15/03/2026 17:18Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới
Đăng bởi Vanachi vào 12/08/2008 08:59
Nắng mưa là bệnh của trờihoặc
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng
Hồn anh như hoa cỏ mayCho nên khi gặp cái chất hào sảng, khí phách trong Hành phương Nam thì người đọc cảm thấy bất ngờ, thú vị:
Một hôm cả gió bám đầy áo em...
Đôi ta lưu lạc phương Nam nàyTôi thích nhất là những câu xưng hô “ta với nhà ngươi”:
Đã mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến ngập trời hoa rượu nở
Riêng ta nhà ngươi buồn vậy thay...
Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ“Ta” thì đã hẳn là Nguyễn Bính, nhưng còn “nhà ngươi”?
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười...
...
Ngươi ơi, ngươi ơi hề ngươi ơi
...
Ngươi về bên ấy sao mà lạnh
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi.
Trải bao nhiêu núi sông rồi“Hai ta lưu lạc phương Nam này”, dù nổi tiếng như cồn song giữa chốn phồn hoa đô hội “giàu sang một bước, công danh một giờ”, Nguyễn Bính vẫn ân cần dặn dò bạn “giữ cho trọn tấm lòng vàng”...
Đến đây lại vẫn hai người chúng ta
Con đò thì nhớ sông xa
Con người hỏi nhớ quê nhà bao nhiêu?
Cùng thơ và lại cùng nghèo
Thương nhau được mãi nên chiều được nhau
Rối lên, ôi những mái đầu
Sáng lên vô hạn, ôi màu mắt xanh
Ở đây cát bụi kinh thành
Giàu sang một bước, công danh một giờ
Anh em mình, một dòng thơ
Lấy chi ngoi được lên bờ vinh quang
Giữ cho trọn tấm lòng vàng
Võng đào tán tía nghênh ngang mặc người”
(bài Trải bao nhiêu núi sông rồi)
Lối đỏ như son tới Xóm DừaCòn đây là khổ thơ cuối:
Ngang cầu điểm điểm giọt mưa thưa
Xuân sang xao xuyến lòng tôi quá
Tôi đã xây tròn sự nghiệp chưa?
Ở lại kinh thành với bút nghiênÔng chủ nhiệm tờ Dân Báo không thích hai câu cuối, nên nói với Tế Xuyên nhờ thi sĩ sửa lại. Nể bạn, Nguyễn Bính thay bằng:
Đêm đêm quán trọ thức thi đèn
Làm thơ bán lẻ cho thiên hạ
Thiên hạ đem thơ đọ với tiền.
Xót xa một sớm soi gương cũHai câu này cũng chưa làm ông chủ báo hài lòng, đề nghị sửa thêm lần nữa. Nguyễn Bính khước từ. Báo sắp lên khuôn, bài thơ đã được “rao” (quảng cáo) trước, thành thử Tế Xuyên phải năm lần bảy lượt làm thuyết khách. Cuối cùng thì bài thơ cũng được đăng báo, nằm ở vị trí trang trọng với hai câu cuối như sau:
Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền!
Xót xa một sớm xoè năm ngónHai ngày sau khi báo phát hành, Nguyễn Bính đến toà soạn đòi nhuận bút (các báo hồi đó chưa có chế độ nhuận bút, chỉ có những cây bút nổi tiếng thì chủ báo mới bất đắc dĩ chi cho một khoản tiền khiêm tốn - NV). Ông chủ tờ Dân báo bảo thủ quỹ trao cho Nguyễn Bính 10 đồng. Nguyễn Bính chê ít, không nhận.
Thấy chết lòng tay vệt trái tim.
Trọc phú ti toe bàn sách vởAnh em “Nguyễn đại gia” cay hơn ăn ớt.
Điếm già tấp tểnh nói văn chương
Chúng coi đồng bạc to hơn núi
Lại học đòi theo thói Mạnh Thường.
Lần này con bước chân điPhần 3: “Từ gác Nam Phong đến thơ” Người xóm Rẫy
Là con không hẹn lần về nữa đâu...
(Lỡ bước sang ngang)
Một mình làm khách gác Nam PhongĐó là những câu mở đầu của chương I (khá dài), toàn những điển tích trong truyện Tàu. Ly kỳ nhất là ở chương II, Nguyễn Bính tự thú mình đã yêu... Ngọc:
Giở Tam Quốc Chí đọc mê mải
Mơ xanh uống rượu luận anh hùng
Tóc bạc, ném nghiên tỏ khí khái
Mê gái, cửa thành giết bố nuôi
Thương người, đường hẻm thả giặc chạy...
Cô cháu, Minh hương tuổi mười bảyĐây chỉ là những đoạn trích, còn bài thơ thậm dài được tác giả treo giữa phòng khách, bên cạnh lư trầm luôn toả hương làm cho cả căn phòng luôn ngào ngạt khí thơ. Theo nhà văn Hoàng Tấn thì làm thơ theo thể độc vận mà lại là vận trắc (Rẫy) thì quả là công phu. Đoạn Bính và cô Ngọc chia tay, Hoàng Tấn đề nghị thêm vào hai câu:
Mũi thẳng mi cong tóc mượt dài
Răng đều môi mọng ngực tròn mẩy
Gặp nhau chào nhau rồi quen nhau
Ngày một ngày hai thành luyến ái
Vườn xanh đốm nắng đổi dời luôn
Hai đứa trong vườn đùa ném trái
Dưới gốc ngửa mặt căng áo hoa
Trên cành trái sữa ném như vãi
Trái sữa không lăn vào áo hoa
Ngực tròn trái cứ ném trúng mãi
Vườn trăng cầm tay thương quá đi
Một ngày không gặp nhớ biết mấy
Thơ tôi nàng gối trên đầu giường
Đêm che ánh đèn đọc vụng mãi...
Tôi cười bảo chị: Gả cho tôi
Mộng Tuyết cười theo: Lấy thì lấy
Trao trâm tặng quạt ỡm ờ chi
Trai tài gái sắc vừa đôi đấy..
Rồi tôi khăn gói lại lên đường
Nàng ra bờ sông đứng khóc mãi
Tàu đi xa mấy dặm sông dài
Ngoảnh lại vẫn còn tay Ngọc vẫy
Người ở những mong ngày gặp nhau
Kẻ đi biết khó kỳ quay lại...
Rặng liễu thương ai mà gầy mònBính thích lắm, điền ngay vào nhưng cũng vẽ thêm một ngôi sao làm dấu và chú thích “thơ Hoàng Tấn” rất rạch ròi, sòng phẳng.
Hàng cau nhớ ai mà vẫy vẫy.
Có những dòng sông chảy rất mauSau khi Nguyễn Bính cuốn chiếc nóp để vào một góc đình. Kiên Giang mới kịp ngắm trang phục của nhà thơ: quần soóc, chiếc áo sơ mi đã cũ, vạt sau dài hơn vạt trước. Nhà thơ đi xuống mé sông rửa mặt rồi kéo vạt áo sau lên lau. Kiên Giang thỏ thẻ mời nhà thơ đi thưởng thức cà phê Quảng Phát - ngay chợ Rạch Giá, gần tiệm thuốc tây Nguyễn Khoa Dai. Khi Kiên Giang hỏi sao nhà thơ không ở nhà ông Ng.Đ.L nữa? Nguyễn Bính cười buồn bảo rằng tại bà vợ ông này đẹp quá, mái tóc xoã dài cứ nằm trên võng ngâm thơ... Nguyễn Bính! Ông chồng phát ghen, có cử chỉ sao đó nên Nguyễn Bính buồn, bỏ ra ngoài đình ngủ. Kiên Giang sực nhớ cách đó không xa có căn nhà bỏ trống của một người coi giữ sân banh (sân bóng đá), nên đã cùng Nguyễn Bính đi tìm người này điều đình để nhà thơ có chỗ trú thân.
Nhớ chi nghĩa bến với duyên cầu
Lá vàng hoa đỏ trôi không kịp
Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau.
Từ dạo về đây sống rất nghèoChữ Nguyễn Bính rất đẹp, ông thường chép lại những bài thơ cũ của mình dán đầy lên vách:
Bạn bè chỉ có gió trăng theo
Những phường phú quý xin đừng đến
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu.
Ở đây ngày lại qua ngàyhoặc bài Những người của ngày mai:
Nhà không mở cửa mưa đầy tuần trăng
Quê các anh ở miền Bắc xa xôiDưới mái Mộc Kiều Trang chỉ có hai thầy trò nhưng mỗi bữa ăn thường kéo dài hai, ba tiếng. Vừa ăn vừa đàm đạo chuyện văn chương, chuyện kháng chiến...
Bước chân đi đã biết mấy năm rồi
Xa chiếc cầu ao, xa mái rạ
Cô gái làng gội tóc nước hương nhu...
Quê anh ở miền Trung bát ngát
Bãi cát vàng bờ biển uốn quanh co...
Từ dạo về đây sống rất nghèovà chữa lại:
Bạn bè chỉ có gió trăng theo
Những thằng bất nghĩa xin đừng đếnPhần 5: Người “nghệ sĩ chiến binh” Đồng Tháp Mười
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu...
Đêm đêm mẹ đốt cây hương ngátBà con lối xóm, các cụ phụ lão đến chia buồn cùng gia đình ai cũng nhẩm đọc bài thơ và xuýt xoa khen ngợi. Câu cuối tuy là dịch từ một câu thơ Đường (Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi), nhưng vẫn là một bài thơ hay, hợp thời hợp cảnh. Bà mẹ có con hy sinh cũng cảm thấy tự hào. Tờ giấy báo tử bằng thơ được lồng khung treo trang trọng trên bàn thờ cùng với di ảnh liệt sĩ.
Mẹ khấn đôi lời con có nghe
Vì nước bỏ mình là bất tử
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
Bảy trăm ngàn mẫu đấtGiặc Pháp và bọn bồi bút tay sai luôn tìm cách lôi kéo Nguyễn Bính từ bỏ kháng chiến về Sài Gòn với những hứa hẹn hấp dẫn, nhưng Nguyễn Bính vẫn son sắt đi theo cách mạng. Để trả lời chúng, ông viết trường ca Những dòng tâm huyết, kể ra những tội ác của giặc Pháp, cuối mỗi đoạn kể tội là một câu hỏi: “...Đất nước nhục như thế/ Anh ngồi yên sao đành?” Ông còn viết trường ca Hương kể tội giặc Pháp bắt bớ, hãm hiếp phụ nữ. Hai tập trường ca sau được in trên giấy tốt, bìa đẹp gửi thẳng về Sài Gòn thay cho câu trả lời của Nguyễn Bính...
Sớt chia bốn tỉnh miền Nam
Khăng khít biên thuỳ Chùa Tháp
Nằm trong tay trái Cửu Long Giang…
Kể từ khi
Đặt chân lên đất nước này
Giặc Pháp giở trò xâm lược
Ngậm hờn vong quốc
Tháp Mười chung oán hận với non sông…
(Đồng Tháp Mười)
Ai đã từng qua Cửu Long GiangBài thơ được đăng trên báo Tổ quốc của Bộ tư lệnh Khu 8 và mau chóng được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc. Rồi tiếng hát Quốc Hương đã đem Tiểu đoàn 307 đi khắp sông nước Nam Bộ tạo thành một khí thế tiến công dũng mãnh cho toàn lực lượng kháng chiến ở miền Nam (đến bây giờ, bài hát đã tròm trèm 60 tuổi nhưng vẫn được nhiều thế hệ hát vang với tất cả niềm tự hào). Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí đã rất thành công ở bài hát này, tên tuổi của anh cũng theo bài hát mau chóng được nhiều người biết đến. Riêng về đơn ca, ai cũng phải thừa nhận chỉ có ca sĩ Quốc Hương là trình bày bài Tiểu đoàn 307 đạt nhất, có “lửa” nhất. Quốc Hương vừa là ca sĩ vừa là nhạc sĩ sáng tác (các ca khúc tiêu biểu: Tầm Vu, Du kích Long Phú, Đoàn người đi tòng quân...) nên rất nhạy bén khi bắt được cái thần của bài hát. Suốt mấy thập niên, Tiểu đoàn 307 luôn là bài hát “tủ” của Quốc Hương. Nó theo anh từ đồng bằng đến miệt biển, từ rừng núi đến các đô thị và ra cả nước ngoài...
Cửu Long Giang sông trào nước xoáy
Ai đã từng nghe tiếng Tiểu đoàn
Tiếng Tiểu đoàn Ba trăm lẻ bảy
Buổi xuất quân Tiểu đoàn năm ấy
Cả Tiểu đoàn thề dưới sao vàng
Người chiến sĩ tiếc gì máu rơi…
Đoàn quân lẻ bảy
Kể từ hôm ấy
Đánh đâu được đấy
Oai hùng biết mấy…
Cánh chim rời phương NamPhần 7: Bến đậu cho cánh chim giang hồ
Xây tổ cành phía Bắc
Sông núi còn đôi miền
Nhân duyên đà thống nhất!...
Đây đó dù muôn dặm
Trong ngoài đều một lòng
Son sắt ngày thêm thắm
Mừng riêng mà vui chung
Gái đầu lòng xin đặt
Tên cháu là Hiền Lương
Trai đầu lòng xin đặt
Tên cháu là Trường Sơn!...
Kề vai nhau đấu tranh
Cho đến ngày thắng lợi
Chị về thăm quê anh
Cháu về thăm quê nội!...
Tình nghĩa càng vuông tròn
Bắc Nam càng khắng khít
Cung đàn càng véo von
Lời văn càng thắm thiết!…
Hạnh phúc vang lời thơ
Ái ân lừng điệu nhạc
Biển chung thuỷ tràn bờ
Tình yêu thành tuyệt tác!...
Les étoiles, dans leur progressive montéeCó được bài thơ này, nhóm của ông Lý Nhân Phan Thứ Lang bèn nhờ nhà thơ Lê Vĩnh Thọ dịch ngược trở lại tiếng Việt, và đây là Đêm sao sáng của Nguyễn Bính được ông Lê Vĩnh Thọ dịch từ tiếng Pháp qua tiếng Việt:
Donnent plus de profondeur au firmament
Le Fleuve d’Argent dévoile ses rives froides
Où se trouve le Pont bâti par les corbeaux...
Cherchant en vain le chapeau du Génie des Moissons
Je vois un Canard nageant dans l’espace
L’Étoiles du Soir me rappelled tes doux yeux
Au moment du départ, tout hucmectés de larmes...
La Constellation Polaire, de son plus vif éclat
Brille magnifiquement dans un coin du ciel
Toi, au Sud du dix-septième parallèle
Combien d’années tu passai à la contempler!...
Les étoiles innombrables et scintillantes
Eclairent notre patrie sans la diviser
Le ciel oublie parfois de se parer d’ étoiles:
It n’y a pas de nuit où je ne pense à toi.
(12 Janvier, 1959)
Những vì sao càng tiến lên caoKhi đăng lên báo, nhóm chủ trương chỉ chú thích là do ông Lê Vĩnh Thọ nhớ đại khái theo nguyên tác, không dám ghi rõ xuất xứ là dịch từ bản tiếng Pháp vì sợ Bộ Thông tin của chế độ Sài Gòn đục bỏ.
Bầu trời càng rõ vẻ thâm sâu
Ngân Hà để lộ đôi bờ lạnh
Ô Thước còn kia một nhịp cầu...
Nữ Thần Nông tìm hoài không thấy
Anh nhìn con Vịt lội sông Ngân
Sao Hôm như mắt em hiền dịu
Đẫm lệ hôm nao lúc biệt hành...
Long lanh rực rỡ một phương trời
Bắc Đẩu, chòm sao sáng tuyệt vời
Bao năm em ngắm! Em bên đó
Phương Nam bờ vĩ tuyến ngăn đôi...
Vô số vì sao đang lấp lánh
Soi chung quê mẹ cả hai miền
Trời còn có đêm không sao sáng
Anh chẳng đêm nào không nhớ em.
Đêm hiện dần lên những chấm saoQuả là... chuyện hy hữu, một bài thơ của tác giả trong nước mà người trong nước muốn đọc lại phải trải qua một “quá trình nhiêu khê” dịch qua, dịch lại từ tài liệu do người ở nước ngoài cung cấp...
Lòng trời đang thấp bỗng nhiên cao
Sông Ngân đã tỏ đôi bờ lạnh
Ai biết cầu Ô ở chỗ nào?...
Tìm mũ Thần Nông chẳng thấy đâu
Thấy con Vịt lội giữa dòng sâu
Sao Hôm như mắt em ngày ấy
Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu...
Chòm sao Bắc Đẩu sáng tinh khôi
Lộng lẫy uy nghi một góc trời
Em ở bên kia bờ vĩ tuyến
Nhìn sao thao thức mấy năm rồi...
Sao đặc trời sao sáng suốt đêm
Sao đêm chung sáng chẳng chia miền
Trời còn có bữa sao quên mọc
Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em.
Tết này chưa chắc em về đượcTrong hồi ký Để nhớ Nguyễn Bính - những ngày ghé bến Hà Tiên, nữ sĩ Mộng Tuyết cũng đã viết: “...Bính thường quấn quýt bên tôi như một chú em ngoan ngoãn. Bính kể chuyện Hà Nội, chuyện giang hồ, chuyện “chị Trúc - người chị tinh thần đã an ủi Bính trong những lúc buồn nản” và hứa xem tôi như một người chị tinh thần thứ hai...”
Em gửi về đây một tấm lòng
Ôi chị một em, em một chị
Giời làm xa cách mấy con sông
...Tết này, ô thế mà vui chán
Những một mình em uống rượu hồng
Rượu say nhớ chị hồi con gái
Thương chị từ khi chị lấy chồng...
(bài Xuân tha hương)
...Người ấy yêu thương chị nhất đờiNhưng những lời thơ thiết tha, khẩn khoản ấy không ngăn được dòng nước mắt cũng như sự ghen hờn của người thiếu phụ. Nguyễn Bính lại gửi tiếp cho chị Trúc nhưng lời thơ thống thiết:
Trọ qua đêm ấy song người ấy
Với chị đêm nào cũng nhớ thương...
Chị hãy nghe lời em bé đây
Hết buồn, hết khóc từ hôm nay
Vui lên chị ạ rồi đan áo
Em thấy cây vườn sắc lá thay...
(Gửi chị Trúc)
Em thấy hình như chị khóc luônNhững năm đầu thập kỷ 40 thế kỷ trước, trong không khí ngột ngạt của Đệ nhị Thế chiến sắp tràn tới Đông Dương thì những văn thi sĩ miền Bắc lại có phong trào “giang hồ vặt”, thích phiêu bạt, dịch chuyển. Nguyễn Bính cũng đã tỏ ra giận hờn, trách cứ Bùi Hạnh Cẩn khi ông anh bà con của mình “giang hồ bỏ cuộc nửa chừng”:
Mấy ngày môi chị biệt ly son
Buồn không trang điểm, buồn không nói
Ai đã làm cho chị Trúc buồn?...
Em hỏi vì sao? Chị lặng yên
Để lời em hỏi chịu vô duyên
Nhưng rồi chị kể loanh quanh mãi
Em mới hay rằng chị đã ghen
(Chị đã ghen)
Tháng ngày lần lữa trôi quaNăm 1943, mấy nhà thơ, nhà văn trẻ Nguyễn Bính, Tô Hoài, Vũ Trọng Can từ Bắc vào miền Trung, vô Nam rồi lại trở ra. Thời kỳ này, Mạnh Phác và chị Trúc luôn gửi tiền vào Huế “tiếp sức” cho cậu em vốn nghèo mà lại khoái đi giang hồ. Đó cũng là giai đoạn Nguyễn Bính viết Xuân tha hương và Xuân vẫn tha hương:
Gió Đông Nam vắng nghĩ mà buồn tênh
Nằm bên sông Mã xứ Thanh
Tôi buồn khi biết thuyền anh quay về
(Gửi Bùi Hạnh Cẩn)
...Vườn nhà tết đến hoa còn nở?và:
Chị gửi cho em một cành hồng
(Tha hương chẳng gặp người tri kỷ
Một cánh hoa tươi đỡ lạnh lòng...)
Không hiểu vì sao hai đứa lại
Chung lưng làm một chuyến đi đày
Mai đây bỏ Huế rồi quên Huế
Quên được làm sao bữa rượu này...
(Xuân tha hương)
Đêm ba mươi tết quê người cũngChị Trúc chỉ là một hình bóng thoáng qua trong đời thơ Nguyễn Bính nhưng đã được nhà thơ trân trọng, tôn thờ đến hết đời. Ông mồ côi mẹ từ lúc còn ẵm ngửa, thiếu thốn tình mẫu tử lại không có chị, có em gái nào. Thế nên chị Trúc dù không có chút quan hệ huyết thống nhưng lại rất thân thiết, gần gũi trong tâm hồn hết sức nhạy cảm của nhà thơ.
Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương
Chị ạ, em không người nước Sở
Nhớ nhà đâu mượn tích Trương Lương
Đất khách tình dâng nhoà mắt lệ
Ôi nhà, ôi chị... ôi quê hương
(Xuân vẫn tha hương)
Khi làm báo Hà Nam, tôi và Nguyễn Bính có một người bạn chung tên là Đỗ Văn Hứa, người thôn Mạc Hạ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Anh này làm nghề bốc thuốc Đông y nhưng cũng viết báo, làm thơ, lấy bút hiệu là Tân Thanh. Đặc biệt, anh rất yêu thích thơ Nguyễn Bính nên mỗi lần về Ty Văn hoá Hà Nam họp, Tân Thanh lại khẩn khoản mời Nguyễn Bính về nhà mình chơi. Được cái cô Sang - vợ Tân Thanh - là người rất mến khách, mỗi lần chúng tôi về nhà là cô tiếp đón niềm nở, cố lo cho được bữa cơm để chồng tiếp đãi mấy ông anh văn nghệ chứ không hề có một thái độ, cử chỉ tỏ ra phiền hà.Điềm báo
Khi Nguyễn Bính được Ty Văn hoá Hà Nam phân phối một chiếc xe đạp, ông bòn mót mãi cũng chưa đủ nửa số tiền, vợ chồng Tân Thanh đã sốt sắng góp giúp khoản tiền còn lại. Có xe đạp, chỉ cần khoảng nửa tiếng là Nguyễn Bính đã có thể về thăm vợ con (bà Lai - NV) đang sơ tán ở Đại Hoàng. Nhưng bản tính của Nguyễn Bính là thích có bạn tâm sự, cho nên dạo làm ở Ty Văn hoá, cứ hết giờ hành chánh là Nguyễn Bính đạp xe về thôn Mạc Hạ chơi với vợ chồng Tân Thanh. Đối với tôi, vợ chồng Tân Thanh cũng sẵn sàng cho vay tiền mua nhà. Nguyễn Bính thường hay nói với vợ chồng Tân Thanh: “Tôi đến với hai cô chú là vì cái tình. Tôi coi Hứa (Tân Thanh) như thằng em ruột tôi, coi cô như là em dâu nên tôi mới về đây”. Người ta đồn thổi Nguyễn Bính ưa về Mạc Hạ là vì... có Tân Thanh cung phụng rượu chè! Thực ra, Tân Thanh không biết uống rượu. Mỗi lần về Mạc Hạ, hai anh em chuyện trò cho đến tận khuya mới đi ngủ...
Tết Bính Ngọ 1966 - Tết thời chiến nên toà soạn báo dành cho tôi một chế độ riêng: Ba ngày Tết, tôi xuống các đại đội pháo cao xạ ăn Tết với lính, toà soạn coi đó là 3 ngày đi công tác. Mùng 4 Tết tôi mới được nghỉ, đạp xe đi thăm đây đó... 10 giờ ngày mùng 4 Tết, tôi tới nhà Tân Thanh ở Mạc Hạ. Vừa nhìn thấy tôi dắt xe đạp vào trong sân, cô Sang đã nói ngay: “Bác Vũ ơi, bác Bính mất rồi!”. Tôi đứng sững lại: “Ai nói với cô?”. Cô Sang nói tiếp: “Tuần trước, bác ấy đạp xe về nhà em. Trời trở gió, vừa vào tới nhà, bác ấy đã bảo nhà em đưa bác đi bệnh viện. Thời may, bệnh viện huyện lại sơ tán ngay xã em. Bác ấy bị thổ ra máu. Nằm ở bệnh viện huyện 3 ngày, sức khoẻ hơi đỡ, lại về nhà em lấy xe đạp tính về Đại Hoàng ăn tết với vợ con. Hôm ấy đã là 29 Tết rồi.
Thấy bác còn mệt, chúng em sợ bác không đủ sức về tận Đại Hoàng nên cố giữ bác lại ăn Tết cùng chúng em... Sáng sớm 30 (*), nhà em tính sang chỗ hàng xóm chia thịt lợn mang về cái đùi và một ít lòng, tiết canh để hai anh em ăn cơm. Bác Bính bảo nhà em cứ ở nhà ăn với bác bát cơm cái đã. Nể bác, nhà em ngồi nán lại ăn cơm. Bác Bính có thói quen ăn xong là đi rửa tay. Bác vắt khăn lên vai, lò dò bước xuống cầu ao. Bỗng chúng em nghe tiếng bác gọi “Tân Thanh!” Nhà em chạy vội ra sân, thấy bác Bính đang gục xuống bên gốc mít, cạnh hố vôi. Nhà em xốc bác lên, tựa người bác vào ngực mình. Miệng bác đầy máu, bác thổ ra huyết. Nhà em chạy đi gọi anh Huê và anh Đáp, nhờ họ cáng bác lên bệnh viện gấp. Y sĩ khám cho bác ấy xong mới cho nhà em biết bác ấy mất rồi. Nhà em ra bưu điện huyện gọi điện báo tin cho bác Trúc Đường và Ty Văn hoá... Em phải qua chỗ chia thịt lợn với hàng xóm. Cầm suất thịt về em càng thương bác Bính, bác đã đi rồi, ba mươi Tết, bác đã nhìn thấy miếng thịt nào đâu, đã ăn được miếng dồi, miếng tiết nào đâu mà bác đã vội vã ra đi...
KÍNH TẶNG CỤ NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU:Cả hội đồng duyệt bài số báo Tết hôm ấy, ai cũng lặng người. Bài tập Kiều tuy là để tặng cụ Tiên Điền nhưng nghe sao như tâm sự của Nguyễn Bính đang muốn... tổng kết đời thơ của mình, để lại chút gì cho ngày sau. Ai cũng bảo tập Kiều này nghe như “có điềm báo trước”. Nguyễn Bính cười trừ: “Các ông mê tín! Cứ hay là được rồi. Tôi xin nộp bài này. Một câu một chữ không sửa!”.
Cảo thơm lần giở trước đèn
Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa
Trăm năm trong cõi người ta
Một thiên tuyệt bút gọi là để sau
Khen tài nhả ngọc phun châu
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình
Mấy lời ký chú đinh ninh
Rằng tài nên trọng, mà tình nên thương
Khen rằng đáng giá Thịnh Đường
Thì treo giải nhất, chi nhường cho ai
Gẫm câu người ấy, báu này
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào
Nặng vì chút nghĩa xưa sau
Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay
Thương vui cũng tại lòng này
Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời
Lòng thơ lai láng bồi hồi
Tưởng người nên lại thấy người về đây.
Chú thích:
In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Bính » Nguyễn Bính hành phương Nam