Bài viết này đã in trong
Cao Bá Quát toàn tập, tập I, Nxb. Văn học - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2004. Nay, tháng 2/2011, qua việc tiếp tục khảo cứu, tác giả đã chỉnh sửa và bổ sung một đôi chỗ. Tên khoa “Ngữ văn và Báo chí” được nhắc đến trong sách đã dẫn thì nay được đổi thành “Văn học và Ngôn ngữ”.
Hầu hết các sách đề cập đã được bộ
Đề yếu miêu tả trên đại thể, ở đây chúng tôi chỉ bổ sung nhằm nhấn mạnh những chi tiết liên quan đến Cao Bá Quát. Những sách thuộc các nguồn khác chúng tôi miêu tả đầy đủ hơn. Chỉ trừ sách chữ Nôm Truyện ông Cao Bá Quát được in mộc bản, còn lại đều là sách chép tay.
1. Bản A,
Cao Mẫn Hiên tiên sinh thi 高敏軒先生詩 (ký hiệu A. 1494 - số mục 160 theo
Đề yếu): Đúng ra gồm 2 phần:
- Phần đầu:
Bắc hành tạp lục, từ tờ 1 đến tờ 39, chép thơ Nguyễn Du.
- Phần sau:
Cao Mẫn Hiên tiên sinh thi, từ tờ 40 đến tờ 85, chép thơ Cao Bá Quát.
Theo miêu tả của
Đề yếu, cả tập sách này 78 trang là nhầm. 78 trang chỉ đúng với 39 tờ phần đầu. Phần chép thơ Cao Bá Quát (92 trang), có số bài giống cuốn
Cao Mẫn Hiên thi (đầu tr. 1 cũng ghi
Cao Mẫn Hiên tiên sinh thi) của Thư viện Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học KHXH và NV Tp.HCM. Ở đây chúng tôi chỉ xét phần sau, chép thơ Cao Bá Quát.
Thơ Cao Bá Quát trong tập này có 127 bài và chùm, nếu tính đơn vị thủ sẽ là 192 bài, hầu hết đều có chép rải rác ở các tập khác, có thể chia thành 2 nhóm như sau:
- Nhóm 1: Từ tr. 40 đến tr. 72a gồm 86 bài và chùm, từ bài
Hoạ Thận Tư nguyên đán thí bút thứ vận đến bài
Túc Giai Lạc cựu tổng mục gia, tương biệt lưu đề. Mảng bài này trùng với số bài thuộc 77 trang đầu bản C, ký hiệu VHv.1433.
- Nhóm 2: Từ tr. 72b đến tr. 85b, gồm 41 bài và chùm, từ bài
Tân mông hồi Bộ, tuý trung hữu tác đến chùm
Đề nữ sĩ đồ thập nhị thủ. Đầu nhóm này có ghi: Quyển lục. Không rõ nhóm 1 thuộc quyển mấy.
2. Bản B,
Cao Chu Thần thi tập 高周臣詩集 (ký hiệu VHv. 1434/1 - số mục 361 theo
Đề yếu): Theo
Đề yếu, mục số 361 cho biết sách
Cao Chu Thần di cảo, ký hiệu VHv. 1434/1-2, là bản bản chép tay, gồm 2 tập (Thượng, Hạ), 172 trang, khổ 27x16, có một tựa, do Nguyễn Văn Đào hiệu Nghĩa Viên khảo cứu và Nguyễn Văn Tú nhận xét văn bản. Sách gồm
Cao Chu Thần thi tập (chép thơ các loại, có thơ mừng tặng Phan (đúng ra là Phạm - NNQ) Đăng Giảng, Đặng Phác, Nguyễn Phiên, Nguyễn Tư Giản, Vũ Nhự, Bùi Văn Quỹ) và
Cao Chu Thần văn tập (có các bài luận, biện, ký, tự… như
Biện hoặc,
Nguyên đạo,
Đề tập Tiêu lâm thi,
Bàn về Lỗ Trọng Liên,
Bàn về thuyết “Hoà Nhung”,
Văn bia chùa Thanh Thọ,
Bài ký đền phủ Yên Khánh,
Tiễn phó sứ Phạm Chi Hương,
Tiễn ông TS họ Trần ở Vị Xuyên,
Mừng PB Bùi Vị (đúng ra là Bùi Dị, NNQ),
Mừng Phó sứ Nguyễn Tư Giản,
Mừng Nguyễn Công Trứ về hưu…, có
Bài văn tế Vũ Quỳnh của Lê Nại, Thơ của Lao Sùng Quang (Trung Quốc), Biểu của Nguyễn Tư Giản). Chúng tôi nhận thấy tập sách với nội dung đầy đủ như vừa miêu tả sẽ không tìm thấy ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Thực tế, ở Viện Hán Nôm chỉ có bản VHv. 1434/1. Ở trang 1, có bài tựa
Cao Bá Quát thi tập tự. Ở tr. 7, trước khi chép phần thơ, có dòng chữ
Cao Chu Thần thi tập. Về tên sách, không có chỗ nào ghi
Cao Chu Thần di cảo như
Đề yếu cho biết. Sách chép tay gồm 307 trang (các tr. 6, 82 và 138 không có chữ), khổ 26x13, không có dấu hiệu chia thành 2 tập. Có lời ghi của Nghĩa Viên Nguyễn Văn Đào bằng chữ Hán ngay sau lời tựa với nội dung cải chính năm thi đỗ Cử nhân của hai anh em Bá Quát và Bá Đạt, không nói gì việc chép lẫn thơ người khác. Cũng không thấy nhận xét của Nguyễn Văn Tú, như trường hợp tập A. 299 (
Cao Chu Thần thi tập). Thơ chép trong sách này đều thấy chép rải rác trong các tập khác, không có các bài
Mừng tặng Phan (?) Đăng Giảng, Đặng Phác, Nguyễn Phiên, Nguyễn Tư Giản, Vũ Nhự, Bùi Văn Quỹ như
Đề yếu miêu tả ở trên. Chỉ cần đối chiếu với số lượng trang, khổ giấy và nội dung một số bài thơ trong tập mang ký hiệu VHv. 1434/1-2 mà Đề yếu đã nêu, có thể khẳng định đây là một sách khác, chưa được Đề yếu đề cập đến. Cũng có thể là một sự lầm lẫn của
Đề yếu trong quá trình lập hồ sơ về các thi tập của Cao Bá Quát chăng? Nội dung của
Cao Chu Thần văn tập như
Đề yếu nói trên đều nằm gọn trong phần sau của bản
Cao Chu Thần thi tập (A. 299) như chú thích số 13 nói trên.
Bản VHv. 1434/1 nói ở đây là tập có số lượng thơ Cao Bá Quát nhiều nhất: 428 bài và chùm, trong đó từ tr. 261 là
Nam hành tập (chép 88 bài, phần lớn viết từ cảm hứng có được trên hành trình vào kinh đô Huế của tác giả). Bài tựa gần 5 trang do người sau thời Cao Bá Quát viết, nội dung giống bài tựa ở bản
Cao Bá Quát thi tập (A. 210), trong đó có những mẩu giai thoại tán tụng sự thông minh của Cao Bá Quát, có vài nhầm lẫn về năm ông thi đỗ, về vai anh vai em của ông và Bá Đạt. Toàn bộ thơ trong sách này chúng tôi không thấy dấu hiệu chép lẫn thơ người khác.
Người sao chép thực hiện chia tập sách thành 4 nhóm bài như sau:
- Nhóm 1: từ tr. 1 đến tr. 5 là bài
Cao Bá Quát thi tập tự.
- Nhóm 2: Từ tr. 7 đến tr. 81 có 129 bài và chùm thơ thất ngôn bát cú.
- Nhóm 3: Từ tr. 83 đến tr. 137 có 61 bài và chùm thơ thất ngôn tứ tuyệt (chùm
Thôn cư thập nhị vịnh chép ở 2 nơi: 8 bài từ tr. 119 và 4 bài từ tr. 135, giống cách chép bản H: A. 2762).
- Nhóm 4: Từ tr. 139 đến tr. 307 có 238 bài và chùm thơ các loại (trình tự giống hệt 75 tờ đầu của Phần đầu bản A. 299, nhưng chi tiết có nhiều sai biệt), trong đó có 2 bài và 1 chùm trùng với bài nhóm 2. Đó là, bài
Đề Sài Sơn (tr. 305) và chùm
Hựu đề Sài Sơn tam thủ (tr. 305) trùng với bài
Vãn du Sài Sơn vũ hậu đăng sơn đầu, đề Thuỵ Am, đồng chư nhân đề bích tứ thủ (tr. 20), bài
Đề đào nương xá (tr. 173) trùng với bài
Đằng Châu ca giả Phú Nhi kí hữu sở dữ, thư dĩ tặng (tr. 57).
Nếu không tính các bài và chùm trùng lặp, tổng số bài và chùm thơ của bản này là 425.
3. Bản C,
Cúc Đường thi loại 菊堂詩類 (ký hiệu VHv. 1433 - số mục 598 theo
Đề yếu): Sách đánh số A-rập vào trang lẻ từ 1 đến 161 (tr. 162 không có chữ), nhưng thực tế tr. 78 không có chữ, thiếu tr. 99 và 100. Chỉ có một bản nên không thể đối chiếu bổ khuyết. Có thể chia làm 3 phần:
- Phần 1:
Cúc Đường thi loại (không rõ quyển mấy), từ tr. 1 đến tr. 77, gồm 86 bài và chùm thơ của Cao Bá Quát, từ bài
Hoạ Thận Tư nguyên đán thí bút thứ vận đến bài
Túc Giai Lạc cựu tổng mục gia, tương biệt lưu đề, trùng với mảng bài thuộc nhóm 1 bản A,
Cao Mẫn Hiên Tiên sinh thi (phần sau của
Bắc hành tạp lục, ký hiệu A. 1494, từ tr. 40 đến tr. 72a).
- Phần 2:
Cúc Đường thi loại - Quyển ngũ, từ tr. 79 đến tr. 132, gồm 62 bài và chùm thơ của Cao Bá Quát, từ bài
Để ngụ bệnh trung giản chư hữu đến bài
Tiểu mãn nhật, đồng Minh Trọng chư nhân du Phước Kiều tửu gia.
- Phần 3:
Cúc Đường văn loại - Quyển nhị, từ tr. 133 đến tr. 161, gồm 11 bài văn xuôi, hầu hết là ký và tự, cụ thể tên bài như sau:
1.
Thương Sơn Công thi tập hậu tự.
2.
Đại Tuyên Niết Kiều niên ông tống Phiên sứ Nguyễn đài quy giả phần hoàng tự.
3.
Tích Sơn thị Đại Lai đình ký.
4.
Vĩnh Tường phủ trị Tây Hiên ký.
5.
Hà Khê tự chung văn.
6.
Văn Trưng Lăng Trưng xã học bi ký.
7.
Đại Gia Thuỵ tú tài hạ muội trượng Vân Canh Nguyễn tử đăng chế khoa tự.
8.
Linh Tràng Trần công tự điền ký [vị cử nhân Nguyễn Huy Nguyên tác].
9.
Tống Đinh Hàn lâm quy táng tự.
10.
Tụ Long Ma thị truyện ký.
11.
Trùng tu Quan phu tử viện phổ khuyến văn.
Trong đó, bài số 1: có lời tự xưng của Cao Bá Quát là “Cao tử”, “Quát” trong bài, “Cao Bá Quát Chu Thần” cuối bài. Các bài 3, 4 có lời tự xưng “Cao tử” của Cao Bá Quát. Bài số 6 có câu Quốc triều trị giáo xương minh đã từng được Cao Bá Quát sử dụng trong bài
Thương Sơn Công thi tập hậu tự. Bài số 9 có nói đến ông Đinh Uý Phủ làm ở Viện Hàn lâm, tức Đinh Nhật Thận, bạn thân của Cao Bá Quát (Đinh Nhật Thận từng bị nhà Nguyễn bắt tra xét sau vụ Mỹ Lương vì bị tình nghi có liên can đến Cao Bá Quát). Thơ Cao Bá Quát có 4 bài chép trong 5 sách có nhắc tới họ Đinh. Đó là các bài: 1/
Du Vệ Linh sơn, hỉ Đinh Phủ Uý kiến quá, nhân dữ thừa lương tác [bản B tr. 164; bản i tr. 12; bản F tr. 27:…Đinh Uý Phủ…], 2/
Đồng Đinh Phủ, Nguyễn Tử Hữu du Đông An tự [bản B tr. 163; bản F tr. 25; bản i tr. 11b], 3/
Di Đinh Biên tu (ngũ ngôn) [bản A tr. 83b], 4/
Di Đinh Biên tu (thất ngôn) [bản G tr. 15b]. Vậy 5 bài trên (số 1, 3, 4, 6, 9) có thể khẳng định của Cao Bá Quát.
6 bài còn lại (số 2, 5, 7, 8, 10, 11) không có từ nào tự xưng hoặc quen dùng của Cao Bá Quát, tuy nhiên do cùng chép chung trong phần
Cúc Đường văn loại - Quyển nhị, theo chúng tôi nên tạm thời coi là của Cao Bá Quát trong khi chưa có cớ để loại trừ.
Tóm lại,
Cúc Đường thi loại (ký hiệu VHv. 1433) có 148 bài và chùm thơ Cao Bá Quát. Mảng văn xuôi gồm 11 bài chủ yếu là ký và tự, trong đó 5 bài khẳng định của Cao Bá Quát, 6 bài còn lại tạm thời coi là của Cao Bá Quát.
4. Bản D,
Cao Bá Quát thi tập 高伯适詩集 (ký hiệu A. 210 - số mục 352 theo
Đề yếu): Gồm 1 bài tựa, 1 bài minh, 166 bài và chùm thơ không chỉ của Cao Bá Quát, chia làm 3 phần:
- Phần 1: Từ tờ 2 đến tờ 4: Bài tựa
Cao Bá Quát thi tập tự, giống bài tựa ở bản B (VHv. 1434/1).
- Phần 2: Từ tờ 5 đến tờ 10: Mục lục.
- Phần 3: Từ tờ 11 đến tờ 66 gồm 1 bài minh, 166 bài và chùm thơ. Nội dung có phần rắc rối, tạm chia thành các mảng sau:
+ 66 đề bài (66 bài và chùm = 73 bài) có chép ở các tập B, G, F, i nên có thể khẳng định là thơ của Cao Bá Quát, trong đó có 7 bài ghi thêm chữ Vịnh mà các bản khác thì không (
Vịnh cù dục,
Vịnh đảm bặc hoa,
Vịnh hộc,
Vịnh khổng tước,
Vịnh quy,
Vịnh thử,
Vịnh tuần dục).
+ Bài
Mạc Trạng nguyên phiến minh là bài “minh” viết trên cây quạt của Trạng nguyên họ Mạc, không phải “thơ” Cao Bá Quát.
+ Bài
Trào chiết tí Phật là của Thái Thuận (1440 -?).
+ 98 bài và chùm thơ còn lại (không thấy chép ở các thi tập khác có thơ Cao Bá Quát) thì:
a. 48 đầu bài bắt đầu bằng chữ Vịnh (điều mà các thi tập khác không hề có) với nội dung vịnh nhân vật lịch sử, đền miếu, cảnh, vật…, và 1 chùm 10 bài
Nhàn vịnh thập thủ là thơ Nguyễn Khuyến, có chép trong
Yên Đổ thi tập, ký hiệu VHv. 1864 (theo khảo cứu của Nguyễn Văn Huyền).
b. 4 bài Huyền
Tông lâm kính,
Khổng Tử mộng Chu công,
Điếu Đặng Tất,
Quý Phi biệt Huyền Tông có lẽ của Nguyễn Khuyến vì chép lẫn trong các bài trên, nên xếp vào tồn nghi.
c. 46 bài còn lại rất có thể của Cao Bá Quát (tồn nghi).
Các soạn giả trong
TCHCBQ đã tuyển dịch 7 bài trong mảng thơ này, đến lần in thứ ba lại bỏ 2 bài Nhàn vịnh và 3 bài vịnh nhân vật lịch sử vì thuộc nhóm “a” nói trên (sau khi có công bố của Nguyễn Văn Huyền) và vẫn giữ lại 2 bài (Dữ quảng Nam học chính Bùi đồng túc, dạ khởi kiến nguyệt và Vọng phu thạch) thuộc nhóm “c”.
Tóm lại, bản D (ký hiệu A. 210) có 112 bài và chùm thơ Cao Bá Quát, trong đó 46 bài nên tồn nghi vì chép xen kẽ một số bài vịnh cảnh vật. Còn lại là của người khác.
5. Bản E,
Mẫn Hiên thi văn tập 敏軒詩文集 (ký hiệu A. 409 - số mục 2146 theo
Đề yếu): Sách hiện có 101 tờ, nhưng theo khảo cứu của Nguyễn Văn Tú, chỉ 23 tờ đầu là thơ Cao Bá Quát. Lưu ý: Trang 34b có bài
Cảm tác (có câu: “Tự Đức tứ niên thư kí lạp, Nguyên tiêu tứ ngũ biệt kinh đô,…”) từng được Chu Thiên (1963) căn cứ để tính năm sinh Cao Bá Quát (xem bài “Cao Bá Quát và cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương” trích in trong
Thông báo khoa học của Trường Đại học Tổng hợp, tập I - Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 67–82). Nhưng xét vị trí ghi chép và nội dung toàn bài thơ, đây có thể là thơ người khác.
Trang bìa lót đầu sách có ghi lời nhận xét của Nguyễn Văn Tú, nguyên văn như sau:
Xét cuốn sách này từ tờ 1 đến tờ 23 là thơ của Cao Bá Quát đúng y như cuốn A. 1996 (phần đầu). Còn từ tờ 24 trở đi (kể từ bài 元霄節四日丁公子往興化省 toàn là thơ, văn và câu đối của những nhà khác, sau Cao Bá Quát. Sơ qua mấy bằng chứng là:
1. Lời thơ tầm thường khác hẳn dọng thơ Cao Bá Quát.
2. Tờ 33 có bài 寄世榮契友 mở đầu bằng câu 我貫在如琼,君家在世榮 (Quê ta ở Như Kình, nhà bác ở Thế Vinh), chứng tỏ tập thơ này của một người nào ở làng Như Kình (cũng đọc là Như Quỳnh), thuộc huyện Văn Lâm, Hưng Yên, cũng gần làng Phú Thị). Không phải thơ Cao Bá Quát.
3. Dưới nữa, tờ 38 có bài 憶寄陳希曾. Xét ra Trần Hy Tăng sinh năn 1840. Lúc Cao Bá Quát mất (1855), Hy Tăng mới 15 tuổi. Không thể nào có truyện ông Quát giao du với Hy Tăng được. Trong bài thơ lại nói đến tình “đồng học” tương đắc nữa!
Càng về cuối lại càng thấy có những nhân vật sau thời ông Quát.
Tác phẩm chép trong tập này đúng như nhận xét của Nguyễn Văn Tú. Tuy nhiên, thơ chép trong 23 tờ đầu gồm 76 bài và chùm thơ Cao Bá Quát không hoàn toàn trùng hợp phần đầu bản N ký hiệu VHv. 1996 như Nguyễn Văn Tú đã nhận xét.
6. Bản F,
Cúc Đường thi thảo 菊堂詩草 (ký hiệu A. 3012 - số mục 600 theo
Đề yếu): 3 trang đầu sách là mục lục - Mẫn Hiên Cao Chu Thần thi mục, nhưng chỉ ghi đầu đề 60 bài và chùm thơ đầu tiên. Tr. 4 không có chữ. Từ tr. 5 đến cuối sách chép làm 2 phần:
- Phần đầu:
Cúc Đường thi thảo. Từ tr. 5 đến đầu tr. 99 chép 121 bài và chùm thơ Cao Bá Quát. Ở mép phải tr. 5 ghi dòng chữ nhỏ: “Bính Tuất Cử nhân Đông Viên Nguyễn Hữu Quý kính thư”, cho thấy người sưu tập sách này là Cử nhân khoa Bính tuất (1886) Đông Viên Nguyễn Hữu Quý.
- Từ giữa tr. 99 đến tr. 134 là
Nam hành tập chép 58 bài và chùm thơ Cao Bá Quát, phần lớn làm trên đường vào Kinh thi hội.
Trong sách này có 19 bài và chùm không thấy chép ở sách nào khác, trong đó một số bài nói đến những nhân vật thường thấy trong thơ Cao Bá Quát như Lê Dũng Hoà, Nguyễn Chí Đình, nhưng cũng có những tên đất, tên người chỉ thấy ở đây, như Cối Giang, Mật Nhân Hoà thượng, Lý Tam Ích… Theo chúng tôi, sách này có độ tin cậy rất cao về mặt văn bản học, bởi lẽ người sao lục là Nguyễn Hữu Quý, con của Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (1795-1868) - bạn thân được nhắc đến nhiều lần trong thơ Cao Bá Quát. Nguyễn Văn Lý trong
Chí Hiên thi thảo (A. 390) có bài thơ
Duyệt Cao Chu Thần thi tập nhân ký, có thể là chỉ thi tập này của Chu Thần chăng?
7. Bản G,
Cúc Đường thi loại 菊堂詩類 (ký hiệu A. 1985 - số mục 599 theo
Đề yếu): thực tế có 40 tờ, trang cuối cùng không có chữ. Các tờ ghi số bằng chữ Hán ở lề trái, từ tờ số 1 tờ 49, nhưng không có 9 tờ từ số 21 đến 29, gồm 130 bài và chùm thơ Cao Bá Quát, trong đó 43 bài và chùm không trùng lặp với các tập khác. Không thấy dấu hiệu nào đáng ngờ.
8. Bản H,
Chu Thần thi tập 周臣詩集 (ký hiệu A. 2762 - số mục 363 theo
Đề yếu): Có nội dung và thứ tự sao chép giống bản B (VHv. 1434/1) từ tr. 7 đến tr. 137. Gồm tất cả 190 bài và chùm thơ Cao Bá Quát, chép thành 2 mảng:
- Từ tờ 1 đến tờ 37 có 129 bài và chùm thơ thất ngôn bát cú.
- Từ tờ 38 đến tờ 68 có 61 bài và chùm thơ thất ngôn tứ tuyệt (chùm
Thôn cư thập nhị vịnh bị tách ra và chép ở 2 nơi: 8 bài từ tr. 58b và 4 bài từ tr. 67b).
9. Bản i,
Cao Chu Thần thi tập 高周臣詩集 (ký hiệu A.299 - số mục 362 theo
Đề yếu). Đây là sách có dung lượng lớn nhất, nhiều trang nhất (462 trang -
Đề yếu ghi 452 trang là sai) và khổ giấy lớn (31x22), chữ viết thuộc loại dễ đọc. Bản A.299 là tập sách cần bàn lại nhiều nhất, bởi nội dung phức tạp của nó. Trong đó không chỉ có thơ mà có cả văn xuôi với số lượng lớn. Tác phẩm được chép không chỉ của Cao Bá Quát, mà còn là của các nhà khác, hoặc có ghi tên như Lao Sùng Quang (người Trung Quốc), Lê Nại, hoặc cứ chép chung lẫn vào tác phẩm của Cao Bá Quát, không ghi tên của ai (như thể mặc nhiên là của Cao Bá Quát vậy!). Nhiều nhà nghiên cứu tỏ ra lúng túng, thiếu nhất quán, hoặc sai lầm khi trích dịch, trích dẫn tác phẩm Cao Bá Quát từ bản A. 299 này. Đây cũng chính là văn bản được Trung tâm Học liệu thuộc Bộ Giáo dục ở Miền Nam cho in từ một bản vi phim lưu trữ tại Viện Khảo cổ (Sài Gòn) năm 1971 (lấy tên:
Cao Chu Thần thi tập, nguyên bản Hán văn), xuất bản đồng thời với bản trích dịch của Sa Minh Tạ Thúc Khải (có tên:
Cao Chu Thần thi tập trích dịch). Sách chia làm 2 phần. Phần đầu là
Cao Chu Thần thi tập, chiếm 196 tờ. Phần sau, 35 tờ, gồm
Chu Thần Cao ngâm tập 周臣高吟集 (30 tờ), và phụ ghi một số tác phẩm người khác có ghi tên kèm theo (5 tờ).
Phần đầu là phần phức tạp. Nhà nghiên cứu văn bản Hán Nôm Nguyễn Văn Tú đã phải viết lời nhận xét vào trang bìa lót trước tờ 1 vào ngày 30-12-1964 như sau:
- Xét tập này từ tờ số 1 đến tờ số 75, kể cả bài thơ
Nghi đề 疑題, là thơ của Cao Bá Quát. Từ bài
Ngự đề nhân luận 御題仁論 ở cuối tờ 75 đến bài 和雲麓先生自春梂還… [[i]Hoạ Vân Lộc tiên sinh tự xuân cầu hoàn…[/i]] (tờ 182) là văn thơ của Vũ Phạm Khải và các nhà khác. Từ tờ 183 đến tờ 194 là thơ vịnh các nữ lưu Trung Quốc, không rõ có phải của Cao Bá Quát hay không.
- Từ tờ 195 đến hết tờ 196 có 9 bài thơ của Cao Bá Quát (vì các bản khác có lác đác ghi những bài ấy).
- Kế đó 3 tờ tiếp theo là thơ của Lao Sùng Quang (Trung Quốc), có biên ghi rõ ràng.
- Từ tờ thứ 4 (trang 2) trở đi cho đến tờ 33, bài
Nguyệt dạ đồng chư hữu du Phạm Hoà Phủ hoa viên 月夜同諸友遊笵和甫花園 thì lại là thơ Cao Bá Quát.
Kiểm lại theo nhận xét trên, để tiện theo dõi, chúng tôi thấy có thể chia toàn bộ tập sách thành 7 nhóm bài tuần tự như sau:
1) Nhóm 1: Từ tờ số 1 đến tờ số 75, kể cả bài
Nghi đề, gồm 238 bài và chùm thơ của Cao Bá Quát, hầu hết đều có chép ở các tập khác.
2) Nhóm 2: Từ cuối tờ 75 đến cuối tờ 182, gồm:
- 37 bài văn xuôi, trong đó một số bài khẳng định là của Vũ Phạm Khải:
Biện hoặc luận thư,
Lỗ Trọng Liên luận,
Hoà Nhung luận,
Sơn trung tạp ký…; những bài khác chưa rõ của ai. Tuy nhiên, một bài trong số này được nhiều người coi là của Cao Bá Quát - bài
Thư Tiêu lâm thi tập hậu 書蕉林詩集後 [tr. 86b-88a] (Đỗ Văn Hỷ đã dịch toàn văn, xem t/c
Văn học, số 5/1978, tr. 154-155) mặc dù trong bài không có từ nào tự xưng của Cao Bá Quát hoặc liên quan tới hành trạng của Cao Bá Quát.
- 162 bài và chùm thơ, theo nhận xét của Nguyễn Văn Tú (nói trên) là không phải của Cao Bá Quát. Thế nhưng, trong tập tuyển dịch
Thơ Chữ Hán Cao Bá Quát, nhóm tuyển dịch trong đó có cả Nguyễn Văn Tú là thành viên lại tuyển 4 bài trong số trên:
Quá Mỵ Nương miếu,
An Dương hành,
Lập xuân hậu nhất nhật tân tình,
Thôn cư dạ nguyệt (bài này nhóm tuyển dịch ghi đầu đề là
Khiếm đề mục). Nguyễn Huệ Chi, trong bài “Tìm hiểu nhân sinh quan tích cực trong thơ Cao Bá Quát”, có trích dẫn từ bài
Thôn cư dạ nguyệt (xem
Nghiên cứu Văn học, H., số 6-1961, tr. 33) và bài
Lập xuân hậu nhất nhật tân tình (bđd, tr. 35). Điều đáng lưu ý là các bài thơ này chỉ thấy chép ở tập A. 299 mà thôi. Theo chúng tôi, 2 bài trên nên đưa vào tồn nghi, 2 bài dưới là thơ người khác vì ngoài vị trí ghi chép chúng có nội dung không phù hợp với thời Cao Bá Quát, đó là không khí thời chiến tranh loạn lạc.
- Nhiều bài thơ làm sau thời Cao Bá Quát. Chẳng hạn, ở tờ 32 có những bài thơ nói đến các Tiến sĩ cùng đỗ khoa Ất Sửu 1865 như Phạm Đăng Giảng (Cử nhân năm 1864), Bùi Văn Dị (Cử nhân 1855), Trần Vĩ (Cử nhân 1861), Hoàng Tướng Hiệp (Cử nhân 1858), Nguyễn Tuyên (Cử nhân 1858). Tờ 137 có bài nói đến việc Nguyễn Tư Giản làm Giáp phó sứ đi Trung Quốc (năm 1868), Hoàng giáp Vũ Nhự (Tiến sĩ 1868)… Một loạt bài khác có thể xác định là của một phái bộ đi sứ Trung Quốc.
3) Nhóm 3: Từ tờ 183 đến tờ 194 có 54 bài thơ vịnh 54 nhân vật nữ Trung Quốc, rất có khả năng của Cao Bá Quát. Một số trong những nhân vật nữ lưu Trung Quốc này từng được Cao Bá Quát nói đến trong những dịp khác. Chẳng hạn nhân vật Tây Thi (bài
Tây Thi) từng được Cao Bá Quát liên tưởng đến khi vịnh Hồ Tây; Văn Quân (bài
Trác Văn Quân), Mạnh Đức Diệu (bài
Đức Diệu) được nhắc đến trong bài
Mộ phạn bất cấp hý bút ký sự (bản N), Vương Chiêu Quân (bài
Vương Chiêu Quân) trong bài
Xuất tái (thuộc chùm thơ
Đề nữ sĩ đồ thập nhị thủ, ứng giáo, bản A, B, H) và trong bài
Chiêu Quân (bản E),
Vương Chiêu Quân (bản N) - nói chuyện nàng Minh Phi cống Hồ, Lục Châu (bài
Lục Châu) trong bài
Truỵ lâu (thuộc chùm thơ
Đề nữ sĩ đồ thập nhị thủ, ứng giáo, bản A, B, H) - nói về chuyện nàng Lục Châu nhảy lậu tự tận ở vườn Kim Cốc, Ngu Cơ (bài Ngu Cơ) trong bài
Ngu hề (thuộc chùm thơ
Đề nữ sĩ đồ thập nhị thủ, ứng giáo, bản A, B, H) - nói về chuyện ái cơ của Hạng Võ tự tận ở Cai Hạ
4) Nhóm 4: Từ tờ 195 đến hết tờ 196 có 9 bài thơ, từ bài
An Phong dã quán ngẫu hứng đến bài
Di ngụ Diên Phúc tự, đều khẳng định được là thơ Cao Bá Quát. Các nơi danh thắng Thuỵ Am, Bối Am, Sài Sơn đều được nói đến nhiều lần trong thơ Cao Bá Quát; riêng bài
Nguyên nhật còn được chép ở các bản B, E, H.
Trở lên là phần đầu sách A. 299, thuộc
Cao Chu Thần thi tập.
Phần sau sách A. 299 được đánh số tờ từ 1 đến 35 (chúng tôi tạm quy ước là tờ 1’ đến 35’) và ở các nhóm bài đều ghi kèm theo tên tác giả, lần lượt như sau:
5) Nhóm 5: Từ tờ 1’ đến trang đầu tờ 4’ gồm 10 bài và chùm thơ, từ bài
Tĩnh Thần dịch đến bài Xuân sứ Việt Thường quy để Hồ Xá…, là của Lao Sùng Quang, người Trung Quốc (đầu tờ 1’ có dòng chữ: “Khâm sứ Tiến sĩ Quảng Tây Án sát sứ Lao Sùng Quang thi dĩ hạ”).
6) Nhóm 6: Từ trang sau tờ 4’ đến giữa trang sau tờ 33’ gồm 97 bài và chùm thơ, từ bài
Phụng hoạ Thương Sơn Công thu dạ uỷ tặng thứ vận đến bài
Nguyệt dạ đồng chư hữu du Phạm Hoà Phủ hoa viên, đều là thơ Cao Bá Quát. Trang đầu có ghi dòng chữ
Chu Thần Cao ngâm tập. Từ đầu tờ 22’ trở về cuối, hầu hết có liên quan đến chuyến công cán Hạ Châu của tác giả. Trong 97 bài và chùm thơ này có 4 bài và 1 chùm thơ tứ thủ trùng với những bài ở phần đầu (4 bài trùng nhau: a/ bài
Ẩm Nguyễn tú tài thư các dạ thính Mai sinh đàn Nguyễn ca, b/ bài
Đằng Giang châu ca giả Phú Nhi ký hữu sở dữ, thư dĩ tặng trùng với
Đề Đào nương xá ở phần đầu, c/ bài
Bốc cư thập nhị vận, d/
Đăng Chân Vũ quán lâu đồng Hoàng Đức Hiệp tú tài, đối tửu vọng hồ thượng chư tự trùng với
Đề Chung lâu ở phần đầu, và d/ chùm
Vãn du Sài Sơn, vũ hậu đăng sơn đầu đề Thuỵ Am, đồng chư nhân đề bích tứ thủ trùng với bài
Đề Sài Sơn và chùm Hựu đề Sài Sơn tam thủ ở phần đầu - tức phần đầu có 5 bài và 1 chùm tam thủ trùng với phần sau). Sở dĩ trùng là vì nhóm 6 vốn đã là một tuyển tập thơ khác của Cao Bá Quát -
Chu Thần Cao ngâm tập.
7) Nhóm 7: Từ giữa trang sau tờ 33’ đến hết trang đầu tờ 35’ (kết thúc tập sách), bắt đầu bằng chữ “Phụ lục” và tiếp đó chép bài văn xuôi
Tế Hoàng giáp Thượng thư Vũ Quỳnh văn. Dòng chữ kèm theo “Tế tử Trạng nguyên Lê Nại soạn” 婿子狀元黎鼐譔 cho biết tác giả bài văn tế là Lê Nại (Tiến sĩ 1505), con rể của Vũ Quỳnh (1453-1516).
Tóm lại, bản A. 299 có tất cả 38 bài văn xuôi gồm các thể loại văn tế, biểu, luận, biện, ký, tự…, trong đó có bài
Thư Tiêu lâm thi tập hậu được nhiều người xem là của Cao Bá Quát, 1 bài văn tế ông Vũ Quỳnh của Lê Nại, còn lại là của Vũ Phạm Khải và các nhà khác; 565 bài và chùm thơ (không kể các bài chép trùng), trong đó có 339 bài và chùm là của Cao Bá Quát, 2 bài cần tồn nghi, một loạt 54 bài vịnh nhân vật nữ Trung Quốc có khả năng của Cao Bá Quát, 10 bài và chùm của Lao Sùng Quang (Trung Quốc), 160 bài chưa xác định tác giả.
10. Bản j,
Mẫn Hiên thi tập 敏軒詩集 (ký hiệu VHv. 48 - số mục 2868 theo
Đề yếu): Mẫn Hiên thi tập ở đây là tập thứ 2 trong 7 tập thơ của các danh nhân triều Nguyễn cùng chép vào một sách, có tên chung là
Quốc triều danh nhân mặc ngấn 國朝名人墨痕. 6 tập còn lại đều của các tác giả khác.
Mẫn Hiên thi tập gồm 10 trang, từ tờ 11 đến tờ 15, có 28 bài - trong đó có 19 bài không trùng lặp với các sách khác.
11. Bản k,
Danh nhân thi tập 名人詩集 (ký hiệu A. 2167 - số mục theo
Đề yếu): Tuyển tập thơ các danh nhân triều Nguyễn như Cao Bá Quát, Bạch Đông Ôn, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Phú Thứ, Nguyễn Văn Lý, Cao Bá Nhạ... Thơ Cao Bá Quát 32 bài, từ tr. 1a đến tr. 7a, mỗi bài đều 16 câu ngũ ngôn và không trùng với các tập khác.
12. Bản L,
Du Ngũ Hành Sơn xướng hoạ tập 遊五行山倡和集 (ký hiệu A. 2505 - số mục 749 theo
Đề yếu): Chữ thảo khó đọc. Gồm thơ xướng hoạ của Cao Bá Quát, Nguyễn Chí Đình (tức Nguyễn Văn Lý) và Minh Trọng khi họ cùng du lãm Ngũ Hành sơn ở Quảng Nam. Ở dưới mỗi đầu đề, có bài xướng trước của một người, sau đó lần lượt các bài hoạ của người khác. Cao Bá Quát có 14 bài.
13. Bản M,
Mẫn Hiên thi loại. Vốn là sách
Chu nguyên tạp vịnh thảo 周原雜詠草 (ký hiệu A. 2805 - số mục 502 theo
Đề yếu) có 138 trang, chép 3 tập thơ. Hai tập đầu là
Sứ Hoa tùng vịnh thi tập và
Mai Lĩnh sứ Hoa thi tập, đều của người khác làm trong các dịp đi sứ Trung Quốc. Tập sau là
Mẫn Hiên thi loại của Cao Bá Quát, từ tr. 66b đến tr. 69b (gồm 7 trang). Ở tr. 66b, dòng đầu ghi “Mẫn Hiên thi loại” và “Cao Bá Quát”, dòng thứ 2 ghi “Vọng dương tập” 望洋集, gồm 29 bài và chùm thơ làm trong thời gian tác giả vào Quảng Nam, rồi sau đó trong chuyến “Dương trình hiệu lực” đi Hạ Châu. Tập này có 10 bài không có trong các sách khác.
14. Bản N,
Mẫn Hiên thi loại 敏軒詩類 (ký hiệu VHv. 1996 - số mục 2146 theo
Đề yếu): Sách có 72 trang (
Đề yếu ghi là 76 trang, nhưng thực tế chỉ có 36 tờ, đánh số bằng chữ Hán ở lề trái), chép 130 bài và chùm thơ Cao Bá Quát, trong đó 50 bài không có ở các sách khác.
15. Bản o,
Danh nhân thi đề 名人詩題 (ký hiệu R. 395 - không ghi trong
Đề yếu): Sách đang lưu tại Thư viện Quốc gia, 24 trang, chép xen kẽ thơ các tác giả Cao Bá Quát, Thám hoa Vũ Đề, Cử nhân Chu Tập Hy, Phó bảng Nguyễn Phương Đình, Nhị giáp Nguyễn Thượng Hiền... Thơ của Cao Bá Quát có 5 bài, trong đó 4 bài có chép ở các sách khác (A, B, C, F, H, i, j), một bài (
Du Bối Am bỉnh chúc dạ đề) chỉ thấy chép ở sách này. Có 10 bài khác chép liền sau các bài của Cao Bá Quát nói trên nhưng không ghi tên tác giả kèm theo nên chúng tôi chưa thể khẳng định là của ai. Các bài ghi tên tác giả khác không bàn ở đây.
16. Bản P,
Mẫn Hiên thi tập - Quyển tam 敏軒詩集 - 卷三 (ký hiệu A. 2313 - số mục 2146 theo
Đề yếu): Sách gồm 25 tờ, trang đầu ghi
Mẫn Hiên thi tập - Quyển tam, chép 70 bài và chùm thơ Cao Bá Quát, trong đó 69 bài và chùm không trùng ở các tập khác. Hai chữ “quyển tam” ở đầu sách cho thấy quyển nhất và quyển nhị chưa tìm thấy. Phần sau bản A [A. 1494: [i]Cao Mẫn Hiên tiên sinh thi[/i]] ghi là “quyển lục”, phần giữa bản C [VHv. 1433: [i]Cúc Đường thi loại[/i]] ghi là “quyển ngũ”. Nếu các quyển này liên quan nhau thì còn chưa tìm thấy “quyển tứ” nữa. Theo nhận xét của Chu Thiên (1963) khi so sánh với “bản bút tích” Cao Bá Quát viết 4 bài thơ
Chơi núi Sài Sơn từng được Sở Văn hoá Hà Nội trưng bày ở Văn Miếu trong cuộc triển lãm Văn học thủ đô Tết Nhâm Dần 1962, thì “Đây chính là một bản gốc, nguyên cảo còn giữ nguyên bút tích của tác giả”, “chữ yên là khói ở bài thơ viết thiếu nét ngang đóng ở chữ nhân (…), chữ Chu trong Cao Chu Thần ở cả hai nơi đều thò nét lên cao như nhau” (bài
Cao Bá Quát và cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương” trích in trong
Thông báo khoa học của Trường ĐHTH, tập I - Sử học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 81). Tuy nhiên, theo chúng tôi, căn cứ để Chu Thiên xác định “bút tích” Cao Bá Quát là chưa đủ sức thuyết phục, mà đây là sách do người sau chép lại. Lý do thứ nhất: vấn đề là thủ bút bốn bài thơ nói trên có đúng của Cao Bá Quát không, hay là nguỵ tạo? Thực tế cho thấy cặp câu đối “bái mai hoa” cũng một thời được sùng kính coi là bút tích Cao Bá Quát để rồi Tảo Trang (1963,
Nghiên cứu văn học số 2) rồi lại Hoa Bằng (1972, t/c
Văn học số 2) đã phải lên tiếng đính chính. Lý do thứ hai: chữ viết trong sách
Cao Mẫn Hiên thi tại Thư viện Khoa Văn học và Ngôn ngữ trường ĐHKHXH và NV TP.HCM đôi khi cũng có cách viết tương tự về chữ nhân 因 thiếu nét ngang đóng (trong chữ 恩 tr. 43), và chữ chu 周 có nét sổ bên trong ló lên (ví dụ: chữ 周 tr. 9, chữ 惆 tr. 21, chữ 調² tr. 41b) mà đây không phải thủ bút Cao Bá Quát, vì tr. 1 có ghi “Cao Mẫn Hiên tiên sinh thi” (từ “tiên sinh” cho thấy là thủ bút người khác). Lý do thứ ba: thơ chép ở bản này không theo trật tự nào, chen lẫn các thể trường thiên, tứ tuyệt, bát cú, thất ngôn, ngũ ngôn... Nếu chính tác giả chép nhất định phải theo trật tự nào đó.
17. Bản Q,
Chư gia thi văn tuyển 諸家詩文選 (ký hiệu A. 357 - số mục 529
theo Đề yếu): Gồm thơ xướng hoạ của 7 người với nhau: Cao Bá Quát, Nguyễn Phương Đình, Lê Hy Vĩnh, Vũ Hoán Phủ, Nguyễn Khoái Ông, Trần Thận Tư và Diệp Di Xuân. Riêng thơ Cao Bá Quát có 7 bài và 1 chùm (11 thủ), trong đó 4 bài và chùm 11 thủ không trùng với các tập khác.
18. Bản R,
Danh nhân thi tập 名人詩集 (tập 1) (ký hiệu VHv. 1454/1 - số mục 673 theo
Đề yếu): Gồm thơ nhiều tác giả triều Nguyễn. Đề yếu không nói có thơ Cao Bá Quát, nhưng từ tr. 57 đến tr. 79 (23 trang) là thơ Cao Bá Quát, gồm 46 bài và chùm, trong đó 3 bài không thấy chép ở các tập khác.
19. Bản S,
Danh nhân thi tập 名人詩集 (tập 2) (ký hiệu VHv. 1454/2- số mục 673 theo
Đề yếu): Gồm thơ nhiều tác giả triều Nguyễn. Đề yếu không nói có thơ Cao Bá Quát, nhưng ở tr. 38 và các trang từ 140 đến 152, có chép 23 bài và 1 chùm nhị thủ của Cao Bá Quát, trong đó 10 bài không thấy chép ở các sách khác.
20. Bản T,
Vạn tuyển tân biên 萬選新編 (ký hiệu A. 1224/1 - số mục 4167 theo
Đề yếu): Các tác phẩm gồm nhiều thể loại của nhiều tác giả. Cao Bá Quát có 9 cặp câu đối chép ở các tr. 206a, 206b, 207a và 212b.
21. Bản U,
Danh nhân văn tập 名人文集 (ký hiệu VHv. 2432 - số mục 674 theo
Đề yếu): Các tác phẩm gồm nhiều thể loại của các danh nhân đời Lê, Nguyễn. Cao Bá Quát có bài
Trướng trung dạ ẩm phú từ tr. 6a đến tr. 7b. (Lưu ý: Dòng chữ “Cao Bá Quát soạn” bên dưới đầu đề bài phú được người sau khoanh lại và viết thêm bên dưới đó dòng chữ “Chánh sứ Lao Sùng Quang” bằng mực nhạt, không ghi chú gì thêm. Có thể đây là gợi ý tồn nghi nhưng không được ghi rõ, chúng tôi tạm thời chưa dám xem là của Lao Sùng Quang).
22. Bản V,
Tiên giang tam hữu chí 仙江三友志, ký hiệu A. 2776 - số mục 3707 theo
Đề yếu). Sách chép truyện Bùi Hoa Phong, Bùi Hổ Khê và nhà sư Tây Tự cùng kết bạn dạo chơi sơn thuỷ, xướng hoạ thơ văn. Sách có bài
Nguyễn tiên sinh ai lỗi của Cao Bá Quát, tr. 34, nhưng không rõ tiên sinh là ai.
23. Bản W,
Trung sơn phú thảo 中山賦草 (ký hiệu VHv. 500 - số mục 3956 theo
Đề yếu) (ở đầu sách này có ghi ký hiệu sách là “VHv. 50D” có lẽ có sự nhầm lẫn số 0 và mẫu tự D vì giống nhau): Gồm nhiều bài phú mẫu có xếp hạng. Ở tr. 29 chép bài phú của Cao Bá Quát:
Phan Thượng thư quy Sài Sơn, được xếp hạng bình. Đây cũng chính là bài
Phan Thượng thư quy Sài Nham phú chép trong Phan tộc công phả nói trên.
24. Bản X,
Mẫn Hiên thuyết loại 敏軒說類 (ký hiệu A. 1072 - số mục 2147 theo
Đề yếu): Tập truyện ngắn 182 trang. 10 truyện đầu, từ tr. 1 đến tr. 28, là của Cao Bá Quát, còn lại là của Trương Quốc Dụng (theo Khảo cứu của Hoàng Văn Lâu, xem t/c Hán Nôm, số 2 (7)-1989, tr. 6-8).
25. Bản Y,
Trường văn 場文 (ký hiệu VHv. 1172 - số mục 3994 theo
Đề yếu): Gồm trên 70 bài kinh nghĩa của những người nổi tiếng văn hay dùng làm mẫu trong nhà trường, hầu hết đuợc xếp loại bình, thứ… viết bằng chữ thảo hết sức khó đọc. Có 18 bài nhận ra tên tác giả “Cao Bá Quát”, nhiều bài khác được nhận ra tên tác giả là “Cao Bá Đạt”.
26. Bản Z1,
Bản triều bạn nghịch liệt truyện 本朝叛逆列傳 (ký hiệu A. 997 - số mục 118 theo
Đề yếu): Tác phẩm sử, do Giá Sơn Kiều Oánh Mậu soạn năm 1901, kể về những cuộc nổi dậy chống nhà Nguyễn và thực dân Pháp. Trong truyện kể về Cao Bá Quát và cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương, có chép 2 bài hát nói của Cao Bá Quát, hoàn cảnh ra đời của 2 bài đó và một cặp câu đối Nôm.
27. Bản Z2,
Hoa Dung tiểu lộ 華容小路 (ký hiệu AB. 422 - chữ Nôm, số mục 1390 theo
Đề yếu). Sách có 25 tờ, chia làm 2 phần:
+ Phần 1: Từ tr. 1a đến tr. 8a là vở tuồng Nôm
Hoa Dung tiểu lộ.
+ Phần 2: Từ tr. 8b đến tr. 25a chép trên 50 bài hát nói của nhiều tác giả. Một số bài có ghi tên tác giả như Nguyễn Công Trứ, Trịnh Đnh Thái, Lê Hữu Thanh, Nguyễn Văn Thắng, Cao Bá Quát, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Tân, Doãn Khuê, Nguyễn Đức Nhu, Nguyễn Quốc Cẩm… Trong đó 2 bài có ghi tên tác giả Cao Bá Quát, 1 bài không ghi tên nhưng có thể nhận ra là của Cao Bá Quát nhờ có chép trong bản Z1. Còn lại đều chưa rõ tác giả.
28.
Truyện ông Cao Bá Quát 傳翁高伯适 (ký hiệu R. 699 - không chép trong
Đề yếu), 22 trang, 12 x 18.5, in gỗ năm Bảo Đại Tân Mùi (1931) do Phúc Văn Đường tàng bản, hiện lưu tại Thư viện Quốc gia, chủ yếu ghi giai thoại về Cao Bá Quát. Trong truyện có chép 2 bài thơ Nôm và 1 cặp câu đối Nôm Cao Bá Quát giống bản Z1 (Bản triều bạn nghịch liệt truyện - A. 997). Còn lại có tính giai thoại, không đủ tin.
29.
Ca trù 歌籌 (ký hiệu VHb. 14 - chữ Nôm, số mục 304 theo
Đề yếu). Gồm một số bài ca trù của các tác giả Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Quý Tân, Nguyễn Văn Thắng… Cao Bá Quát có 2 bài ở tr. 2a, 2b và tr. 9a, 9b, 10a. Mỗi bài đều có đầu đề chung: “Cử nhân Cao Bá Quát soạn”. Và cả 2 bài này cũng đều có chép trong bản Z2 (AB. 422: Hoa Dung tiểu lộ).
30.
Tạp văn sao 雜文抄 (ký hiệu VHt. 6 - số mục 3150 theo
Đề yếu): gồm thơ văn, phú, kinh nghĩa… của nhiều tác giả. Tác phẩm Cao Bá Quát có 3 bài thơ, 1 bài phú (
Phan Thượng thư quy Sài Nham phú), đều có chép ở một số tập khác.
31.
Phan tộc công phả 潘族公譜 (ký hiệu A. 2963 - số mục 2637 theo
Đề yếu): Gia phả họ Phan Huy (có Phan Huy Ích thuộc đời thứ 8) ở Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Sơn Tây. Ở tr. 72 có chép bài phú của Cao Bá Quát:
Phan Thượng thư quy Sài Nham phú (
Đề yếu ghi “… quy Sài Am” là không đúng).
32. Cao
Chu Thần biệt tập 高周臣別集 (đang lưu tại Thư viện khoa Văn học và Ngôn ngữ trường Đại học KHXH và NV TP.HCM): Sách gồm 45 tờ (90 trang) bằng giấy bản đã cũ, khổ 14x26cm, do Mính Viên (Huỳnh Thúc Kháng) sao lục và đề lời dẫn “Cao Mẫn Hiên thi tập bổ lục”, chép 52 bài và chùm thơ Cao Bá Quát, có nội dung đều trùng với các sách kê trên. Phần phụ lục của sách chép thơ văn Mai Sơn (Nguyễn Thượng Hiền) và Kỳ Am (Nguyễn Lộ Trạch).
33.
Mẫn Hiên thi tập 敏軒詩集: 46 tờ (không kể 2 tờ bìa phụ đầu sách). Hiện đang lưu tại Thư viện Khoa Văn học và Ngôn ngữ trường Đại học KHXH và NV TP.HCM. Ở giữa trang bìa trong đầu sách có dòng chữ “Mính Viên tiên sinh huệ tồn” 茗園先生惠存, phía dưới bên trái có dòng chữ “Sở Cuồng Lê Dư thướng” 楚狂黎璵上. Đầu tr. 1 ghi Mẫn Hiên tiên sinh thi. Trừ 3 trang cuối là do người khác chép thêm vào với chữ viết cẩu thả, nguệch ngoạc, còn lại là nét chữ mềm mại, thanh thoát giống bản N (Mẫn Hiên thi tập - Quyển tam, ký hiệu A. 2313, mà Chu Thiên cho là “nguyên cảo” với “bút tích” của Cao Bá Quát). Gồm 130 bài và chùm thơ Cao Bá Quát. Nếu không tính 3 bài cuối thì 127 bài đầu giống số bài bản A: Cao Mẫn Hiên tiên sinh thi (ký hiệu A. 1494).
34.
Hành ngâm ca từ thi tấu 行吟歌詞詩奏 (ký hiệu A. 623 - số mục 1345 theo
Đề yếu): Tập thơ và văn xuôi của Phan Đình Dương (Tiến sĩ khoa Nhâm dần 1842). Sách chép lẫn 3 bài thơ Cao Bá Quát:
Hồng mao hoả thuyền ca,
Dương phụ hành,
Đằng tiên ca. 3 bài này đều có chép trong các tập i, E, N.
35.
Bắc quốc lai phong khải 北國來封啟 (ký hiệu A. 2183 - số mục 194 theo
Đề yếu) (bản chụp ký hiệu VHc. 02064): Đề yếu ghi tên sách thiếu chữ lai 來. Chép bài khải của Lao Sùng Quang, sứ thần nhà Thanh, sang phong vương cho Tự Đức. Sách có chép 6 bài thơ của Cao Bá Quát.
36.
Đối liên thi văn tạp chí 對聯詩文雜志 (ký hiệu VHv. 219 - số mục 1079 theo
Đề yếu): Gồm câu đối, thơ, văn nhiều tác giả triều Nguyễn. Có 4 bài thơ chơi Sài Sơn của Cao Bá Quát chép ở 2 trang 11 và 12 (tức chùm
Vãn du Sài Sơn, vũ hậu đăng sơn đầu, đề Thuỵ Am, đồng chư nhân đề bích tứ thủ có chép trong các tập B, H, i.
37.
Văn tuyển tạp biên thi khải 文選雜編詩啟 (ký hiệu VHv. 1862 - số mục 4212 theo
Đề yếu), gồm thơ văn nhiều tác giả. Có 1 bài thơ của Cao Bá Quát (bài Sài Sơn, là 1 bài trong chùm tứ thủ
Vãn du Sài Sơn... nói trên).
38.
Thi văn tâp biên 詩文集編 (ký hiệu VHv. 1879 - số mục 3488 theo
Đề yếu).
Đề yếu miêu tả: “152 bài thơ, văn của Cao Bá Quát: vịnh thắng cảnh, vịnh nhân vật lịch sử, tiễn tặng, thù ứng với bạn bè, vịnh chợ búa, phố xá, miếu Mị Châu, đền An Dương Vương, đền vua Lê, người thuyền chài, kiếm củi, miếu thờ thần súng, trường Giảng Võ…” (Tập III, tr. 212). Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi, sách này có nhiều bài thơ sáng tác sau thời Cao Bá Quát, và không chép bài nào của Cao Bá Quát. Chẳng hạn, tr. 63, sau đầu đề bài thơ
Đê công tức sự có dòng chữ “Thời Tự Đức cửu niên (1856), hà thuỷ bội thường…”; trang 66, sau bài
Tiễn Thanh Hà huyện doãn Lê công… có chú “Tự Đức thập ngũ niên…” (1862); trang 78, bắt đầu lời tự sau đầu đề một bài thơ có câu “Tự Đức Bính dần…” (1866)… cho thấy các bài này làm khi Cao Bá Quát đã qua đời (đầu 1855).
39.
Thi văn tạp biên 詩文雜編 (ký hiệu VHv. 1880 - số mục 3474 theo
Đề yếu):
Đề yếu miêu tả: “Thơ văn của Cao Bá Quát, Vũ Phạm Khải v.v. Văn bia ở miếu Đế Thích, ở chùa Quảng Cư. Biểu của Cát Sĩ họ Đỗ tạ ơn Tổng đốc họ Nguyễn về việc cho mở trường học…” (Tập III, tr. 205). Tuy nhiên qua khảo sát chúng tôi không thấy bài nào có ghi tên Cao Bá Quát hoặc trùng với tác phẩm Cao Bá Quát đã được biết đến.
40.
Thi văn tạp biên 詩文雜編 (ký hiệu VHv. 2612 - số mục 3475 theo
Đề yếu):
Đề yếu miêu tả: “71 bài thơ, biểu, văn tế, văn cầu đảo, văn khấn ăn thề… của Cao Bá Quát, Vũ Phạm Khải v.v.” (Tập III, tr. 206). Cũng vậy, chúng tôi khảo sát thấy đều là văn tế, không bài nào ghi tên Cao Bá Quát.
41. Theo Claudine Salmon và Tạ Trọng Hiệp trong bài “Sứ thần Việt Nam Cao Bá Quát và nhận thức của ông qua chuyến đi công cán Vùng Hạ Châu”, “Ở nước ngoài cũng đang còn có nhiều bản sưu tập về những tác phẩm của Cao Bá Quát hoặc dưới dạng những bản viết tay hoặc microfilms” (xem t/c
Nghiên cứu lịch sử, số 5- 1996, chú thích số 8, tr. 53).
Chú thích: