Nguyễn Đức Toàn
(1) Theo Các nhà khoa bảng Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. Văn học. H. 1993, thì sau khoa thi của Vũ Phạm Hàm (1892) thì không còn ai đỗ Thám hoa.
(2) Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng - Nguyễn Bá Thế, Nxb. KHXH, 1991.
(3) 夢湖家集 - HV58 - Viện Sử học.
(4) 探花文集 - VHv.528 - Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(5) Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn, Phạm Đức Thành Dũng chủ biên, Nxb. Thuận Hoá, H. 2001.
(6) Vị “Tam khôi” cuối cùng. Nguyễn Duy Cách, Nhân Dân cuối tuần số 35 (709) / 1-9-2002.
(7) Phó Hàm (239-294) tự là Trường Ngu, người Thiểm Tây, sống ở thời Tây Tấn, từng giữ các chức Thượng thư tả thừa, Ti bỉnh hiệu uý thời Vũ Đế và Huệ Đế, giỏi thơ văn, có thi tập còn truyền.
(8) Vương An Thạch (1021-1086) tự là Giới Phủ, hiệu Bán Sơn, người Vũ Châu, Tể tướng thời Tống Thần Tông. Ông học rộng, văn chương chuộng thực dụng, giúp đời.
(9) Văn Thiên Tường (1236-1283) tự là Tống Thuỵ hiệu Văn Sơn, bị quân Nguyên bắt, bất khuất không phục, có truyện chép trong Tống sử.
(10) Hoàng Chi Tuấn (1668-1748) đậu Tiến sĩ thời Khang Hi, là người yêu thích sách, nhà có hơn 2 vạn quyển sách.
(11) Hương Xu thể thi là thơ của phụ nữ, về các đức tốt đáng được ngợi khen.
(12) 集句史論- VHv.1761/1-3 Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(13) Thập tam kinh: Là 13 bộ sách kinh điển của Nho gia: Dịch, Thi, Thư, Lễ, Xuân Thu, Chu lễ, Nghi lễ, Công dương, Cốc lương, Hiếu kinh, Luận ngữ, Nhĩ Nhã, Mạnh Tử.
(14) 昇 龍 三 十 六 詠. A.378 - Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(15) Tìm hiểu các thể thơ, Lạc Nam, Nxb. Văn học, H.1993, tr.45.
(16) Tìm hiểu các thể thơ, sđd, tr.47.
(17) Đường thi tuyển dịch, Lê Nguyễn Lưu, Nxb. Thuận Hoá, H. 1997.
(18) b1,b5: là chỉ vị trí câu trích dẫn trong bài 1 và bài 5 của Tập Đường thuật hoài.
Chú thích: