13/07/2026 01:35Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới
Đăng bởi Vòng Xoay Định Mệnh vào 09/07/2009 10:11
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầuTrong khuynh hướng này, nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du vượt khác hẳn các thi nhân khác, kể cả những thi sĩ Tây phương, vốn rất thiện nghệ trong lối tả cảnh ngụ tình. Trong khi các thi sĩ này chỉ đi một chiều, nghĩa là chỉ tìm những cảnh vật nào phù hợp với tâm trạng của con người thì mới ghi vào, còn Nguyễn Du thì vừa đưa cảnh đến tâm hồn con người, lại đồng thời vừa đưa tâm hồn đến với cảnh, tạo nên một sự giao hoà tuyệt vời hai chiều giữa cảnh và người, giữa cái vô tri và cái tâm thức để tuy hai mà một, tuy một mà hai. Ví dụ như khi chị em Kiều đi lễ Thanh Minh về, tới bên chiếc cầu bắc ngang một dòng sông nhỏ gần mả Đạm Tiên, thì cả người lẫn cảnh đếu cảm thấy nao nao tấc dạ trong buổi chiều tà:
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Nao nao dòng nước uốn quanh“Nao nao” chỉ tâm sự con người, nhưng cũng chỉ sự ngập ngừng lãng đãng của dòng nước trôi dưới chân cầu. Hình ảnh một mảnh trăng khuyết soi nghiêng nhìn Kim Trọng khi chàng nửa tỉnh nửa mê, chập chờn với hình ảnh Kiều sau lần gặp gỡ đầu tiên:
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Chênh chênh bóng Nguyệt xế mànhChàng biếng nhác cả việc sách đèn, để phòng đọc sách lạnh tanh với tiếng gió quạnh hiu phập phồng qua màn cửa:
Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu
Buồng văn hơi giá như đồngRồi những giờ phút thề ước ba sinh đã qua, khi phải tạm xa nhau thì dòng sông kia bỗng sao trở thành kẻ khắt khe để chia rẽ duyên tình:
Trúc se ngọn thỏ tơ chùng phím loan
Mành Tương phất phất gió đàn
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.
Sông Tương một giải nông sờMột đoạn tả cảnh khác, tình người ẩn sâu trong cảnh vật. Đó là cảnh Kim Trọng sau khi hộ tang cha, về tìm lại Kiều nơi vườn Lãm Thuý, nhưng người xưa nay còn thấy đâu, chỉ còn cảnh vườn hoang cỏ dại lạnh lùng dưới ánh trăng.
Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia
Đầy vườn cỏ mọc lau thưaLần thứ hai, Kim Trọng tìm về nhà Vương Viên Ngoại để hỏi thăm Kiều thì cảnh nhà bây giờ thật sa sút, sân ngoài cỏ hoang mocï dại, ướt dầm dưới cơn mưa, tiêu điều như nỗi buồn tênh trong lòng chàng:
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời
Một sân đất cỏ dầm mưaKhi Kiều ở lầu Ngưng Bích, nhìn qua song cửa thấy cảnh biển chiều hôm, với những cánh buồm xa xa lại tưởng tới thân phận bọt bèo không định hướng của mình:
Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẩn dường
Buồn trông cửa biển chiều hômLúc Kiều theo Mã Giám Sinh về Lâm Tri, thì lòng nàng cũng chẳng thực sự là vui mà buồn hiu hắt như hàng lau bên vệ đường:
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Gió chiều như gợi cơn sầuVà khi theo Sở Khanh để trốn Tú Bà, thì cảnh một đêm thu có trăng sáng, nhưng cũng lạnh lùng cũng chẳng khác chi tâm sự rối bời của Kiều:
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu
Lối mòn cỏ nhạt màu sươngLúc thất vọng não nề, muốn gieo mình xuông sông Tiền Đường cho rũ nợ trần, tâm sự Kiều cũng như mảnh trăng sắp tàn, chẳng còn chút gì lưu luyến nơi thế gian:
Lòng quê đi một bước đường một đau
Mảnh trăng đã gác non đoàiLối tả chân
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong
Đánh tranh chụm nóc thảo đườngHoặc chỉ một vài nét chấm phá mà người đọc đã hình dung ra cảnh một mái tranh nghèo rách nát tơi tả theo tháng ngày:
Một gian nước biếc mây vàng chia đôi
Nhà tranh vách đất tả tơiHoặc bức tranh sơn thuỷ của một khung trời chiều long lanh phản chiếu trên mặt sông êm ả:
Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa
Long lanh đáy nước in trờiHay bóng liễu rủ bên cầu và thướt tha soi bóng trên sông tạo nên một khung cảnh đẹp mộng thơ:
Thành xây khói biếc non phơi ánh vàng
Dưới cầu nước chảy trong veoKhi chị em kiều đi viếng mộ Đạm Tiên, thì cảnh vật cũng theo đó đìu hiu ảm đạm: cơn gió đìu hiu lay động một vài cành lau trên vùng cỏ mờ nhạt theo sương chiều:
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha
Một vùng cỏ áy bóng tàCảnh thanh tịnh của ngôi chùa Giác Duyên nơi Kiều đã được cứu vớt, mà đường tới thì quanh co theo giải sông, có khu rừng lau như cách biệt với cuộc sống rộn rã bên ngoài:
Gió hiu hiu thổi một vài bông lau
Quanh co theo giải giang tânNghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du tuyệt vời đến nỗi Giáo sư Nghiêm Toản đã có nhận định như sau: “Trong Đoạn trường tân thanh, luôn luôn có những bức tranh nho nhỏ như những hạt kim cương rải rác đính trên một tấm thêu nhung” (Việt Nam văn học sử trích yếu).
Khỏi rừng lau đã tới sân Phật Đường
Gương nga chênh chếch dòm songLối tả cảnh tượng trưng
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân
Vi lô san sát hơi mayĐó là một cảnh một rừng vi lô trong mùa thu xám có gió heo may, lành lạnh. Lối tả cảnh này có thể Nguyễn Du chỉ viết theo nghệ thuật cảm quan của mình chứ không hề nghĩ rằng mình đang tạo ra một lối vẽ cảnh một cách tượng trưng bằng những vần thơ. Mãi đến hơn một thế kỷ sau, tức vào thế kỷ 19, lối tả cảnh tượng trưng nay mới phát triển thật mau tại Pháp mà các nhà phân tích văn học gọi là Symbolists. Đó là sự nhận định của Giáo sư Hà Như Chi.
Một trời thu để riêng ai lạnh lùng
Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêngĐó là cảnh mặt trời chiều bâng khuâng nghiêng mình soi bóng trước mái hiên nhà để rồi chuyển sang, ẩn vào tâm tư riêng của một cõi lòng Kiều cô đơn. (Cần chú ý thêm là cách dùng điệp ngữ một cách tài tình khéo léo của Nguyễn Du, với chữ “nghiêng” và “riêng”được lập đi lập lại nhiều lần mà vẫn cảm thấy hay).
Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mình
Người lên ngựa kẻ chia bàoĐó là sự phân ly buồn bã tuy chỉ giữa hai người, nhưng đã làm ảm đạm cả một vùng cảnh vật chung quanh.
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Cửa bồng vội mở rèm châuNói về nghệ thuật tả cảnh tượng trưng này, giáo sư Dương Quảng Hàm đã viết: “tả cảnh thì theo lối phác hoạ mà cảnh nào cũng linh hoạt”.
Trời cao sông rộng một màu bao la.
Cỏ non xanh tận chân trờiThật là một bức tranh màu sắc thanh nhã tuyệt hảo: trên thảm cỏ xanh mướt bao la, nổi những bông hoa lê trắng tinh. Chỉ có hai màu xanh và trắng như nỗi thanh khiết của tâm hồn chị em Kiều đi dự lễ thanh minh. Ở đây cũng cần để ý tới lối đảo chữ tài tình của Nguyễn Du. Thay vì “cành lê điểm một vài bông hoa trắng” thì Nguyễn Du đã viết: “cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Tất nhiên có thể Nguyễn Du đã phải đảo chữ chỉ vì tôn trọng luật “bằng trắc” của thơ lục bát, nhưng cũng phải công nhận đó là một lối đảo chữ tài tình mà không phải ai cũng làm được.
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Một vùng cỏ mọc xanh rìHay cảnh lung linh ánh nước soi chiếu mây vàng của hoàng hôn:
Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu.
Long lanh đáy nước in trờiMột cảnh khác mà màu sắc lại buồn ảm đạm, chỉ có màu nâu của đất, màu xanh vàng của cỏ úa chen chân bên cái thấp lè tè của gò đất mả Đạm Tiên:
Thành xây khói biếc non phơi ánh vàng.
Sè sè nắm đất bên đườngNói chung, Nguyễn Du chú trọng nhiều đến màu sắc của thiên nhiên, đặc biệt là của hoàng hôn, của cây cỏ, của trăng và của nước là những màu sắc thi vị, nhưng lại gieo ấn tượng cho một nỗi buồn xa xăm, cũng chỉ vì Truyện Kiều mang bản chất nhiều nỗi buồn hơn vui.
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
Dưới trăng quyên đã gọi hèLối dùng chữ trang nhã và bình dân trong tả cảnh
Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông
Tà tà bóng ngả về tâyThế rồi gặp cảnh mả Đạm Tiên đắp vội, chỉ còn một nắm đất thấp “sè sè” bên đường, chen lẫn vài ngọn cỏ úa:
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Sè sè nắm đấ bên đườngRồi ngọn gió gọi hồn “ào ào” thổi tới như muốn nhắn nhủ điều chi:
Rầu rầu ngon cỏ nửa vàng nửa xanh.
Ào ào đổ lộc rung câyHay cảnh vườn Thuý khi Kim Trọng trở lại tìm Kiều mà không thấy nàng, chỉ thấy cánh én xập xè bay liệng trên mặt đất hoang phủ đầy rêu phong:
Ở trong dường có hương bay ít nhiều.
Xập xè én liệng lầu khôngVà đêm xuống ánh trăng soi “quạnh quẽ” lẻ loi nơi vườn vắng, tri âm chỉ còn là những cọng cỏ dại mọc lưa thưa:
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giầy
Đầy vườn cỏ mọc lau thưaChính vì Nguyễn Du đã kết hợp được cả hai lối hành văn bác học và bình dân một cách tài tình nên Truyện Kiều đã được tất cả mọi giai tầng trong xã hội đón nhận thưởng thức một cách nhiệt thành. Những chữ mộc mạc bình dân đã chứng tỏ một bước tiến của nền văn chương Việt Nam trên con đường xa dần ảnh hưởng của chữ Hán chữ Nôm mà Nguyễn Du đã tiên phong dấn bước.
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời
Gương nga chênh chếch dòm song“Gương nga” chỉ mặt trăng, do tích Hằng Nga, mỹ nhân, vợ của Hậu Nghệ, đánh cắp và uống hết thuốc tiên mà Hậu Nghệ xin được của bà Tây Vương Mẫu. Hằng Nga hoá tiên và bay lên mặt trăng. Từ đó người ta thường gọi mặt trăng là Gương Nga hay chị Hằng, chị Nguyệt. Hai câu thơ khác:
Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân
Sông Tần một giải xanh xanhSông Tần lấy từ câu “dao vọng Tần Xuyên, can trường đoạn tuyệt” ý nói ở xa nhìn nước sông Tần như nát gan xé ruột. Dương Quan là tên một cửa ải xa ở phía tây nam tỉnh Cam Túc. Cả hai điển tích trên đều mang ý nghĩa một sự nhớ nhung khi xa cách. Đó là lúc Thuý Kiều tiễn đưa Thúc Sinh trở về thăm vợ cũ là Hoạn Thư. Hay:
Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan
Trước lầu Ngưng Bích khoá xuânChữ Khoá Xuân lấy từ điển tích Châu Du bị gió đông cản việc phóng hoả đốt trại Xích Bích, nên Đài Đồng Tước không bị cháy, nhưng chính vì đó mà đã khoá chặt tuổi xuân hai chị em tên Đại Kiều và Tiểu Kiều, một người vợ Tôn Sách và một người vợ Châu Du.
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Đông phong bất dữ Chu lang tiện,Hai câu thơ trên ngụ ý tả cảnh lầu Ngưng Bích như là nơi đã khoá kín tuổi xuân của Thuý Kiều.
Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều.
Trước sau nào thấy bóng ngườiHai câu này lấy từ điển tích nho sinh Thôi Hộ đời nhà Đường, trở về Đào Hoa Trang để thăm người con gái năm xưa đã dâng cho chàng nước uống trong lúc dự hội Đạp Thanh. Nhưng người đẹp đã vắng bóng dù cảnh cũ vẫn còn đấy, chìm ngập trong ngàn cánh hoa đào phe phẩy dưới nắng xuân. Thôi Hộ đã viêt hai câu thơ nguyên văn văn:
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Nhan diện bất tri hà xứ khứ,Tóm lại, nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du thật là muôn hình vạn trạng. Nghệ thuật ấy chẳng khác gì nghệ thuật vẽ một bức tranh thuỷ mạc, nhiều khi chỉ một mảnh trời, một ánh trăng, một cành liễu, một dòng nước hay một áng mây hoàng hôn... v..v. Chỉ thế thôi, nhưng chữ dùng về màu sắc và cách sắp đặt cảnh gần xa thật tài tình đã đủ lôi cuốn tâm hồn người đọc, như để cùng chung hoà vào cảnh vật. Một điều không thể chối cãi được là Nguyễn Du rất yêu cảnh thiên nhiên nên đã ban cho cảnh thiên nhiên một “hồn người” khiến cho không ai đọc thơ tả cảnh của Nguyễn Du mà không khỏi bồi hồi tấc dạ.. Giá trị văn chương tả cảnh của Nguyễn Du đã đạt tới mức tinh diệu để chỉ riêng một lãnh vực tả cảnh không thôi, cũng đủ Truyện Kiều không hổ thẹn để xứng đáng là một tác phẩm văn chương quốc ngữ hay nhất trong kho tàng văn học của nước ta.
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Du» Truyện Kiều » Nghệ thuật tả cảnh của thi hào Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”