(1). Phan Văn Các:
Cổ duệ từ – khúc hát gõ mái chèo, Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, H. 1999, tr.3.
(2). Lương Sằn Dư 梁莘畬: chữ 畬 có hai âm là “Dư” và “Xa”, khi đi với chữ “Sằn” 莘 thì phiên là “Dư” hợp lí hơn. Tuy nhiên, cũng tên nhân vật này trong Vực ngoại từ tuyển in là 梁萃畬, theo đó có thể phiên là “Lương Tuỵ Dư” và “Lương Tuỵ Xa” (Xem các bộ vận thư: Đường vận, Tập vận).
(3). Bản dịch này công phu, nhưng tiếc là chưa được toàn mĩ vì một số bài từ ngắt câu chưa thực chuẩn.
(4). Phan Văn Các, sđd, tr.17-19.
(5). Lí Tề Hiền là người Triều Tiên, có thể coi là danh gia từ học Triều Tiên, sáng tác dưới ảnh hưởng từ phong của Tô Đông Pha và Nguyên Hiếu Vấn. Tuy nhiên do ông ta sống nhiều năm ở Trung Quốc nên trong một số sách của Trung Quốc, nhất là các sách về thể loại từ thường coi ông là tác giả từ Trung Quốc.
(6). Phan Văn Các, sđd, tr.19.
(7). Xem chú thích 2 ở trên.
(8). Trần Nghĩa: “
Cổ duệ từ của Miên Thẩm dưới dạng toàn vẹn của nó”, in trong
Thông báo Hán Nôm năm 2001, Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, H. 2002, tr.385-392.
(9). Tên nhân vật này ở bản Vực ngoại từ tuyển in là Dư Đức Nguyên 余德源.
(10). Dịch từ
Từ học quý san, số 2, quyển 3, tr.102-123.
(11). Hạ Thừa Đảo:
Vực ngoại từ tuyển, Thư mục văn hiến xuất bản xã, 1981, tr.155.
(12). Huống Chu Di:
Huệ Phong từ thoại (quyển 5), Nhân dân văn học xuất bản xã, Bắc Kinh, 1960, tr.124.
(13). Phạm Văn Ánh: “Bài tựa
Cổ duệ từ của Miên Thẩm”, Tạp chí Hán Nôm, số 3, năm 2010.
(14). Hạ Thừa Đảo, sđd, tr.1.
(15). Trần Nghĩa: Bđd, tr.385-392.
(16). Hà Thiên Niên 何仟年 (Trung Quốc): “Điền từ và từ học ở Việt Nam – Một [nghiên cứu] trường hợp về thể loại văn học trong bối cảnh di thực của văn hoá Hán” 越南的填詞及詞學-漢文學移植背景下的文体案例, đăng trên
Học báo Đại học Quảng Tây 廣西大學學報, số tháng 6 năm 2008, tr.109.
(17). Từ tập còn lại là
Mộng Mai từ lục của Đào Tấn. Từ tập này chép lẫn nhiều tác phẩm từ của Trung Quốc, theo giám định, nhiều nhất chỉ có 17/60 tác phẩm trong từ tập này là của Đào Tấn (Xem: Phạm Văn Ánh: “Sự thực nào cho
Mộng Mai từ lục”,
Tạp chí Văn học, số 9 năm 2009 và “Thêm một số lưu ý về
Mộng Mai từ lục của Đào Tấn”,
Tạp chí Hán Nôm, số 3 (106) – 2011).
(18). Theo khảo sát của chúng tôi đến thời điểm hiện nay, các tác giả từ Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII hiện còn khoảng 91 tác phẩm từ, viết theo 58 điệu.
(19). Mấy chữ “Tiền thân có bàn chân sắt” trong bài thơ của Hạ Thừa Đảo, vốn lấy ý từ bài
Sơ liêm đạm nguyệt vịnh hoa mai của Miên Thẩm: “…Bản lai diện mục / Quân ưng tri ngã / Tiền thân thiết cước” (Bản lai diện mục / Người nên biết tớ / Tiền thân chân sắt). “Chân sắt” (Thiết cước) tức Thiết Cước đạo nhân, tương truyền là một vị đạo sĩ thời cổ, thích ăn hoa mai với tuyết, có người hỏi lí do, ông nói: “Ta thích cái lạnh của tuyết và hương thơm của hoa mai ngấm vào tận phế phổi”.
(20). Mai thắm: dịch từ chữ “hồng ngạc”. Theo logic bài thơ, trước nó đến Thiết Cước đạo nhân là người thích ăn hoa mai, nên “Hồng ngạc” ở đây chỉ hoa mai. Bài từ điệu
Nhất ngạc hồng của Khương Quỳ có câu: “Cổ thành âm / Hữu quan mai kỉ hứa / Hồng ngạc vị nghi trâm” (Dưới bóng thành cổ, có mấy cây mai trong phủ quan / Nụ thắm chưa thích hợp để cài lên mái tóc).
(21). Hạ Thừa Đảo, sđd, tr.4.
(22). Thiên Bảo: niên hiệu của Đường Huyền Tông (từ 742 đến 756). Nga Hoàng là vợ của Nam Đường hậu chủ Lí Dực (từ gia kiệt xuất thời Ngũ đại). Trước đó, Đường Huyền Tông từng chế ra khúc
Nghê Thường vũ y, song trải thời gian, đến thời Ngũ đại thì mai một. Nhạc phổ tàn khuyết của bản
Nghê Thường vũ y rơi vào tay Lí Dực, sau được Nga Hoàng bổ sung, chỉnh lí và cho diễn tấu.
(23). Tống Duyện: người thời Đường. Theo
Thái Bình quảng kí: Thái thường lệnh Tống Duyện những người rành âm nhạc, đời gần đây không ai sánh bằng. Thái thường tự bị mất điệu “Chuỷ”, Thẩm Duyện tra cứu âm luật của chuông mà tìm lại được.
(24). Chu Đức Thanh (1277- 1365): người thời Nguyên, tác giả của sách
Trung nguyên âm vận.
(25). Trương Thúc Hạ: tức Trương Viêm (1248-1319?), từ gia thời Tống – Nguyên, tác giả sách
Từ nguyên (gồm 2 quyển, 29 mục, khảo về lã luật, từ nhạc; bàn về phong cách, đặc trưng thể loại…).
(26). Khương Quỳ (1155-1221): từ gia nổi tiếng thời Nam Tống. Nhà từ luận Vương Quốc Duy trong
Nhân gian từ thoại đánh giá rất cao về Khương Quỳ, cho là: từ nhân xưa nay giỏi về cách điệu không ai bằng Bạch Thạch đạo nhân – Khương Quỳ.
(27). Lục Phụ: từ nhân thời Nguyên, tác giả sách
Từ chỉ, tương tự như thầy mình là Trương Viêm, ông cũng đánh giá rất cao về tác phẩm từ của Khương Quỳ.
Từ chỉ là sách chịu ảnh hưởng rất sâu sắc bởi bộ
Từ nguyên của Trương Viêm.
(28). Thảo Đường: tên hiệu của từ gia Chu Mật (1232-1298) thời Nam Tống, tác giả sách
Thảo Đường vận ngữ, 6 quyển.
(29). Trúc Tra: tên hiệu của Chu Di Tôn (1629-1709), từ gia nổi tiếng thời Thanh.
(30). Nhà ngữ nghiệp: tức các từ gia. Ngữ nghiệp là một tên gọi khác của thể loại từ. Theo Vương Chước trong
Bích kê mạn chí (quyển II), “Trần Vô Kỉ (tức từ gia Trần Sư Đạo) sáng tác mấy chục bài [từ], gọi là ngữ nghiệp”.
(31). Tuý biên: tức
Hoa Đường tuý biên, là một tuyển tập từ do Trần Diệu Văn thời Minh tuyển chọn và biên tập, gồm 12 quyển, chủ yếu tuyển tác phẩm từ thời Đường – Tống, thảng hoặc có chọn thêm một số ít tác phẩm từ thời Nguyên.
(32). Theo
Lạc Dương thành tây Già lam kí của Dương Huyễn Chi, Hà Gian vương là Sâm có đến 3 trăm kĩ nữ, thảy đều là hạng sắc nước hương trời.
(33). Hành Dương vương tên là Quân ở nước Tề thường tự tay viết bộ
Ngũ kinh nhỏ, cho vào rương nhỏ, để tiện cho việc đọc sách.
(34). Cương vực: nguyên văn là “Bức viên” 幅隕. Chữ “viên” 隕, nguyên bản khắc nhầm bộ “phụ” 阜 thành bộ “cân” 巾. Hai chữ “Bức viên” lấy chữ từ thơ
Trường phát trong phần
Thương tụng của
Kinh Thi: “Ngoại đại quốc thị cương / Bức viên kí trường” 外大國是疆 / 幅隕既長, nghĩa là: Lấy các nước chư hầu bên ngoài làm biên giới / Cương vực đã rộng lớn.
(35). Từ học: ban đầu chỉ sự học về từ chương nói chung, đến thời Minh – Thanh mới chuyên chỉ việc điền từ. Điền Đồng Chi thời Thanh trong tác phẩm
Tây phố từ thuyết cho rằng cái đạo ỷ thanh (điền từ), nhân “cung điệu thất truyền, từ học cũng dần rối loạn vậy”. Các học giả Trung Quốc từ thời cận đại trở đi còn coi từ học là một lĩnh vực học thuật chuyên biệt, lấy từ và các vấn đề hữu quan của nó làm đối tượng nghiên cứu.
(36). Cây vực sum suê: nguyên là “Vực bốc”, nghĩa là cây vực mọc thành bụi đan xen vào nhau, cũng là tên một bài trong phần
Đại nhã của
Kinh Thi, ca ngợi thịnh đức của vua Văn Vương nhà Chu; cũng có khi dùng chỉ hiền tài đông đúc.
(37). Cố quân: chỉ Cố Ung, người thời Tam quốc. Mục
Cố Ung truyện, trong phần
Ngô chí sách
Tam quốc chí ghi: “Cố quân không nói [thì thôi], đã nói ắt là trúng”. Bùi Tùng Chi chú dẫn
Giang Biểu truyện của Ngu Phổ thời Tấn rằng: “Tôn Quyền nói: Cố công vui mừng, việc này hợp lẽ vậy; như ông ta không nói thì việc này chưa ổn thoả, quả nhân cần xem xét lại đã.
(38). Nguyên Thứ Sơn: tức Nguyên Kết (919-772), người thời Đường, tự là Thứ Sơn, hiệu là Mạn Tẩu. Tác phẩm có
Thuỷ nhạc thuyết. Nhận xét về tác phẩm này, từ gia Nguyên Hiếu Vấn thời Kim cho là: “Thử xem
Thuỷ nhạc thuyết của Nguyên Kết thời Đường: vốn chẳng có âm hưởng của Cung, Chuỷ, nhưng cũng tự thành thứ nhã nhạc tự nhiên giữa khoảng mây núi”.
(39). Hứa Hữu Phu: từ gia thời Nguyên, cùng Hứa Hữu Nhâm soạn sách
Khuê Đường Khoản nãi tập (2 quyển).
(40). Chân Trường: tức Lưu Chân Trường.
Thế thuyết Tân ngữ dẫn lời của Vương Trọng Tổ nói: “Chân trường hiểu ta, còn hơn ta tự hiểu về mình”.
(41). Thiên
Bát dật sách -
Luận ngữ ghi: Tử Hạ hỏi [Khổng Tử]: “Nét cười tươi quyến rũ, cặp mắt đẹp rạng ngời, trên nền trắng vẽ nên bức hoạ nhiều màu sặc sỡ, là nghĩa thế nào? Khổng Tử đáp: phải có nền trắng rồi sau mới vẽ nên bức tranh. Thưa: [Ý nói] lễ là cái có sau chăng? Khổng Tử khen: Phát khởi được ý ta chính là trò Thương vậy. Thương có thể bắt đầu cùng ta nói về
Thi rồi đó”.
(42). Nguyên văn là “phù đại bạch”. Theo
Thuyết uyển của Lưu Hướng, Nguỵ Văn hầu cùng các đại thần uống rượu, có đưa ra quy định, ai không cạn chén thì bị phạt một chén lớn. “Phạt một chén lớn”, nguyên phải nói là “phạt nhất đại bôi” 罰一大杯, nhưng vì rượu đã ngà ngà nên nói nhịu thành “phù nhất đại bạch” 浮一大白.
(43). Lấy ý từ
Li tao của Khuất Nguyên, ngư phủ gõ mạn thuyền hát: “Sông Thương Lang trong xanh chừ, ta giặt dải mũ; sông Thương Lang ngầu đục chừ, ta rửa chân”.
(44). Tiểu Hồng: ca kĩ của Phạm Thành Đại, sau Phạm Thành Đại tặng lại cho Khương Quỳ.
(45). 28 điệu: Các cung điệu âm nhạc, như: chính cung, cao cung, trung lã cung, đạo điệu cung, nam lã cung, tiên lã cung, hoàng chung cung… Nguyên chú ghi: “phàm cái gọi là ‘tục nhạc’ gồm 28 điệu”.
(46). Nhạc chương: đây dùng với nghĩa là thể loại từ.
(47). Bài hát của Ngư phủ: từ tập này của Miên Thẩm mang tên là
Cổ duệ từ, nghĩa là tập từ của người gõ mái chèo, lấy ý từ
Li tao của Khuất Nguyên. Trong từ cũng có điệu
Ngư phủ, là điệu từ rất nổi tiếng, được sáng tác từ thời Đường (như chùm từ điệu
Ngư phủ của Trương Chí Hoà thời Đường ảnh hưởng lan toả sang cả Nhật Bản), thường dùng viết về cuộc sống ẩn dật.
(48). Tiểu thuyết mua vui: nguyên văn là “bài ưu tiểu thuyết”, một thể loại văn học có tính chất hài hước. Qua cách nói này, có thể thấy cho dù rất dụng công trong việc điền từ song Miên Thẩm vẫn coi từ là thể loại văn học giải trí, không có vị trí trang trọng như thơ ca nói chung.
(49). “Bút ý thanh không” được thể hiện trong
Cổ duệ từ như thế nào đòi hỏi những phân tích sâu, chúng tôi sẽ trình bày trong một bài viết khác.
Chú thích: