Nguyễn Thị Oanh
1. Trần Trọng Kim:
Việt Nam sử lược, tái bản. Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1999, tr.112.
2. Hoàng Xuân Hãn:
Lý Thường Kiệt, tái bản. Sông Nhị, H., tr.303.
3. Nguyễn Đổng Chi:
Việt Nam cổ văn học sử. Hà Thuyên xuất bản cụ. H., 1942, tr.143.
4. Dương Quảng Hàm:
Việt Nam văn học sử yếu, in lần thứ mười, Bộ Giáo dục, Sài Gòn, 1968, tr.231-232.
5. Văn Tân:
Tổng tập văn học Việt Nam, Tập I. Nxb. KHXH., Hà Nội, 1980, tr.231.
6. Đinh Gia Khánh:
Lịch sử văn học Việt Nam, Tập I. Nxb. KHXH., H., 1980, tr.192.
7.
Hợp tuyển thơ văn Việt Nam-Thế kỉ X - thế kỉ XVII. Đinh Gia Khánh - Bùi Văn Nguyên - Nguyễn Ngọc San. Tái bản. Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976, tr.56-68.
8.
Thơ văn Lý - Trần, Tập I, Khảo luận văn bản: Nguyễn Huệ Chi. Nxb. KHXH., Hà Nội, 1977, tr.318-322.
9.
Tổng tập văn học Việt Nam, Tập I. Chủ tịch Hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh. Nxb. KHXH., Hà Nội, 1980, tr.114.
[Các chú thích từ 1 đến 9, chúng tôi dẫn lại từ bài: Truyền thuyết về một bài thơ: “Nam quốc sơn hà” là vô danh không phải của Lý Thường Kiệt của Bùi Duy Tân, [i]Tạp chí Văn hoá dân gian[/i] số 4 (72) năm 2000, tr.40-41.]
10. Hà Văn Tấn: “Lịch sử, sự thật và sử học”. Báo
Tổ quốc, số 401, tháng 1-1988; In trong
Giáo sư Sử học, Nhà giáo Nhân dân Hà Văn Tấn. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, tr.85-94.
11. Bùi Duy Tân:
Truyền thuyết về một bài thơ “Nam quốc sơn hà” là vô danh, không phải của Lý Thường Kiệt. Bđd., tr.32-42.
12. Bùi Duy Tân:
Truyền thuyết về một bài thơ “Nam quốc sơn hà” là vô danh, không phải của Lý Thường Kiệt. Bđd, tr.36-37.
13. Cách gọi tên thần ở nhiều dị bản khác nhau, chúng tôi theo cách gọi của sách
VĐUL. (Xem
VĐUL. Trịnh Đình Rư dịch theo bản A,751, Thư viện Khoa học. Nxb. Văn hoá, 1960).
14. Về số lượng các dị bản của bài thơ, theo Trần Nghĩa, ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Sử học hiện lưu trữ 26 dị bản. (Xem Trần Nghĩa: Thử xác lập văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà”.
Tạp chí Hán Nôm, số 1, 1986, tr.24-32). Theo Bùi Duy Tân, ngoài 26 dị bản nói trên còn tìm thêm được 4 dị bản nữa, cộng là 30 dị bản. (Xem xuất xứ ở chú thích 10). Chu Thanh Nga trong Khoá luận “Bước đầu khảo sát Trương Tôn thần sự tích” tr.18 cũng tìm ra 13 dị bản truyền thuyết hiện lưu trữ tại VNCHN.
15. Căn cứ vào sự thay đổi về nội dung truyền thuyết và thời điểm ra đời của bài thơ chúng tôi tạm chia làm 2 nhóm sau.
1/ Nhóm Một: gồm các bản:
-
Việt điện u linh (VĐUL): A.47, A.1919, A.2879, VHv.1285/1-2, VHv.1503, A.751, A.335 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm - VNCHN).
-
Lĩnh Nam chích quái (LNCQ): A.2107, A.750 (Bản thành Ba - lê) (VNCHN), R.6 (Thư viện Quốc gia - TVQG).
-
Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT): A.3 (VNCHN).
-
Việt sử tiêu án (VSTA): A.11 (VNCHN)
-
Việt sử tiệp kính (VSTK): A.1493 (VNCHN).
-
Lịch triều hiến chương loại chí (LTHCLC): A.1551 (VNCHN).
-
Bằng trình thản bộ (BTTB): A.802 (VNCHN).
-
Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) A.69 (VNCHN).
-
Trương Tôn thần sự tích, VHv.1286 (VNCHN).
-
Thần tích xã Vịnh Kiều, tổng Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. AE a7/8 (VNCHN).
-
Thần tích xã Thống Hạ, tổng Khắc Niệm, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. AE a 7/30 (VNCHN).
-
Thần tích xã Cẩm Hoàng, tổng Cẩm Bào, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. AE a14/1 (VNCHN).
2/ Nhóm Hai: gồm các bản:
-
LNCQ: A.2914 (VNCHN), R.1607 (TVQG)
-
ĐNNTC: A.69 (VNCHN)
-
Mã lân dật sử (MLDS) A.1516 (VNCHN)
-
Thiên Nam vân lục liệt truyện (TNVLLT) A.1442 (VNCHN)
-
Việt sử diễn âm (VSDA) AB.110 (VNCHN)
-
Lĩnh Nam chích quái: HV.486 (VSH), VHv.1473, A.1300, A.750 (Bản Nguyễn Hữu Kỉnh), VHv.1266, A.33, VHv.1200, A.1752 (VNCHN).
-
Việt sử quốc âm (VSQA): AB.308 (VNCHN).
-
Thiên Nam ngữ lục (TNNL): AB.478.
-
Trương Tôn thần sự tích. VHv.1286 (VNCHN).
- Bản
Thần phả ở thôn Quả Cảm, xã Hoà Long, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc của Dương Thái Minh, (VNCHN).
-
Thần tích thôn Đỗ thị, xã Phù Lưu, tổng Phù Lưu, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. AE a.7/6 (VNCHN).
-
Thần tích xã Đào Thục, tổng Xuân Nộn, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. AE a11/4 (VNCHN).
-
Thần tích xã Phượng Nhãn, tổng Trí An, huyện Phượng Nhãn, tỉnh Bắc Giang. AE a.14/16 (VNCHN)
-
Thần tích xã Xuân Nộn, tổng Xuân Nộn, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên. AE.a11/4 (VNCHN).
[Trong 13 bản thần tích hiện lưu trữ ở VNCHN, chỉ có 8 bản chép truyền thuyết trong có bài thơ. Có bản còn gộp cả hai giả thiết vào một bản như [i]Trương Tôn thần sự tích[/i], kí hiệu VHv.1286. Các bản thần tích đều có niên đại khá muộn, chúng tôi chỉ tham khảo khi thấy cần thiết]
16. Xem thêm: Nguyễn Thị Oanh: Về quá trình lưu truyền văn bản Lĩnh Nam chích quái.
Tạp chí Hán Nôm, số 3 (48), 2001, tr.34-45. Nguyễn Thị Oanh: Một số vấn đề liên quan đến văn bản Lĩnh Nam chích quái. Hội nghị
Thông báo Hán Nôm năm 2001.
17.
Lịch triều hiến chương loại chí, bản chữ Hán, kí hiệu A.1551/1-6 (VNCHN), phần Dư địa chí, tỉnh Bắc Ninh.
18.
Đại Nam nhất thống chí, tập IV. Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Phạm Trọng Điềm phiên dịch, Đào Duy Anh hiệu đính. Nxb. KHXH., Hà Nội, 1971, tr.104.
19.
Đại Việt sử ký tiền biên. Lê Văn Bẩy, Nguyễn Thị Thảo, Dương Thị the, Phạm Thị Thoa (dịch, chú thích), Lê Duy Chưởng (hiệu đính). Nxb. KHXH., Hà Nội, 1997, tr.247.
20. Chúng tôi dựa vào bản dịch
VĐUL do Trịnh Đình Rư dịch theo bản A.751 của Thư viện Khoa học, Sđd, để tóm tắt.
21. Nguyên văn là Trương Bạn. Xem thêm chú 13.
22. Bài thơ có rất nhiều dị bản, ở đây chúng tôi chỉ lấy 2 dị bản đại diện cho hai sách ghi chép xưa nhất về truyền thuyết trong có bài thơ để so sánh. Sở dĩ chúng tôi chọn bản
VĐUL A.751 bởi đây là bản có cách ghi chép thống nhất với
ĐVSKTT, bản Chính Hoà 18 (1697). Tuy nhiên ở câu thơ thứ hai “Tiệt nhiên phân (phận) định tại thiên thư”, chữ Hán “phân” có hai cách đọc nên dịch giả của
ĐVSKTT dịch là “Rõ ràng phân định tại sách trời”. Để thống nhất với bản
VĐUL đã chọn làm bản đối chiếu, chúng tôi lấy lại đúng bản dịch của ông Trịnh Đình Rư.
23. Bài thơ
Nam quốc sơn hà trong bản
LNCQ A.2914, (VNCHN) còn có dị bản của hai câu thơ cuối như sau: “Như kim nghịch tặc lai công kích, Nhữ đẳng hồi? khan tặc chúng hư”. Tạm dịch: Như nay nghịch tặc tới công kích, Quân sĩ lại có thể thấy quân giặc sẽ bị thua to).
24.
Đại Việt sử kí toàn thư. Bản in Nội các quan bản. Mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697). Lời giới thiệu: Gs. Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn. Khảo cứu về tác giả, văn bản, tác phẩm: Gs. Phan Huy Lê. Dịch và chú thích: Ngô Đức Thọ. Hiệu đính: Gs. Hà Văn Tấn. Nxb. KHXH., Hà Nội, 1993, tr.73.
25. Bốn truyện được lấy từ
VĐUL là: Lý Ông Trọng, Tản Viên, Tô Lịch và Long Nhãn Như Nguyệt (tức hai vị thần Trương Hống, Trương Hát).
26. Trong bài: Thử xác lập văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà”, Trần Nghĩa đã dùng phương pháp định lượng để chọn cho bài thơ những chữ có tần số xuất hiện lớn nhất, kết quả là văn bản khả dĩ do ông xác lập cũng có nội dung gần với bài thơ được chép xưa nhất trong
LNCQ. Xem Trần Nghĩa: Thử xác lập văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Bđd, tr.24-32.
27. Phan Huy Lê:
Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Sđd, tr.73.
28. Sách
ĐVSKTT, Kỷ nhà Lê, Đại Hành Hoàng đế, chép: “Năm Tân Tị, [Thiên Phúc] năm thứ 2 [Tống Thái Bình Hưng Quốc năm thứ 6]. Mùa xuân, tháng 3, Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng đến Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Vua tự làm tướng đi chặn giặc, sai quân sĩ đóng cọc ngăn sông. Quân Tống lui, lại đến sông Chi Lăng. Vua sai quân sĩ trá hàng để dụ Nhân Bảo, nhân đó bắt được Nhân Bảo đem chém. Bọn Khâm Tộ nghe tin quân thuỷ thua trận, dẫn quân về. Vua đem các tướng đánh, quân của Khâm Tộ thua to, chết đến quá nửa, thây chất đầy đồng, bắt được tướng giặc là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân đưa về Hoa Lư. Từ đó trong nước rất yên” (
ĐVSKTT, Sđd, tr.330-221).
Từ cách ghi chép trên của
ĐVSKTT cũng có nhà nghiên cứu cho rằng “Lê Hoàn (Lê Đại Hành) có đánh nhau với quân Tống năm 981, dụ bắt được tướng Tống là Hầu Nhân Bảo, nhưng sự việc này xảy ra ở sông Chi Lăng (Lạng Sơn) chứ không phải ở sông Cầu (Hà Bắc), nơi có đền thờ Trương Hống được gán cho là tác giả của bài thơ Nam quốc sơn Hà (Trần Nghĩa: Thử xác lập văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Bđd, tr.32). Theo bản A.2914, Lê Đại Hành dựng luỹ chống cự với địch ở sông Đồ Lỗ. Hiện nay chúng tôi chưa tìm được tư liệu nào nói về con sông này, dựa vào sự thay đổi tên sông này thành địa danh Phù Lỗ trong truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát ở sách
VSDA: “Đến thành Phù Lỗ đóng vây, quân ta quân nó đôi bên ngất trời” chúng tôi cho rằng sông Phù Lỗ (bắt giặc) có thể lúc nào đó đã được gọi là sông Đồ Lỗ (giết giặc) chăng. Có lẽ còn phải tra cứu thêm, nhưng theo
ĐNNTT, sông Nguyệt Đức (tức sông Cầu) có một nhánh “bắt nguồn từ sông Bạch Hạc, tỉnh Sơn Tây, chia ra chảy qua địa phận các huyện Yên Lãng và Yên Lạc (xem Sơn Tây tỉnh chí) vào địa phận huyện Kim Anh, rồi chảy về phía đông 43 dặm làm sông Phù Lai, sông Hương Da, sông Phù Lỗ, lại chảy 53 dặm, đến sông Lương Phúc, huyện Thiên Phúc, hợp với sông Hương La, đấy là ngã ba, lại chảy qua địa phận các huyện Hiệp Hoà, Yên Phong, Việt Yên và Võ Giàng, gồm 112 dặm, đến sông Phả Lại huyện Quế Dương, vào sông Đại Than, huyện Gia Bình, hợp với sông Thiên Đức suốt đến sông Phao tỉnh Hải Dương, đấy là một nhánh của sông Lục Đầu” (
ĐNNTC. Sđd., tr.78). Như vậy từ sông Phù Lỗ có thể ra đến cửa biển Đại Than, là địa điểm có trong truyền thuyết khi quân Tống đặt chân sang nước ta.
Dựa vào nguồn sử liệu thời Tống như
Tống sử bản kỉ,
Tục tư trị thông giám trường biên,
Tống sử,
Tống sử liệt truyện... cũng như nguồn sử liệu nước ta như
VSL,
ĐNNTC gần đây các nhà nghiên cứu sử học Việt Nam đã đi đến kết luận: “Hầu Nhân Bảo bị bắt và giết trên sông Bạch Đằng, không phải ở sông Chi Lăng như
Toàn thư ghi chép” (Nguyễn Minh Tường: Trận Bạch Đằng năm 981. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tạp chí
Xưa nay, số 86/2001; Trần Bá Chí:
Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất. Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1992, tr.37). Và năm 981, cũng có một trận Đồ Lỗ “là nơi gần gũi với sông Cầu và sông Cà Lồ, vì Bình Giang chính là sông Cầu, còn Như Nguyệt là chỗ sông Cà Lồ đổ vào sông Cầu) (Nguyễn Vinh Phúc: Có một trận Bình Lỗ năm 981. Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Tạp chí
Xưa nay, số 86/2001). Còn địa điểm Đại Than là “bãi giữa sông Thiên Đức (sông Đuống) với ở xã Đại Than, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, nay là Xã Cao Đức, huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc, gần chỗ tiếp giáp với sông Lục Đầu (là khúc sông giáp giới hai tỉnh Hà Bắc và Hải Dương, nơi tập trung của ba con sông: sông Đuống (Thiên Đức), sông Cầu (Nguyệt Đức) và sông Thương (Nhật Đức). Đây là địa điểm mà tất cả các bản
LNCQ nhóm Hai đã ghi chép khi quân Tống sang xâm lược nước ta. Cũng theo các nhà nghiên cứu sử học thì đại bản doanh của Lê Đại Hành có thể ở vùng Chí Linh, Hải Dương. Nếu đúng như nhận định trên thì có thể từ sông Đồ Lỗ (tức từ đoạn sông Cà Lồ đổ vào sông Cầu) cho đến sông Đại Than là phòng tuyến chống giặc Tống của quân ta thời đó.
Như vậy, thời gian, địa điểm xảy ra chiến trận trong truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát trong bản
LNCQ A.2914 xưa nhất đều phù hợp sự thật lịch sử và đã được các nhà nghiên cứu lịch sử xác nhận.
(**) Chúng tôi xin chân thành cảm ơn PGS. Trần Nghĩa đã góp nhiều ý kiến quý báu cho bài viết này.
Chú thích: