17/03/2026 04:16Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới
Đăng bởi tôn tiền tử vào 05/01/2015 22:10
Mơ thấy hái sen (Mộng đắc thái liên)Bài Mộng đắc thái liên, Nguyễn Du làm khoảng năm 1804-1805, sau khi được triệu vào kinh đô Huế thăng chức Đông các học sĩ, chức vụ thân cận vua Gia Long, hàng ngày dâng sách cho vua đọc, bàn luận cùng vua về trị nước, thảo các chiếu biểu cho vua. Nhìn hồ sen hồ Tịnh Tăm, Nguyễn Du không khỏi nhớ đến những ngày mơ mộng hơn mười năm xưa đã cùng nàng cô hàng xóm, hẹn nàng đi hái sen,nàng đã đến trong lòng chàng từ lúc nào, tiếng nàng vọng từ sau khóm hoa. Nguyễn Du kín đáo ví von tình mình như sợi tơ bền vấn vương hoài không dứt. Xắn gọn chiếc quần ống rộng có dây thun phía dưới, phùng ra như cánh bướm, chèo thuyền đi hái sen, nước hồ lai láng, dưới nước in bóng hai người. Hái sen Hồ Tây, hái hoa và hái gương, hoa tặng người mình kính, gương tặng người mình thương. Hôm ấy đi hái sen, hoa Nguyễn Du tặng cho bà Hà, mẹ của Xuân Hương và anh Nguyễn Nể, và gương có lẽ tặng hết cho Phi Mai để nấu chè hột sen! Sáng sớm đi hái sen, hẹn với nàng láng giềng, nàng đến không biết tự lúc nào, sau khóm hoa đã nghe nàng cười nói ròn rã. Ai cũng thích hoa sen, nhưng mấy ai thích thân hoa sen, có những sợi tơ bền, vấn vương không bao giờ dứt. Nguyễn Du đã kín đáo ví lòng mình, mối tình với nàng không bao giờ dứt. Lá sen màu xanh xanh, hoa sen đẹp xinh xinh, vì đâu ai hái đã làm lìa ngó, mà năm sau chẳng có hoa sen?
I.
Xắn gọn quần cánh bướm,
Chèo thuyền nan hái sen.
Nước hồ dâng lai láng,
Bóng người soi nước trong.
I.
Khẩn thúc giáp điệp quần
Thái liên trạo tiểu dĩnh.
Hồ thuỷ hà xung dung,
Thuỷ trung hữu nhân ảnh.
II.
Tây Hồ, hái, hái sen,
Hoa, gương chất mạn thuyền,
Hoa tặng người mình kính,
Gương tặng người mình thương.
II.
Thái, thái Tây Hồ liên,
Hoa thực câu thướng thuyền.
Hoa dĩ tặng sở uý,
Thực dĩ tặng sở liên.
III.
Sáng nay đi hái sen.
Hẹn láng giềng đi với.
Nàng đến tự bao giờ?
Cách hoa nghe cười nói.
III.
Kim thần khứ thái liên,
Nãi ước đông lân nữ,
Bất tri lai bất tri,
Cách hoa văn tiếu ngữ.
IV.
Hoa sen ai cũng yêu,
Cọng sen nào ai thích,
Trong cuống có tơ bền.
Vấn vương hoài không dứt.
IV.
Cộng tri liên liên hoa,
Thuỳ giả liên liên cán.
Kỳ trung hữu chân ty,
Khiên liên bất khả đoạn.
V.
Lá sen màu xanh xanh,
Hoa sen đẹp xinh xinh,
Hái chớ làm lìa ngó,
Năm sau sen chẳng sinh.
V.
Liên diệp hà thanh thanh,
Liên hoa kiều doanh doanh.
Thái chi vật thương ngẫu,
Minh niên bất phục sinh.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ
Đề chùa Trấn Quốc (Đề Trấn Quốc tự)I.5.
Ai người đến đó, khách đài trang,
Nhẹ lướt êm êm cơn gió Nam.
Trăng nước sóng lồng sen nõn cánh,
Khói hương tàn báu hạc bay ngàn.
Rửa niềm trần tục hoa hàm tiếu,
Gợi tỉnh niềm mơ cỏ thấm xuân.
Đến cảnh quay đầu người muốn hỏi,
Đông Nam tay vẫy nhạn tung đàn.
Trang lâm thuỳ thị cảnh trung nhân,
Tế tế thanh phong phiến phiến huân.
Thuỷ nguyệt ba lung liên quải choát,
Hương yên bảo thoại lộ liên vân.
Tẩy không trần lự hoa hàm thoại,
Hoán tỉnh mê đồ thảo diệc xuân.
Đáo cảnh linh nhân hồi thủ vấn,
Đông Nam phất tụ nhạn thành quần.
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ
Hỏi trăngI.6.
Trải mấy thu nay vẫn hãy còn,
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?
Hỏi con Bạch Thố đà bao tuổi?
Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con?
Đêm tối cớ chi soi gác tía?
Ngày xanh còn thẹn với vừng son.
Năm canh lơ lửng chờ ai đó,
Hay có tình riêng với nước non.
Duyên kỳ ngộI.7.
Nghìn dậm có duyên sự cũng thành,
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh,
Tấc gang tay hoạ thơ không dứt,
Gần gụi cung dương lá vẫn lành.
Tên sẳn bút đề đường chỉnh chiện,
Trống mang dùi cắp đã phanh phanh,
Tuy không thả lá trôi dòng ngự.
Chim tới vườn đào thế mới xinh.
Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trìnhChú thích:
Ba sinh tự hẹn nghĩa non vàng
Man mác lòng riêng lại ngỡ càng.
Lối bước đèo mây đành chẳng đã,
Mảnh nguyền hương lửa ngỡ lên đường.
Nước non lời nọ nào chuông chắn,
Trăng gió lòng kia mãi chán chường.
Đày đoạ thân này thôi chẳng tiếc.
Thương sao cho trọn tấm lòng thương.
Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam (Giang Nam phụ níp khiêm lưu biệt hữu nhân)Chú thích:
Khăn gói bây giờ vạn dặm nao,
Trường đình rượu tiễn chén mời trao.
Buồm căng đôi cánh sầu nghiêng nặng.
Sầu nén sông sâu nước chẳng trào.
Cỏ cũ lặng nhìn hương chửa mất.
Xa quê quay ngóng núi quê cao.
Xa nhau còn có ngay gặp lại,
Thề biển tha cho ngọn sóng đào.
Phụ níp kim tòng vạn lý dao,
Trường đình tửu tiễn thượng thù giao.
Muộn đôi phàm tịch thuyền thiên trọng,
Sầu áp giang tâm thuỷ bất trào.
Cựu thảo ngưng mâu hương vị tán.
Tha hương hồi thủ vọng cô cao
Tuy nhiên thượng hữu tương phùng nhật,
Thệ hải minh sơn nhất lãng đào.
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ
Thạch đình tặng biệtI.10.
Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời,
Nước non sầu nặng muốn đi về.
Cung hoàng dịu vợi đường khôn lọt,
Đường nguyệt mơ màng giấc hãy mê.
Đã chắc hương đâu cho lửa bén,
Lệ mà hoa lại quyến xuân đi.
Xanh vàng chẳng phụ lòng ân ái,
Tròn trặn gương tình cũng có khi.
Thơ chữ Nôm Thanh Hiên Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương chép trong Lưu hương ký.
Hoạ Thanh Liên Chí Hiên nguyên vậnNguyễn Du có dạy đàn cho Hồ Xuân Hương. Trong thơ Phạm Đình Hổ bài Sở hữu cảm có câu: “Buông đàn cười chẳng gảy, Ngại làm ai chạnh lòng”.
Khúc hoàng tay nguyệt còn chờ dạy,
Cánh phượng đường mây đã vội chi.
Chua xót lòng xem lời để lại,
Hững hờ duyên bấy bước ra đi.
Thử vàng đá nọ treo từng giá,
Phong gấm hoa kia nở có thì,
Đào thắm mận xanh còn thú lắm,
Xuân ơi đành nở đứt ra về.
Thơ Hồ Xuân Hương chép trong Lưu Hương ký.
Nhân tặngII.3.
Nghiêm thẳm hầu môn biết mấy trùng,
May chăng khôn lẽ dám pha xông.
Mấy hàng chữ mực châu lai láng,
Một mảnh tờ mây ý mộng mong.
Buông thả luống e khơi ngọn nước.
Gửi trao còn ngại mỏi vai hồng.
Người tiên ví chẳng soi trần thế,
Cậy có vầng xanh tỏ tấm lòng.
Gửi bạn (Ký hữu)II.4.
Mờ mịt không trung gió bụi trần,
Cửa gài, kê gối mãi nằm không.
Một vầng trăng sáng tình ta đó,
Trăm dậm Hồng sơn chính khí cùng.
Trước mắt phù vân, ôi thế sự,
Bên lưng trường kiếm nổi thu phong.
Đầu sân ngóng trúc lòng không nói,
Sương tuyết tiêu tan sẽ hoá rồng.
Mạc mạc trần ai mãn thái không.,
Bế môn cao chẩm ngoạ kỳ trung.
Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại,
Bách lý Hồng Sơn chính khí cùng.
Nhãn để phù vân khan thế sự,
Yêu gian trường kiếm quải thu phong.
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc.
Sương tuyết tiêu thời hợp hoá long.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Thanh Hiên thi tập. Nhất Uyên dịch
Đêm thu cảm hoài (Thu dạ hữu hoài)II.5.
Đêm tàn người thức lòng ngơ ngẩn,
Rượu lạnh lầu mây bạc ánh tà.
Nước chảy gió đùa trơ mặt ngọc,
Hoa hoa, nguyệt nguyệt nỗi lòng ta.
Xuân vắng vẻ,
Xuân hứng chẳng nhiều ư?
Bóng nhạn về đâu mây ở lại,
Dế trùng than khóc nước trôi hờ,
Đêm tàn nên lo.
Dạ thâm nhân tỉnh độc trù trù
Vân lâu tửu lãnh ngân hoàn bán.
Thuỷ khoát phong trường ngọc lậu cơ.
Hoa hoa, nguyệt nguyệt chủ nhân cô.
Xuân tịch tịch,
Xuân hứng bất đa hồ?
Nhạn ảnh hà qui vân tự trụ.
Trùng thanh như khốc thuỷ không lưu;
Tuế án tu liên.
Nhất Uyên dịch thơ
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương.
Đêm thu I (Thu dạ I)II.6.
Đầy trời sao sáng bạc sương dâng,
Dế lạnh tường đông thảm thiết buồn.
Vạn dậm tiếng thu rung lá rụng,
Một trời khí lạnh vắng mây vương.
Già rồi tóc bạc lòng thêm xót,
Ở mãi non xanh chẳng chán chường.
Ngán nỗi bên trời lòng khách mệt,
Suốt năm nằm bệnh Quế giang tân.
Phồn tinh lịch lịch lộ như ngân,
Đông bích hàn trùng bi cánh tân.
Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp,
Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân.
Lão lai bạch phát khả liên nhữ,
Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân.
Tối thị thiên nhai quyện du khách,
Cùng niên ngoạ bệnh Quế giang tân.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ
Mưa thu (Thu vũ)II.7.
Trời thảm mây dăng tối mịt mùng,
Mưa thu tí tách nhỏ ngoài sân.
Cây khô dài ngắn rơi hàng lệ.
Tàu chuối vàng tơi tiếng chậm nhanh.
Ngâm dứt đê mê sầu vạn dặm,
Buồn dâng quạnh quẽ nỗi năm canh.
Khuê phòng riêng khổ người nhan sắc,
Một phiến sầu vương vẽ chẳng thành.
Thiên cách vân âl thảm bất minh,
Tiêu tiêu thu vũ lạc nhàn đình.
Doản trường khô thụ chi đầu lệ,
Thư cấp hoàng tiêu diệp thượng thanh.
Ngâm đoạn đê mê thiên lý mộng,
Sầu khiên liêu tịch ngũ canh tình.
Thâm khuê tối khổ như hoa diện
Nhất phiến sầu dung hoạ bất thành.
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Nhất Uyên dịch thơ.
Đêm thu II (Thu dạ II)Chú Thích:
Móc trắng sương thu dăng mịt mùng,
Dìu hiu cây cỏ bến giang thành.
Đèn khuya quạnh quẽ đêm dài ngóng,
Vắt tóc lo hoài chí nhạt tan.
Vạn dặm giang sơn dài nỗi nhớ,
Bốn mùa mây nước ngậm ngùi trông.
Chớm lạnh mới hay không áo khổ,
Tiếng chày khuê phụ, bóng chiều phong.
Bạch lộ sương vi thu khí thâm,
Giang thành thảo mộc cộng tiêu sâm.
Tiễn đăng độc chiếu sơ trường dạ,
Ác phát kinh hoài mạt nhật tâm.
Thiên lý giang san tần trường vọng,
Tứ thời yên cảnh độc trầm ngâm.
Tảo hàn dĩ giác vô y khổ,
Hà xứ không khuê thôi mộ châm.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.
Ngày thu kinh đô cũ (Cố kinh thu nhật)Chú thích:
Thấm thoát đường thu ánh nguyệt tà
Chốn xưa rượu chuốc chén phồn hoa.
Dòng Tô nước cuốn về Tây mãi,
Tam Đảo trời quang vọng Bắc xa.
Đèn nguyệt chăn xanh thương vật cũ,
Sương buông móc trắng đọng bên nhà.
Ước gì gặp lại vơi mong nhớ
Khách cũ, năm tàn mãi thế ai?
Nhiễm nhiễm chinh đồ thu nguyệt tà.
Nhất bôi hoàn đối cựu phồn hoa.
Nhất Tô thuỷ lạo Tây vô tận,
Tam Đảo tình quang Bắc vọng xa.
Đăng nguyệt thanh chiên bi cố vật,
Sương tiền bạch lộ lạc thuỳ gia.
Thử lai tương đối trùng tương đắc
Khách cũ niên thâm nhược nại hà?
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Hương đình cổ nguyệt thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.
Mở cửa sổ (Khai song)Chú thích:
Trước nhà cảnh vật đã ra sao,
Mở cửa ngày nhàn sinh ý nhiều.
Sáu tháng gió tung bằng lượn mãi;
Một sân mưa đọng kiến bò cao.
Chăn xanh vật cũ khư khư giữ.
Tóc bạc hùng tâm luống nghẹn ngào.
Trở bệnh hãy còn lo chạy chữa,
Biết chi Phạm Trọng Chánh đến nhà nao?
Môn tiền yên cảnh cận như hà?
Nhàn nhật khai song sinh ý đa.
Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa.
Nhất đình tích vũ nghĩ di oa.
Thanh chiên cựu vật khổ trân tích,
Bạch phát hùng tâm không đốt ta.
Tái bệnh thương tu điều nhiếp lực,
Bất tri Phạm Trọng Chánh đáo thuỳ gia.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ.
Ngày thu tức cảnh (Thu nhật tức sự)II.11.
Đêm qua lành lạnh gió Tây về,
Dậu cúc đìu hiu tuyết chửa đi.
Mưa nặng sông chia mờ mặt nước,
Mây trơ núi biếc vẽ đường mi
Sen tàn cuối hạ làn xuân rớt,
Liễu rũ hương thừa áo biếc che.
Chim hót nỗi mình ai có thấu,
Lời lời còn đọng mối tình quê.
Tây phong tạc dạ áp hàn chi,
Ly cúc tiêu sơ tuyết vị chi.
Mật vũ tà phi phân thuỷ diện,
Cô vân miêu chức viễn sơn mi.
Liên dư tàn hạ lưu xuân đới,
Liễu bạng hương du lão thuý y,
Đề điểu mạc phi tri ngã huống.
Thanh thanh trường động cố hương tri.
Thơ chữ Hán Hồ Xuân Hương, Hương đình cổ nguyệt thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.
Ngày thu cảm hứng (Thu nhật ký hứng)Chú thích:
Gió Tây mới đến khách chưa về,
Khí lạnh mười phần dạ tái tê.
Nước cũ non sông trời lặng ngắm,
Quê người thân thế gửi mây che.
Cái già chợt sợ nay đà đến,
Thu đến nơi nơi đêm trước nghe.
Tự trách bạc đầu ta vụng tính,
Lá vàng rơi rụng, rụng đầu hè.
Tây phong tái đáo bất qui nhân,
Đốc giác hàn uy dĩ thập phần.
Cố quốc hà sơn khan lạc nhật,
Tha hương thân thế thác phù vân.
Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị,
Hà xứ thu thanh tạc dạ vân,
Tự thẩn bạch đầu khiếm thu thập
Mãn đình hoàng lạc diệp phân phân.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập. Nhất Uyên dịch thơ.
Hoạ nhânII.13.
Vài hàng chữ gấm chạnh niềm châu;
Nghĩ tưởng năm canh nguyệt hé lâu.
Lá nhuộm thức lam thêm vẻ thẹn,
Sương pha khói biếc rộn thêm sầu.
Thẩn thơ trước viện, nhà khoe gió,
Đồng vọng bên tai, địch thét đâu,
Ướm hỏi trăng già khe khắc bấy,
Trêu nhau chi những sợi cơ cầu.
Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương, Lưu hương ký.
Ghi lại giấc mộng (Ký mộng)Chú thích:
Dòng nước ngày đêm chảy,
Người biệt chốn cố hương.
Bao năm không gặp mặt,
Làm sao hết nhớ thương.
Trong mộng rành rành thấy,
Tìm ta nơi bến sông,
Dung nhan vẫn như trước,
Y trang buồn biếng chăm.
Trước kể nỗi đau ốm,
Rồi than những ngày xa.
Nghẹn ngào không nói hết,
Dường cách bức màn sa.
Bình sinh không thuộc lối,
Mộng hồn biết thật chăng?
Núi Điệp đầy hổ báo,
Sông Lam lắm thuồng luồng,
Đường đi thật hiểm trở,
Phận gái nhờ ai không?
Mộng đến đèn côi sáng,
Mộng tan gió lạnh lùng,
Người đẹp nào thấy nữa,
Lòng ta rối tơ vương.
Nhà trống vầng trăng xế,
Soi manh áo cô đơn,
Thệ thuỷ nhật dạ lưu,
Du tử hành vị qui.
Kinh niên bất tương kiến,
Hà dĩ uý tương ti (tư).
Mộng trung phân minh kiến,
Tầm ngã giang chi mi.
Nhan sắc thị trù tích,
Y sức đa sâm si.
Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn,
Kế ngôn cửu biệt ly.
Đái khấp bất chung ngữ,
Phảng phất như cách duy.
Bình sinh bất thức lộ,
Mộng hồn hoàn thị phi?
Điệp sơn đa hổ trĩ,
Lam thuỷ đa giao ly,
Đạo lộ hiểm thả ác,
Nhược chất tương hà y?
Mộng lai cô đăng thanh
Mộng khứ hàn phong xuy,
Mỹ nhân bất tương kiến,
Nhu tình loạn như ti.
Không lâu ốc tà nguyệt,
Chiếu ngã đan thường y.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch.
Chí Hiên tặng III.15.
Chữ giao nguyền với mấy năm tròn,
Xe nón tình kia mãi mãi còn.
Chẳng biết dạ người đen tựa mực,
Sao hay lòng khách thắm như son.
Còn tai chữa lãng lời vàng ngọc,
Có mắt mà xem mặt nước non.
Chớ trách chúa Xuân lòng mỏi mệt;
Mận đào được thế tiếng công môn.
Thơ chữ Nôm Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương lưu trong Lưu hương ký.
Chí Hiên tặng IINguyễn Du tìm đến nhà Đoàn Nguyễn Tuấn, bên bờ sông Nhị, Đoàn đang làm quan Tây Sơn, nhà cao cửa rộng: Trên bờ sông Nhị nhà chen gần, Đã chiếm cả thành hết cảnh xuân, Cầu gác Đông Tây cao ngất dựng. Chẳng kém gì các biệt thự các vị quan ngày nay. Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn gả em gái út, và giao cho gia trang tại Quỳnh Hải năm 1797. Từ đây Mùa Xuân Quỳnh Hải, sau khi góc biển chân trời ba chục tuổi, Nguyễn Du mới biết đến hạnh phúc: Trăng sáng đầu xuân toả ngập tràn, Bao giờ trăng chẳng nhạt thuyền quyên, Một trời xuân hứng nhà ai lạc. Muôn dậm Quỳnh Châu nguyệt sáng ngần. Ở đây Nguyễn Du chấm dứt cuộc đời Mười năm gió bụi có vợ con, dạy học, dạy văn và võ, hoàn tất Truyện Kiều. Năm năm Quỳnh Hải (1797-1802) Nguyễn Du đã giàu có, nên khi Vua Gia Long kéo quân ra đất Bắc đánh bắt vua Tây Sơn, Cảnh Thịnh. Nguyễn Du từ Quỳnh Hải dẫn thủ hạ, học trò và tráng đinh Quỳnh Hải, đem theo lương thực, ngựa,bò, heo dâng sớ đón rước nhà vua. Đến Phù Dung trấn Sơn Nam thì gặp Vua Gia Long, vua phong ngay cho làm tri huyện Phù Dung. Sự kiện này tương tự như Phi Tử thời Chiến Quốc, người đất Phù Ngưu dâng ngựa lên Vua Chu Hiếu Vương được phong chức Phụ Dung nước phụ chư hầu. Từ đó Nguyễn Du có tên Phi Tử, Nguyễn Hành trong Minh Quyên thi tập bài Đi săn có nhắc đến bút hiệu này.
Rủi may nào sá nghĩ cùng thông,
Chưa dễ tri âm tỏ nỗi lòng.
Ra Bắc phen này mong nổi việc.
Vào Nam ngẩm trước cũng hoài công.
Bạn tao năm hết mâm trà lạt.
Quán khách canh chảy mảnh áo mong.
Gớm nhẽ trông ra mù khói bể
Nguyệt đường bao nã thấy gương trong
Đọc Tiểu Thanh ký (Độc Tiểu Thanh ký)Chú thích:
Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu,
Bên cửa viếng nàng một áng thư.
Son phấn có thần chôn vẫn hận,
Văn chương vô mệnh cháy còn dư.
Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi,
Cái án phong lưu khách luỵ sầu.
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ,
Còn Nàng ai khóc một niềm đau.
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hậu.
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.
Bách tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp tố như?
Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập, Nhất Uyên dịch thơ
Giã từ Tổng CócHồ Xuân Hương, trở về Cổ Nguyệt đường, dù mang thai 6 tháng, sợ dư luận dị nghị, nàng ra phố Nam, mở tiệm bán sách, bút giấy mực, cạnh trường ông nghè Phạm Quý Thích gần đền Lý Quốc Sư. Mượn tiền Phạm Đình Hổ và bè bạn, Xuân Hương đã mở quán sách này. Tốn Phong đến thăm Xuân Hương sau hai lần hỏng thi khoa 1806 và 1813. Tốn Phong đến gặp Xuân Hương tại hiệu sách, sau khi nàng đã sinh con: “Mai lạnh vẫn thường than nỗi khổ, Chốn dời Mai mới nở thêm cành” (bài 15) Tiếc thay đứa con gái mất sớm, nàng không nuôi được. Năm ấy nàng 35 tuổi, sắc đẹp mặn mà làm tốn phong ca tụng tít trời xanh. Quán sách nàng là nơi các học trò ông nghè Phạm Quý Thích lui tới, để ngắm bà chị.
Chàng Cóc ơi! Chàng cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng chỉ thế thôi,
Nòng nọc đứt đuôi từ đấy nhé!
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.
Chơi Tây Hồ nhớ bạnChú thích:
Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa,
Người đồng châu trước biết bao giờ.
Nhật Tân đê lỡ nhưng còn lối,
Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ,
Nọ vực Trâu vàng trăng lặng bóng,
Kìa non Phương đất khói tuôn mờ.
Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy,
So dạ hoài nhân dễ chưa vừa.
Cảm cựu kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu (Hầu Nghi Xuân, Tiên Điền nhân)Chú thích:
Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy,
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu hương ký.
Mừng gặp bạn ở sông Hoàng.IV.3.
Nhà xuân từ được bén hơi xuân,
Nửa khắc vàng xem trọng mấy cân.
Trót hẹn nhớ cho đành một kiếp,
Nặng nề quên cả đến trăm thân.
Cạn dòng Tô Thuỷ còn duyên nợ,
Đầy giọt Hoàng giang những ái ân.
Nồng nhạt mặc dù đâu nhẽ dám,
Tất son này vẫn thắm mười phân.
Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương trong Lưu hương ký.
Hoài cựu (Nhớ bạn cũ)Biết rằng mối tình ngang trái, không còn gì nữa. Hồ Xuân Hương dứt khoát để yêu Tri phủ Tam Đái Vĩnh Tường Trần Phúc Hiển sau được thăng làm Tham Hiệp Trấn Yên Quảng. Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi; Xuân Hương góp thơ thành tập cuối cùng Hương đình cổ nguyệt thi tập. Tập này bị phân tán thành nhiều mảnh. Tôi sẽ sắp xếp lại toàn bộ tập thơ vịnh cảnh này.
Chữ tình ngang ngửa biết bao nhiêu,
Một chút duyên xưa dỡ lắm điều.
Bèo lạc không kinh còn trẻ lại.
Trăm hoa thêm tủi cái gì theo.
Tài tình nợ ấy vay nên trả,
Phong cảnh vui đâu đã gửi nhiều.
Đưa đón biết tường tay đại tạo,
Cánh hoa trên nước thắm tin triều.
Thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương, Lưu hương ký.
Chú thích:
In từ trang: https://www.thivien.net/ » Hồ Xuân Hương » Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du