21/06/2026 20:45Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới
Đăng bởi Vanachi vào 10/02/2006 18:44
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,và đã được khắc vào bia để ở trong chùa.
Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Nguyệt lạc Ô Đề sương mãn thiênvà phải hiểu là:
Trăng lặn ở núi Ô Đề (1), trời đầy sương.“Ô Đề” như vậy không còn là tiếng quạ kêu mà đã trở thành một sơn danh vì người ta cho rằng ban đêm không làm gì có tiếng quạ kêu. Nhưng cách hiểu này đã không được ai theo vì các con quạ vẫn có thể bất thường kêu về ban đêm.
Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng.Câu 2:
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,Hai câu này cũng gây thắc mắc cho người đọc vì vào lúc nửa đêm làm gì có tiếng chuông chùa.
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Thất niên bất đáo Phong Kiều tựNhà thơ Tôn Địch cũng đời Tống trong bài Phong Kiều đã viết:
Khách chẩm y nhiên bán dạ chung.
(Bảy năm không tới thăm lại chùa Phong Kiều,
Nằm gối đầu ngủ lại ở đất khách nghe tiếng chuông chùa đánh lúc nửa đêm thấy vẫn y như cũ).
Ô đề nguyệt lạc kiều biên tự,Nhà thơ Cố Trọng Anh đời Nguyên trong bài Bạc Xương Môn đã viết:
Ỷ chẩm do văn bán dạ chung.
(Quạ kêu, trăng lặn, cầu ở bên chùa,
Nằm gối đầu ngủ còn nghe thấy tiếng chuông nửa đêm.)
Tây phong chỉ tại Hàn San tự,Nhà thơ Cao Khải đời Minh trong bài Phong Kiều đã viết:
Trường tống chung thanh giảo khách miên.
(Chỉ tại chùa Hàn San mà gió tây
Đưa xa tiếng chuông tới quấy động giấc ngủ của khách.)
Kỷ độ kinh qua ức Trương Kế,Nhà thơ Văn Trưng Minh đời Minh trong bài Phong Kiều đã viết:
Ô đề nguyệt lạc hựu chung thanh.
(Mấy lần qua Phong Kiều đều nhớ Trương Kế,
Quạ kêu, trăng lặn với tiếng chuông nửa đêm.)
Thuỷ minh nhân tĩnh Giang thành cô,Qua các câu thơ ấy, chúng ta thấy các nhà thơ xưa ở Trung Quốc cũng đều nhắc lại cảnh “quạ kêu”, “trăng lặn” và “tiếng chuông nửa đêm” như là những sự việc rất bình thường, không có gì đáng thắc mắc cả.
Y nhiên lạc nguyệt đề sương ô.
(Nước trong, lòng tĩnh, Giang thành vắng,
Trăng lặn, quạ kêu trong sương vẫn y như cũ.)
Quạ kêu, trăng lặn, trời sương,Bài thơ dịch này, trước đây người ta đã nhầm là của Tản Đà, được kể là hay, chỉ tiếc là ông đã bỏ mất chữ giang phong và đã nhầm bến Phong Kiều là bến Cô Tô và cũng chưa diễn đạt được vai trò chủ thể của tiếng chuông chùa Hàn San nhưng nó vẫn được kể là bài dịch hay nhất từ trước đến nay.
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Chú thích:
In từ trang: https://www.thivien.net/ » Trương Kế » Phong Kiều dạ bạc » Đến Hàn San tự để tìm hiểu bài thơ “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế