Lê Công Lý, Aug. 6, 2020 (Tiền Giang)
[1] Phạm Thiều, Cao Tự Thanh, Lê Minh Đức (2001),
Nguyễn Hữu Huân – nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất, Nxb Trẻ, TP.HCM, tr.157.
[2] Bảo Định Giang – Huỳnh Lứa – Nguyễn Quảng Tuân (2001),
Gương sáng ngàn đời, Nxb Trẻ, TP.HCM, tr.244.
[3] Trong
Văn tế quan Tổng đốc Đỗ Hữu đại nhơn (tức Đỗ Hữu Phương) năm 1914 của quan Đốc lí thành phố kiêm Chánh bố Chủ tỉnh Cholon có ca tụng công nghiệp của Đỗ Hữu Phương như sau: “28 năm trường, Ngài cứ giữ một niềm thanh cần mẫn đạt mà giúp nước trị dân, không lòng xao lảng… Nhứt là công đào kinh Nước-mặng [sic]. Lại cũng nhờ Ngài tảo thanh đám phá loạn Thủ khoa Huân năm 1875”. Theo Trương Hoàn Phát (1925),
Nam Kì vĩ nhơn lục, Imprimerie de L’union, Saigon, p.51.
[4] Theo
Tân thơ tổng lí quy điều (1904), các giấy tờ làm việc giữa Hội đồng địa hạt với quan chủ tỉnh và quan “nguyên soái” đều bằng chữ Pháp và chữ ABC, không dùng chữ Hán. Do đó, các “ông Hội đồng” cũng buộc phải rành chữ ABC và chữ Pháp hơn là chữ Hán.
[5] Bản chữ Hán Nôm chỉ có 7 trang, trong khi bản ABC tới 25 trang.
[6] Hồ Biểu Chánh (1955, tái bản 1989),
Đại nghĩa diệt thân, Nxb Tổng hợp Tiền Giang.
[7] Chẳng hạn: “Những người ra phe giúp với nhà cầm quyền Pháp đó thuộc hạng người thiếu học, không có lương tâm không biết Tổ quốc. Họ là cặn bã, chớ không phải tinh hoa của đất nước. Họ tính thừa thời thế để lên mặt lên mày, để trèo lên địa vị cao sang, là chỗ lúc bình thường họ chẳng hề dám mong mỏi” (chương 1).
Chú thích: