm sau:
Một đứa thì cắt cỏ ngựa đến tận già, tùng tùng dạ há.
Mười mấy năm sau, bên Tiên Điền:Ở đây Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Huệ, Nguyễn Khản, Nguyễn Điều đã mất cả, một số lưu lạc đi nơi khác, một số chống lại Tây Sơn và bị giết như Nguyễn Quýnh (1759-1791), một số theo Tây Sơn như Nguyễn Nễ (1751-1805) (anh cùng mẹ với Nguyễn Du).
Hồng Lĩnh vô gia, huynh đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên (Ở Hồng Lĩnh không có nhà, anh em tan nát, đầu bạc thường bực vì ngày tháng trôi mau).
Ở nhà lâu nghĩ cũng bần thần,Nhưng còn đâu là cái cảnh tình đẹp đẽ hồi xưa nữa, mà cũng con đường đó, lúc trước hăm hở bước đi bao nhiêu thì nay:
Viếng cảnh cũ muốn làm khuây khoả.
Đường cửa Trẹm mỗi ngày một ngái, bóng câu tiếng suối, núi giăng giăng, con mắt đã mòn;Nhưng Nguyễn Du vẫn lên thăm, vì dẫu sao cũng còn ít nhiều bạn bè cũ:
Điếm trên làng càng ngắm càng buồn, ngọn khói hạt mưa, trời thăm thẳm mặt người đã nhoá.
Hắt hiu gió trúc mưa mai,
Quạnh quẽ bóng chim tăm cá.
Vì quan họ nên chúng ta mộ đứa, bạn hữu quen còn đến rủ bao nhiêu.Và Nguyễn Du đã bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người, tìm đến thăm người cũ thì:
Nói đến tên thì đã gọi mụ nọ mụ kia, may mắn bấy trồng sung ra vả.Gần 20 năm rồi còn gì nữa (1780-1783 đến 1896-1802); O Uy, O Sạ nay đã thành mụ nọ, mụ kia (ở đây cần lưu ý bạn đọc là ở vùng Trường Lưu, Can Lộc tiếng “mụ” dùng để chỉ người đàn bà có con lớn gần thành vợ thành chồng chứ chưa lên đến chức bà). Và tiếng tăm “thày lay” của Nguyễn Du cũng chẳng còn vương lại bao nhiêu, nhà cửa của các O đã:
Cửa nhà mình đã bưng kín như buồng,Phong cảnh ở đây chả khác gì phong cảnh cũ, nhưng người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, người xưa còn đâu:
Tiếng tăm ta cũng rửa sạch như đá.
Nhân duyên xưa, bẻ ngó lìa cành,và Nguyễn Du nhớ lại:
Phong cảnh cũ, vàng cây héo lá.
Tưởng những lúc tắt đèn dạy chuyện, dứt câu này nối câu khác, trăng ngoài hiên khi tỏ khi mờ;Nguyễn Du nhớ lại, hồi tưởng lại, Nguyễn Du làm bài văn này để nhớ lại O Uy, O Sạ kể chuyện tình cảm xảy ra gần hai mươi năm về trước lúc Nguyễn Du chưa tới hai mươi tuổi, và qua đó gửi gắm ít tâm sự. Đó là nội dung bài Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu.
Nhớ đến khi thắp đuốc chơi đêm, ở nhà ngoài vào nhà trong, giọt bên chái như tầm như tã.
Trai trong làng rình bốn mặt chan chan;“Trai trong làng” đối với “chó hàng xóm” Nguyễn Du đã làm cho trai làng Trường Lưu (ngoài “quan họ”) tức giận và hò hẹn nhau nếu Nguyễn Du còn lên chơi sẽ đón đánh. Vậy bài văn này được sáng tác vào quãng 1796-1902, sau hai bài trước gần 20 năm.
Chó hàng xóm sủa năm canh xa xả.
| Về thiời gian | Về câu chuyện | Về tác giả | |||||
| Trương Chính | 1796-1802 (cả 3 bài) | Hư cấu | Nguyễn Du và Nguyễn Huy Quýnh | ||||
| Hoàng Xuân Hãn | Trước 1789 (cả 3 bài) | Có thực | |||||
| Hoàng Hữu Yên, Nguyễn Lộc | Trước 1783 (cả 3 bài) | Có thực | |||||
| Chúng tôi | Bài 1,2: 1780-1783; Bài 3:1796-1802 | Có thực |
| Họ Nguyễn Tiên Điền | Họ Nguyễn Huy Trường Lưu | ||
| Nguyễn Huệ (1705-1733) Tiến sĩ (dạy học) | Nguyễn Nghiễm (1708-1775) Tiến sĩ, Quận công, Tả tướng | Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) Thám hoa, Thượng thư (Phúc Giang thư viện, dạy học) | Nguyễn Huy Quýnh (1734-1785) Tiến sĩ, Đốc thị |
| Nguyễn Du (1765-1820) (Truyện Kiều) | Nguyễn Khản (1734-1786) Tiến sĩ, Quận công | Nguyễn Huy Tự (1743-1791) (Hoa tiên) | |
| Nguyễn Thị Đài (1752-1819) | Nguyễn Thị Bành (1750-1773) | ||
| Nguyễn Huy Hổ (1783-1841) (Mai đình mộng ký) | Nguyễn Huy Vịnh (1786-1838) (Nguyễn thị gia tàng) | ||
Chú thích:
In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Du » Văn tế Trường Lưu nhị nữ » Một số ý kiến về hai bài “Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu”,“Thác lời trai phường nón” của Nguyễn Du và bài “Thác lời trai phường vải” của Nguyễn Huy Quýnh