21/03/2026 22:05Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới
Đăng bởi Hoa Xuyên Tuyết vào 08/07/2007 08:09
Khước tiếu Tây Sơn nghiệt1.2. Chế độ quân chính “có bản chất quân phiệt” chưa kịp lột xác mà mất chủ tướng thì tất sinh nội loạn, tàn sát lẫn nhau, làm suy yếu triều đại, tạo thuận lợi cho các thế lực thù địch trỗi dậy, dẫn đến cuộc nội chiến kéo dài Tây Sơn - Nguyễn Ánh. Tận dụng được ưu thế của kỹ thuật phương Tây và tiền bạc cùng lực lượng của thương nhân người Hoa, và - quan trọng hơn - lợi dụng được tâm lý sớm thất vọng của sĩ phu và dân chúng đối với triều Tây Sơn, thể hiện thành những cuộc ly khai trong hàng ngũ tướng sĩ của vua Quang Toản, Nguyễn Ánh đánh chiếm kinh đô Phú Xuân năm 1801 và năm 1802 tiến ra Bắc thành tiêu diệt vương triều của những người áo vải, thống nhất được đất nước sau ngót hai trăm năm phân tranh.
Vô bản nhất triêu khuynh
(Lại nực cười cho lũ nghiệt chướng nhà Tây Sơn!
Không có gốc nên một sớm một chiều đã sụp đổ
- Nguyễn Văn Siêu)
Học cổ làm quan nay chẳng hợpLà những môn đồ chân chính của Khổng Tử, họ bất bình. Họ chứng kiến cảnh dân đói khát tụ tập nhau làm loạn, nhưng họ cũng không thể không thấy mọi sự phản kháng lập tức bị đàn áp thảm khốc. Chống lại triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ khác nào “lội ngược dòng nước xiết”. Đó là một ẩn ý mà tiến sĩ Nguyễn Văn Lý gửi gấm trong cái điển cố quen thuộc “cấp lưu dũng thoái” ở bài văn tế Vũ Tông Phan sau này (1851): “Phan tự trong lòng biết rõ giữa dòng nước xiết phải dũng cảm thoái lui” (chúng tôi nhấn). Phương châm ứng xử này trước thời thế của Vũ Tông Phan và các bạn cùng chí hướng trong hội Hướng Thiện sẽ còn truyền đến lớp sĩ phu liên quan Đông Kinh nghĩa thục như Nguyễn Trọng Hợp, nên xin phân tích rõ hơn.
(Vũ Tông Phan - Ngẫu cảm - 1831)
Gươm báu mới mài ngời ánh sángTức thị là chữ “tàng” của họ không có nghĩa “không hành động” mà là làm sao, hành động thế nào để cái chí khí Nho gia mà thời thế buộc phải tàng đó vẫn toả sáng, vẫn ảnh hưởng khắp nơi nơi. Luật lệ đời Minh Mạng rất nghiêm khắc đối với việc cáo ốm xin nghỉ hưu (Đại nam điển lệ toát yếu). Vũ Tông Phan trong một bài thơ gọi sự bắt buộc làm quan như vậy là “cái nợ quan trường” và không ai lường trước được “cái nợ quan trường biết mấy niên?”, có người may mắn chỉ phải trả món nọ ấy 7 năm như chính ông Phan, có người phải mang nó gần như suốt đời như Nguyễn Văn Lý. Trong nghịch cảnh ấy của họ thì quan niệm trên đây về “hành - tàng” là một đối sách hiệu quả đối với sự ràng buộc của nhà nước chuyên chế: họ có thể “tàng” ngay giữa triều đình, nghĩa là vẫn tiến hành những hoạt động theo một phương thức riêng nhằm thực hiện chí hướng chung của họ. Trên thực tế tiến sĩ Nguyễn Văn Lý, phó bảng Nguyễn Văn Siêu, và cả cử nhân Cao Bá Quát (cho đến khi không “tàng” được nữa vào cuối đời, buộc phải hành một cách tuyệt vọng!), đều đã phải ứng xử như vậy để thực hiện được phần nào đạo “nhân nghĩa” và chí hướng “trung chính” của Nho gia mà họ mong muốn giữ vững. Nguyễn Văn Lý từng viết trong bài thơ năm 1835 gửi Vũ Tông Phan và cử nhân Phạm Hội (1) (1791 - 1854), người cáo quan về mở trường dạy học trước cả tiến sĩ họ Vũ: “Dùng được năng lực đúng chỗ, ấy là làm nên công danh sự nghiệp”. Bản thân ông Phan trong thư năm 1838 gửi tiến sĩ Lê Duy Trung (1795 - 1863) sau đêm chia tay tiễn Trung vào Huế nhậm chức, cũng từng cảnh tỉnh: “Điều đáng lo nhất trong thiên hạ, không gì bằng sức không đủ mà gắng gượng làm”. Ông muốn nhắn nhủ bè bạn nơi “gần mặt trời dễ rát mặt” về chữ “tàng” của họ chăng?
Hành hay tàng vẫn rạng muôn phương
(Vũ Tông Phan - Ngọc Sơn đế quân từ ký, 1843)
Làm con thì phải làm sao chí hiếu,Trong bối cảnh không ít kẻ cơ hội bợ đỡ giặc để phất lên nhanh chóng, ăn chơi sa đoạ, Đức Thánh Trần cảnh tỉnh: “Các ngươi đã quy làm đệ tử ở cửa ta thì hãy mau mau tỉnh ngộ, làm điều thiện, trừ điều ác <...> Tệ hám tửu sắc, tham bạc tiền đều kiên quyết mà dứt bỏ, thói ngạo mạn, tham ô thảy nghiêm hình mà diệt trừ <...>. Sĩ, nông, công, thương, người nào việc nấy, không vương phận bọt bèo nổi trôi...” Và Ngài cũng không quên chống tệ mê tín cầu cúng khi dạy bảo rằng nếu làm theo được “nhân nghĩa” của Ngài, gìn giữ được lòng “trung hiếu” của Ngài thì “tự khắc thần yêu, quỷ sợ, hoạ đi, phúc đến; bất tất phải cầu xin thần uy của ta...”
Làm tôi thì phải làm sao tận trung,
Anh em thì phải làm sao thuận hoà,
Vợ chồng thì phải làm sao thực kính,
Bè bạn thì phải làm sao thực tín!
Cùng non nước, cùng hình dáng ấy,Vẫn là cái hồn của Đạo Nam kinh! Cái hồn của Đông Kinh nghĩa thục! Chính vì vậy mà kinh Tâm pháp được “sư huynh” Xuân Sơn Hoàng Đình Đống, vốn trong số phả viên An Lạc có đóng góp dựng đàn giảng kinh năm 1903 và từ khoảng những năm 20 làm Phả trưởng phả Thiện Ngọc Sơn đã thống nhất trở lại, rồi “sư đệ” Xuân Tăng Vũ Bội Hoàn, con trai ông Vũ Cư mà ông Xuân Sơn thường đi lại thăm hỏi và trao đổi về việc của Phả, nối tiếp nhau giảng hơn chục năm ở đền Ngọc Sơn và các đền chùa một số tỉnh lân cận (Vũ Đình Hoè). Có thể coi họ là những đại diện cuối cùng của hội Hướng Thiện như một tổ chức hoạt động văn hoá - xã hội rộng rãi, lặng lẽ chuẩn bị hơn nửa thế kỷ cơ sở để cho Đông Kinh nghĩa thục có thể trong một thời gian ngắn bùng phát mạnh mẽ và rộng khắp. Phả Thiện Ngọc Sơn còn tồn tại một thời gian nữa, nhưng chỉ còn hoạt động từ thiện và bảo tồn di tích.
Cùng giống nòi tự bấy nhiêu lâu,
Cùng chung khí huyết một bầu:
Tiên - Long ta vẫn trước sau ghi truyền.
Tình nghĩa lúc sinh tiền khôn xiết,
Cùng màu da, xác thịt trước sau,
Kể chi già, trẻ, nghèo giầu,
Vốn là cùng giống với nhau một loài.
Chú thích:
In từ trang: https://www.thivien.net/ » Vũ Tông Phan » Hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn - một cội nguồn văn hoá, xã hội sâu xa của phong trào Duy tân và Đông Kinh nghĩa thục