28/03/2026 19:20Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới
Đăng bởi tôn tiền tử vào 07/07/2022 17:16
性癖殊堪笑,Chất đời thường trong câu chuyện gửi vào ngôn từ nghệ thuật, trở thành thế mạnh đem đến sự sinh động cho thơ. Lời thơ giản dị như bạn kể cho bạn, bố kể cho con, ông kể cho cháu. Chúng ta làm một phép so sánh: Phan Ngọc thống kê trong Đường thi tập I không có chữ hồ (乎), có 4 chữ chi (之), 7 chữ giả (者), 4 chữ dã (也). Vậy mà, bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt hai mươi chữ Tự trào có hư từ xuất hiện ở hấu hết các câu thơ như thậm (堪), diệc (亦), tài (纔). Phan Ngọc nhận định: trong thơ Đường, “tất cả mọi hư từ chỉ những thao tác của tư duy đều bị loại trừ hết như kì (其), cái (蓋), tắc (則), phù (夫), phàm (凡), cố (故), hựu (又)… (vì) thơ Đường chấp nhận làm tiền đề cho cái mã của nó là tính đồng nhất của những hiện tượng mà giác quan cho là mâu thuẫn” (8). Theo chúng tôi, hư từ vốn để diễn đạt nội dung, tư tưởng, ý tứ được tường minh. Các mối quan hệ được xác lập càng minh bạch thì chất khẩu ngữ, đời thường càng rõ nét. Ngôn từ đời thường trong thơ biểu hiện mối tương quan giữa hình thức, nội dung, nhất là ý thức về quan niệm nghệ thuật. Có lẽ, đây là một bước tiếp nối dòng thơ ca thế sự thời Lý - Trần, góp phần đánh dấu quan niệm về một con người đời thường đã nảy mầm trong thơ ca Việt Nam thời trung đại. Những xúc cảm, trạng thái trong cuộc sống thường nhật như vui buồn, ngạc nhiên, hoảng sợ, vội vàng… trở thành đối tượng thẩm mĩ của thơ ca. “Cái được biểu đạt” này cần “cái biểu đạt” là ngôn từ đời thường, thậm chí là khẩu ngữ. Nền văn học Việt Nam do đó mà từng bước thay đổi…
吟多亦不工。
夜深纔得句,
猛起急呼童。
Tính tích thù kham tiếu
Ngâm đa diệc bất công
Dạ thâm tài đắc cú
Mãnh khởi cấp hô đồng
(Thói quen thành tính riêng đáng cười
Ngâm nga nhiều nhưng thơ chẳng khéo
Đêm khuya vừa mới được câu thơ
Bật dậy vội vàng gọi trẻ nhỏ)
桑暗蠶正眠,Làng quê tràn đầy năng lượng trong giấc ngủ no nê của tằm nương bóng dâu, trong vẻ háo hức của chim non bắt đầu được mớm mồi, trong tiếng cưu thong thả cất tiếng ban trưa. Ngay cả chữ quyện (mệt mỏi) cũng đồng nghĩa với sự thảnh thơi của người nông dân vác cày bừa trở về khi xong việc ruộng đồng. Hình tượng nghệ thuật mang thông điệp của một trái tim luôn hoà nhịp cùng làng quê gợi nhớ đến những vần thơ của Đào Uyên Minh, một phong cách thi ca mẫu mực. Nhà thơ điền viên của Trung Hoa cũng có nhiều tứ thơ vui tươi, như bài Vị Xuyên điền gia:
簷低燕初乳。
力倦荷耡歸,
晝永鳩聲午。
Tang ám tàm chinh miên
Thiềm đê yến sơ nhũ
Lực quyện hà sừ quy
Trú vĩnh cưu thanh ngọ
(Cây dâu ngả bóng tằm đang ngủ
Mái nhà thấp chim yến bắt đầu được mớm mồi
Người làm sức mệt nên vác bừa trở về
Đẫy buổi, tiếng chim cưu đã giữa trưa)
雉雊麥苗秀,Như vậy, phong cách giản dị hồn hậu trong thơ của Hoàng Đức Lương biểu hiện nhân sinh quan luôn hướng đến sự sống, tấm lòng trân trọng những niềm vui bình dị, đời thường và được biểu hiện bằng một nghệ thuật thi ca điêu luyện từ ngôn ngữ đến hình tượng. Những bài thơ như Thôn cư, Tự trào… trở thành tác phẩm khởi nguyên cho dòng mạch thơ ca hướng đến cái thực rất đời thường của thơ ca chữ Hán Việt Nam thời Trung đại.
蠶眠桑葉稀。
田夫荷鋤立,
相見語依依。
Trĩ cẩu mạch miêu tú
Tàm miên tang diệp hi
Nông phu hà sừ lập
Tương kiến ngữ y y
(Chim trĩ kêu lúa mạch trổ bông
Tằm ngủ lá cây dâu thưa dần
Người nông phu vác bừa đứng
Gặp nhau nói chuyện xôn xao)
門庭風雨過,Những từ vô nhân, vô nhân cộng, vô tứ lân chứa đựng khát vọng tìm kiếm tri âm khi người thơ cất tiếng: có ai biết chăng? (hữu thuỳ tri). Sự ngóng vọng càng da diết bao nhiêu, nỗi khắc khoải càng day dứt tâm can nhường ấy. Người đi tìm hồn đồng điệu nhận ra chẳng mấy người hiểu mình (bài Trường Tín cung):
睡覺無人共。
深院靜陰陰,
寒簾辰自動。
Môn đình phong vũ quá
Thuỵ giác vô nhân cộng
Thâm viện tĩnh âm âm
Hàn liêm thìn tự động
(Cổng nhà, gió mưa qua
Ngủ dậy, chẳng ai cùng
Chốn sâu kín yên tĩnh, xa xăm
Rèm lạnh thỉnh thoảng tự lay động)
体弱霜應覺,Bài thơ Trường Tín cung diễn tả chuyển biến nội tâm của cung nữ nơi cung điện lộng lẫy nhưng lạnh lẽo:
衿寒秋亦悲。
不辭雙淚盡,
心事有誰知。
Thể sấu sương ưng giác
Khâm hàn thu diệc bi
Bất từ song lệ tận
Tâm sự hữu thuỳ tri
(Cơ thể hao gầy sương xuống là biết rõ
Chăn lạnh mà thu cũng buồn
Chẳng nói nên lời hai hàng lệ cạn khô
Nỗi niềm này có ai thấu tỏ)
恩斷猶疑夢,Sự bàng hoàng đến chán chường được gửi trong hàng loạt hành động: nghi mộng, ngưng hiểu toạ, dục tẩy diên hoa… tất yếu sẽ thành nỗi vô vọng đầy vơi. Thi nhân tinh tế nắm bắt cảm xúc và tâm lý nhân vật trữ tình vì ông đồng cảm mãnh liệt với sự tuyệt vọng của họ (bài Hoàng Đường dạ bạc 黃堂夜泊):
燈寒不作花。
粧成凝曉坐,
更欲洗鉛華。
Ân đoạn do nghi mộng
Đăng hàn bất tác hoa
Trang thành ngưng hiểu toạ
Cánh dục tẩy diên hoa
(Ân huệ hết còn ngờ là giấc mộng
Đèn lạnh không thành những đốm lửa
Trang điểm xong ngồi yên trong sáng sớm
Lại muốn tẩy sạch phấn son)
江上孤舟客夜遲,Cô đơn nhất là khi người ta tận cảm sự đơn độc mà không tìm được lối thoát. Ý thức này hiện hữu trong hình ảnh một con người giữa không gian tĩnh lặng (bài Dương Tử giang nhàn bộ):
一般心事少人知。
無端睡起憑高枕,
月淡風輕細細吹。
Giang thượng cô chu khách dạ trì
Nhất ban tâm sự thiểu nhân tri
Vô đoan thuỵ khởi bằng cao chẩm
Nguyệt đạm phong khinh tế tế xuy
(Con thuyền cô đơn trên sông, khách thả thuyền chậm rãi trong đêm
Một bầu tâm sự ít người thấu hiểu
Vô cớ tỉnh giấc tựa gối cao
Trăng mờ gió nhẹ hiu hiu thổi)
柳下柴扉靜,Không gian yên tĩnh được tái hiện trong một bài thơ giàu chất hoạ và suy tưởng. Ba câu đầu hiển hiện trước mắt người đọc sự vật hữu hình: sài môn (cửa liếp), ngư gia (nhà thuyền chài), nhật tà (mặt trời xế bóng). Nhưng câu cuối là một bóng người cô độc ở chốn bất định trong tâm tưởng. Sự đối lập giữa những cái thực và không thực đã nhấn mạnh nỗi đau có thật. Bài thơ gợi nhớ đến cuộc chia tay của Lưu Trường Khanh khi tiễn ngài Linh Triệt (bài Tống Linh Triệt Thượng nhân):
漁家無四鄰。
日斜江上路,
何處獨歸人。
Liễu hạ sài môn tĩnh
Ngư gia vô tứ lân
Nhật tà giang thượng lộ
Hà xứ độc quy nhân
(Dưới liễu cửa liếp vắng
Nhà chài không láng giềng
Tà dương chiếu trên con đường bên sông
Ở chốn nào người trở về một mình)
蒼蒼竹林寺,Trong thơ Hoàng Đức Lương, cảnh tĩnh vắng được gọi tên bằng những từ tĩnh, vô tứ lân và bằng nghệ thuật dĩ động tả tĩnh. Âm thanh của đêm, tiếng gió, tiếng mưa, tiếng côn trùng rả rích càng làm cho cảnh thêm tĩnh, người thêm sầu khổ (bài Phong vũ dạ):
杳杳鐘聲晚。
荷笠帶斜陽,
青山獨歸遠。
Thương thương Trúc Lâm tự
Diểu diểu thanh chung vãn
Hà lạp đới tà dương
Thanh sơn độc quy viễn
(Xanh xanh chùa Trúc lâm
Mênh mang tiếng chuông chiều
Nón sen vương tà dương
Núi xanh một mình trở về trên đường thẳm)
風雨三更夜,Hai câu đầu xác định thời gian canh ba, đêm, mùa thu và không gian bốn vách tường. Gió, mưa, dế mèn đều trở nên vô hình trong đêm nhưng âm thanh của chúng lại vang động, rền rĩ. Tác giả không sử dụng động từ như xuy, kiếu, trích, minh mà động từ hoá danh từ vũ, phong, cung tương. Để những hành động thuộc về con người ngâm (ngâm thơ trước cảnh thê lương), yểm (che song cửa nhỏ) trực tiếp xuất hiện trong hai câu cuối mang sức ám ảnh về nỗi đơn độc, vô vọng.
蛩螿四壁秋。
淒涼吟况味,
獨掩小窗幽。
Phong vũ tam canh dạ
Cung tương tứ bích thu
Thê lương ngâm huống vị
Độc yểm tiểu song u
(Mưa gió đêm canh ba
Tiếng dế trong bốn vách tường chính là tiếng thu
Thê lương ngâm ngợi ý vị tình cảnh này
Một mình vén cửa sổ nhỏ thấy vắng vẻ cô tịch)
月下長鳴訴,Ngay cả khi du ngoạn ở chùa Thiên Phúc trên núi Phật Tích, con người cũng gặp phải giấc mộng kinh hoàng giữa không gian tĩnh đến độ chỉ nghe tiếng lá cây rơi:
令人枕未安。
三更秋意苦,
霧濕草窗寒。
Nguyệt hạ trường minh tố
Lệnh nhân chẩm vị an
Tam canh thu ý khổ
Lộ thấp thảo song hàn
(Dưới trăng mãi kêu than
Khiến người ngủ chẳng an
Canh ba niềm thu thật thê lương
Mù làm ướt cỏ bên song lạnh)
簷下枕石眠,Tại sao ông bất an đến vậy? Phải chăng, trạng thái xúc cảm nảy sinh từ chiêm nghiệm thâm trầm về kiếp người (bài Đạo thượng):
樹老秋陰簿。
無人夢忽驚,
空庭山葉落。
Thiềm hạ chẩm thạch miên
Thụ lão thu âm tỗn
Vô nhân mộng hốt kinh
Không đình sơn diệp lạc
(Mái nhà thấp, gối đầu lên đá ngủ
Cây già bóng thu mỏng manh
Không người trong giấc mộng chợt giật mình hoảng sợ
Sân vắng lá cây trên núi rơi)
路遠無盡頭,Bài thơ gợi nhớ nỗi cô đơn vượt không gian và thời gian của Trần Tử Ngang trong Đăng U Châu đài ca: “Tiền bất kiến cổ nhân, Hậu bất kiến lai giả; Niệm thiên địa chi du du, Độc thương nhiên nhi thế há” (Trước không thấy người xưa, Sau chẳng thấy người sau; Ngẫm trời đất thật vô cùng, Một mình xót xa mà rơi lệ) (12). Khi nhận xét về thơ ca phương Đông, nhà văn hoá học Will Durant đã viết: “Thơ phải cho ta thấy cả bức tranh trong một vài nét, phải diễn tả một triết lí trong một vài hàng, một ý nghĩa sâu sắc trong một vài chữ… (Và mang những khoảng trống ngữ nghĩa) chỉ người phương Đông mới bổ sung được” (13). Hoàng Đức Lương đã gửi chiêm nghiệm trong bài thơ ngũ ngôn cổ thể vần trắc mang âm hưởng trầm mặc, trang nhã, cổ kính, kinh điển. Trong câu hỏi “người xưa bây giờ ở chốn nào?” ẩn chứa nỗi hoang mang, lo sợ, mất niềm tin, không phương hướng về con đường mình đã chọn và đang đi.
古今長歸去。
今人未肯休,
古人在何處。
Lộ viễn vô tận đầu
Cổ kim trường quy khứ
Kim nhân vị khẳng hưu
Cổ nhân tại hà xứ
(Đường thẳm chốn vô tận (chẳng biết điểm bắt đầu và nơi kết thúc)
Xưa nay (người ta) vẫn mãi trở về rồi ra đi
Người nay chưa chịu dừng bước
Người xưa ở chốn nào?)
勝地遊雖遍,Thời đại cũng cho ta hiểu hơn về tâm sự này của ông. Có nhà nghiên cứu đã nhận định: “Hoàng Đức Lương hình như không gửi gắm trong thơ mình một ý tưởng gì cao xa, kể cả những bài thơ sứ trình. Có lẽ vì ông sống trong một giai đoạn thịnh trị và cuộc đời xung quanh đủ làm ông yên tâm với nó” (13). Năm sinh năm mất của Hoàng Đức Lương hiện vẫn chưa minh xác, nhưng chúng ta còn biết được một số mốc thời gian trong cuộc đời ông. Ông đỗ đạt năm 1478, đi sứ năm 1489, được thăng Tả nghị phu sau khi đi sứ về, hoàn thành bộ Trích diễm thi tập năm 1497. Như vậy, ông làm quan vào lúc nhà nước phong kiến Lê Sơ đang trên đà suy thoái, biến loạn, sụp đổ. Càng về sau sự khủng hoảng càng lớn, đặc biệt sau khi Lê Thánh Tông mất năm 1497, Lê Uy Mục tàn bạo lên ngôi năm 1504. Trong hoàn cảnh này, người mang lòng yêu đời, đam mê sự sống bình yên tự tại giữa thiên nhiên bắt đầu cảm thấy chốn quan trường đầy gượng ép và bất lực trước thời cuộc. Thậm chí, ông còn nuối tiếc vì không “sớm biết công danh chẳng phải đất lành”. Tâm sự day dứt trong niềm cảm thương danh tướng vô địch thiên hạ được Hán Cao Tổ ca ngợi “nắm trong tay trăm vạn quân đã đánh là thắng”. Hàn Tín từng giúp Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ lập nên cơ đồ nhà Hán, nhưng cuối cùng lại bị hãm hại thảm thương. Khi đi sứ qua miếu Hàn Tín, Hoàng Đức Lương xúc động (bài Đề Hoài Âm miếu):
關山合有詩。
官身無定跡,
未敢與僧期。
Thắng địa du tuy biến
Quan sơn hợp hữu thi
Quan thân vô định tích
Vị cảm dữ tăng kỳ
(Cảnh đẹp rong chơi nhiều
Về chốn quan san thấy ưa chuộng mà có thơ
Thân làm quan nên không ở nơi yên định
Cho nên chẳng dám hẹn cùng sư)
項王不用寧非命,Thi nhân tìm thấy sự đồng điệu trong cuộc đời vị anh hùng cái thế. Nhân vật Hàn Tín trực tiếp khơi dậy nguồn xúc cảm của tác giả, trở thành đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, chiêm nghiệm, triết lý. Dù không trực tiếp bộc lộ cái tôi cá nhân nhưng người đọc vẫn có thể nhận ra tâm sự và suy tưởng của nhà thơ ẩn chứa trong nhân vật trữ tình, bởi vì tự biểu hiện cái tôi tác giả thuộc giá trị tự thân của thơ ca.
漢祖施恩豈是心。
早識功名非善地,
只應垂釣老准陰。
Hạng Vương bất dụng ninh phi mệnh
Hán Tổ thi ân khởi thị tâm
Tảo thức công danh, phi thiện địa
Chỉ ưng thuỳ điếu lão Hoài Âm
(Hạng Vương không dùng, đâu vì không mệnh
Hán Cao Tổ thi ân, há phải là tâm
Nếu sớm biết công danh chẳng phải là nơi đất lành
Thì chỉ cần buông câu đến già ở đất Hoài Âm)
性癖耽幽靜,Tính ưa u tĩnh nên ông hướng đến cuộc sống nhàn dật. Bệ la tức bệ lệ và nhữ la, cây hoang dã thường bám vào vách núi, cây rừng, vách tường nhà. Trong Sơn quỷ thuộc Cửu ca của Sở từ có hình ảnh quỷ trong núi mặc áo bệ lệ trông như người. Vì vậy, từ bệ lệ cũng dùng để chỉ trang phục của cao sĩ hoặc người ở ẩn. Về sau, thơ ca còn dùng từ bệ la để chỉ chỗ ở của cao sĩ, người ở ẩn. Trong Hán ngữ có từ bệ la y (chỉ trang phục của người ở ẩn), bệ la tử (người ở ẩn)… Ở đây, Hoàng Đức Lương viết nhàn hiên cận bệ la, gần chốn ẩn dật mà chưa phải chốn ẩn dật. Nhưng khát vọng sống giữa núi rừng thiên nhiên của một đời người chẳng thể nguôi ngoai khi ông đã nhìn rõ nẻo thanh vân chẳng phải chỉ toàn mây xanh… Chẳng biết trong đời có chặng nào ông được thoả nguyện hay không? Hy vọng là có bởi ông vẫn xem mình mang mối lương duyên tiền kiếp với thiên nhiên (bài Chu quá Cầu Quan giang):
閑軒近薜蘿。
風波往來路,
晴卷綠陰多。
Tính tích đam u tĩnh
Nhàn hiên cận bệ la
Phong ba vãng lai lộ
Tình quyển lục âm đa
(Thói quen thành bản tính là ưa sự thâm u tĩnh mịch
Hiên nhàn gần nơi đám cỏ bệ la
Mưa gió trên con đường qua lại
Trời tạnh thu gom hết gió mưa chỉ có bóng cây xanh)
林壑前緣有,Thi ca cho ta hiểu hơn về con người và tài năng Hoàng Đức Lương. Ông trân trọng, tin yêu cuộc sống nhưng đơn độc bởi không người tri kỉ giữa buổi suy vong của thời đại. Trái tim chất chứa ưu tư tìm về con đường nhiều nhà Nho đã chọn với khát vọng được tự do tự tại nơi sơn thuỷ điền viên. Nhà thơ đã gửi nhân sinh quan, tâm sự, hoài bão trong những bài thơ hàm súc, đúng như Lê Quý Đôn nhận định: “Từ chương thanh lệ, tình cảnh kiêm đáo” 詞章清麗,情景兼到 (Lời thơ trong sáng đẹp đẽ, cảnh và tình đều sâu sắc)! (14)
青山認昔人。
此辰初識面,
他日已相親。
Lâm hác tiền duyên hữu
Thanh sơn nhận tích nhân
Thử thìn sơ thức diện
Tha nhật dĩ tương thân
(Thú lâm tuyền vốn là tiền duyên
Núi xanh nhận rõ người xưa
Lúc này bắt đầu biết mặt
Ngày khác đã trở thành người thân của nhau)
Chú thích:
In từ trang: https://www.thivien.net/ » Hoàng Đức Lương » Khảo cứu thi ca của Hoàng Đức Lương