Trang trong tổng số 7 trang (63 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Hoa Phong Lan

Xưng là "lão" đâu phải là già... hì... có cô bé 17 tuổi kêu mình bằng "lão" xưng "em" mà :D
"Anh ngỏ lời yêu em vào một đêm trăng khuyết"
Xích lô cửa lên khoá lại rồi
Trái tim không còn đa tình nữa
Quán học yêu bây giờ ai chăm sóc giúp tôi
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

letam


TÁM

Cuối năm 1225, Trần cảnh lên làm vua, tức Trần Thái Tông, phong cho Trần Thủ Độ làm Thái sư Thống quốc hành quân chính thảo sự.
Bấy giờ vua Thái Tông mới có 8 tuổi, nên mọi việc đều do Trần Thủ Độ lo liệu. Trần Thủ Độ là người ít học nhưng lại mưu mô lập nên nhà Trần. Muốn chắc chắn, mặc dù Lý Huệ Tông đã xuất gia đi tu, nhưng Trần Thủ Độ vẫn muốn Lý Huệ Tông phải chết.
Một hôm tháy Huê Tông ngồ nhổ cỏ ở sân chùa Chân Giáo, Thủ Độ đi qua trông thấy, nói rằng:” Nhổ cỏ thì phải nhỏ cả rễ cái nó đi “. Huệ Tông nghe thấy nói rằng” Ta hiểu rồi”. Mấy hôm sau, Thủ Độ cho người tới mời Huệ Tông. Biết ý, Huệ Tông vào nhà sau thắt cổ tự vẫn. Thủ Độ đưa bách quan đến tế khóc, rồi hoả táng, chôn ở tháp Bảo Quang.
Thái hậu là Trần thị bị giáng xuống làm Thiên Cực công chúa để gả cho Trần Thủ Độ. Các cung nhân nhà Lý thì gả cho các tù trưởng của các mường.
Năm 1232, nhân làm lễ Tiên Hậu nhà Lý ở thôn Thái Đường (Bắc Ninh), Thủ Độ sai đào hầm, làm nhà lá ở trên. Khi các tôn thất nhà Lý vào tế lễ, tất cả sụt xuống hầm rồi bị chôn sống hết.
Thấy Chiêu Thánh Hoàng hậu 12 năm vẫn chưa có con, Trần Thủ Độ đem người chị của Lý Chiêu Hoàng đang là vợ chủa Trần Liễu mới có thai được 3 tháng gả cho Trần Thái Tông, làm Hoàng hậu.
Trần Liễu tức giận, đem quân làm loạn. Vua Thái tông cũng bất bình, nhưng vì Thủ Độ kiên trì thuyết phục và nhà vua còn rất trẻ nên phải nghe theo.
Được ít lâu, Trần Liễu biết sức mình nên đợi cơ hội Thái Tông ngự thuyền đi chơi, giả làm người đánh cá lẻn xuống thuyền, xin hàng. Hai anh em ôm nhau mà khóc. Trần Thủ Độ nghe tin, đến rút gươm toan giết chết Trần Liễu, Thái Tông can mãi mới thôi. Sau đó , Thái Tông lấy đất Yên Phụ, Yên Đường, Yên Sinh và Yên Bang (Đông Triều và Kinh môn, Hải Dương) cho Trần liễu làm thái ấp và phong cho làm an Sinh vương.
Muốn cho không ai còn nhớ tới họ Lý, nhân vì tổ nhà Trần là họ Lý, Trần Thủ Độ bắt trong nước ai họ Lý đều phải cải sang họ Nguyễn.
Ngược lại, Trần Thủ Độ là một dại công thần của nhà Trần. Một tay cáng đáng bao nhiêu việc đại sự, giúp Thái Tông bình được giặc giã trong nước và chỉnh đốn lại mọi việc, làm cho đất nước ngày càng cường thịnh.
Cuối đời nhà Lý, giặc giã nổi lên khắp nơi. Khi Trần Thủ Độ đã thu xếp xong việc cướp ngôi nhà Lý, mới bắt đầu đem quân đi dẹp loạn.
Việc cai trị thì cơ bản như nhà Lý, làng nào cũng có quyển sổ gọi là Trướng tịch để kê khai nhân khẩu.
Năm 1242, thái Tông chia nước Nam thành 12 lộ. Mỗi lộ đặt quan cai trị là An Phủ Sứ, chánh phó 2 viên. Dưới An Phủ Sứ có quan Đại Tư xã và Tiểu Tư Xã. Từ Ngũ phẩm trở lên thì làm Đại Tư Xã, Lục phẩm trở xuống, làm Tiểu Tư Xã. Mỗi viên cai trị hoặc hai xã, hoặc ba, bốn xã..Mỗi xã lại có một viên xã quan là Chánh Sử Giám.
Lộ nào cũng có quyền dân tịch riêng của lộ ấy.
Người trong nước phân ra từng hạng: Con trai từ 18 tuổi thì vào hạng tiểu hoàng nam, từ 20 tuổi vào hạng đại hoàng nam. Còn trừ 60 tuổi trở lên thì vào lão hạng
Thuế thân: thuế thân thời bấy giờ tuỳ theo số ruộng mà đánh. Ai có ruông thì đánh thuế, ai không có thì thôi.
Thuế ruộng: Được đóng bằng thóc.
Đối với ruộng công, có sách chép rằng đời nhà Trần có hai loại ruộng công, mỗi loại phan chia làm ba hạng:
1. Ruộng quốc khố.
2. Ruộng thác điền (ruộng để thưởng công cho các quan).
3. Ruộng ao của dân.
Các thứ thuế: Có sách chép rằng nhà Trần đánh cả thuế trầu cau, thuế hương yên tức, thuế tôm cá, rau quả…
Vàng bạc tiêu dung trong nước thì tiêu bằng phân, lượng đã đúc sẵn, có hiệu nhà nước.
Năm 1244, Trần Thái Tông sai quan ở các lộ đắp đê hai bên bờ sông Cái (sông Hồng), gọi là Đỉnh Nhĩ Đê. Đặt quan để coi việc đê, gọi là Hà đê chánh phó sứ hai viên. Chỗ nào mà đê đắp vào ruộng của dân thì nhà nước cứ chiếu theo giá ruộng mà bồi thường cho chủ ruộng.
 Vui là chính - Chính là vui!
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

letam


(tiếp)

Năm 1232, mở khoa thi Thái học sinh (Tiến sĩ). Từ đời nhà Lý cũng đã có thi nho sĩ nhưng chỉ thi Tam Trường mà thôi, bây giờ mới có khoa thi Thái học sinh, chia ra thứ bậc để định cao thấp. Đến khoa thi năm 1247 lại đặt ra Tam khôi: Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa. Khoa thi này có Lê Văn Hưu là người viết sử nước Nam đầu tiên đỗ bảng nhãn. Năm ấy lại mở khoa thi Tam Giáo: Nho, Thích, Lão.
Năm 1253 lập Quốc học viện để giảng tứ thư ngũ kinh và lập ra võ đường để luyện tập võ  nghệ.
Năm 1244 vua Thái Tông định lại các pháp luật, theo sách  của Phan Huy Chú thì phép nhà Trần đặt ra là những người phạm tội trộm cắp đều phải bị chặt tay, chặt chân , hoặc bị voi giày.
Từ khi Thái Tông lên ngôi vua, việc binh ngày càng được chỉnh đốn. Dân trai tráng phải đi lính, các thân vương ai cũng có quyền mộ lính. Cho nên khi giặc Mông Cổ sang đánh, nước ta có 20 vạn quân để chống giặc.
Năm 1252, Trần Thái Tông cầm quân đi đánh Chiêm Thành, bắt được vương phi của Chiêm là Bố Gia La và rất nhiều tù binh.
Lúc này quân Nguyên Mông ở phía Bắc đã làm bá chủ khắp nơi từ đông sang tây.
Năm 1257, tướng Nguyên Mông là Ngột Lương Hợp Thai sai sứ sang bắt vua Trần Thái Tông về thần phục. Nhưng Thái Tông không chịu mà còn bắt giam sứ Mông Cổ, rồi sai Trần Quốc Tuấn đem quân lên giữ phía bắc.
Ngột Lương Hợp Thai bèn từ Vân Nam đem quân sang địa phận An Nam, đi theo đường sông Thao xuống đánh Thăng Long.
Trần Quốc Tuấn ít quân, đánh không nổi, lui về Sơn Tây, giặc tràn xuống. Vua ngự giá đi dánh cũng không xong, phải rút về. Khi quân địch đuổi quân ta đến Đông Bộ Đầu, nhà vua phải bỏ kinh thành .
Quân Mông Cổ vào thành Thăng Long giải thoát cho ba người sứ và cướp phá giết rất nhiều .
Trước thế nguy, Trần Thái Tông hỏi Thái uý Trần Nhật Hiệu. Nhật Hiệu không nói gì, cầm sào viết xuống nước hai chữ “Nhập Tống”. Thái Tông lạ đi hỏi thái sư Trần Thủ Độ, được trả lời rằng: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, thì xin bệ hạ đừng lo”. Thái Tông nghe thấy thế, trong bụng yên tâm.
Quân Mông cổ không quen thung thổ nên rất mệt mỏi. Lúc này Trần Thái Tông mới đem quân lên đánh ở Đông Bộ Đầu. Quân giặc thua chạy, đến đâu cũng bị đánh, đành rút về Vân Nam. Trên đường rút chạy, do không còn sức để cướp phá nên được dân ta goị là giặc Phật. Vua Mông Cổ khi  chiếm được nước Tàu, lại bắt ta sang chầu.  Vua Thái tông sai Lê Phụ Trần đi sứ sang xin cứ ba năm sang cống một lần.
Đầu năm 1258, Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử là Trần Hoảng để dạy bảo cách trị nước và để phòng ngày sau anh em tranh nhau.
Triều đình tôn Thái Tông lên làm Thái Thượng Hoàng để cùng trông coi việc nước.
Trần Thái Tông mất ở tuổi 60, trị vì được 33 năm, làm Thái thượng hoàng 19 năm.
 Vui là chính - Chính là vui!
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vodanhthi

Trước hết, tôi xin lỗi người đã mở diễn đàn này, vì bài mà tôi sắp đăng tiếp theo đây sẽ không hoàn toàn hợp với chủ đề của diễn đàn. Tuy nhiên cũng có ít nhiều liên quan. Tôi hy vọng sẽ gợi ý được cho các bạn một mảng lý thú ở lĩnh vực nghiên cứu người Việt.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vodanhthi


Gốc tích và cuộc sống của tổ tiên người Việt

Lời tòa soạn báo Sàigòn Tiếp thị: Bằng niềm đam mê kỳ lạ và tình yêu sâu nặng với lịch sử, những nhà khoa học khảo cổ đã miệt mài trên những chuyến đi ngược về quá khứ, kiếm tìm dấu tích của người Việt cổ xưa. Những phát hiện của họ không chỉ khẳng định vị thế cho ngành khảo cổ học Việt Nam mà còn góp thêm tia sáng soi rọi rõ hơn những giả thiết về gốc tích, cuộc sống của tổ tiên người Việt. Từ số báo này Sài Gòn Tiếp Thị khởi đăng loạt bài chân dung một số nhà khảo cổ học Việt Nam, những người đã có nhiều nghiên cứu ấn tượng được thế giới đánh giá cao.

Kỳ 1: 40 năm phục dựng mặt người Việt cổ


HƯƠNG LAN


Trong giới khảo cổ học, TS Nguyễn Việt được xem là nhân vật độc đáo, chuyên lao vào những “chân trời chưa có người bay”. Nhưng chính nhờ những nghiên cứu đó, người ta mới có dịp tiếp cận nhiều lĩnh vực mới lạ trong khoa học khảo cổ. Đặc biệt, là chân dung của người Việt sống cách đây hàng ngàn năm.

Chàng sinh viên khoái vẽ sọ người

Năm 1971, Nguyễn Việt, khi ấy đang học khoa khảo cổ, trường đại học tổng hợp Hà Nội được GS Hà Văn Tấn cho mượn một cuốn luận án gây chấn động thế giới của Gerasimov về khoa học phục chế mặt người tại Liên Xô. Khi đọc xong trang cuối, cũng là lúc chàng sinh viên Nguyễn Việt tự nhủ, sẽ quyết tâm theo đuổi lĩnh vực mới lạ này. Thời điểm đó, giới khảo cổ học Việt Nam có rất ít người biết đến sự tồn tại của một ngành khoa học mang tên “phục chế mặt người”.



TS Nguyễn Việt đang hoàn thiện chân dung một phụ nữ Đông Sơn khoảng 20 – 25 tuổi với kiểu tóc nữ Làng Vạc quấn quanh trán. Ảnh: Nguyễn Việt Thanh

Thấy học trò của mình cứ hí hoáy vẽ chân dung các bạn, rồi lồng dưới da một lớp sọ theo phương pháp của Gerasimov, nhưng đảo lộn trình tự, thầy Tấn vui mừng khích lệ. Cũng chính thầy đề cử Nguyễn Việt sang Liên Xô (cũ) học chuyên ngành phục chế mặt người. Tiếc là đúng thời điểm ấy, Gerasimov qua đời, trong khi các học trò của Gerasimov còn non nớt, chưa đủ sức thay thế. Vậy là Nguyễn Việt lại tiếp tục hành trình tự mày mò nghiên cứu. Càng lĩnh hội được nhiều kiến thức thì càng ngứa ngáy chân tay vì không có sọ thực hành. Viện khoa học hình sự có hẳn một nhà sọ nhưng “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Các bảo tàng cũng có sọ, nhưng lại không cho phép thao tác trên hiện vật. Chỉ còn cách đúc khuôn sọ gốc để tiến hành phục chế. Mãi sau này, Nguyễn Việt mới có điều kiện sang Đan Mạch học kỹ thuật đúc khuôn sọ. Trong thời gian chờ đợi, ông rèn luyện tay nghề bằng cách vẽ liên tục. Vẽ sọ, rồi dựng mặt hoặc làm ngược lại. Hầu hết bạn bè của Nguyễn Việt thời ấy đều được ông tặng những bức chân dung đáng sợ là hình… cái sọ của chính họ!

Gương mặt cô gái cổ 2.000 tuổi

“Thực ra, lúc ấy, nếu có sọ người trong tay cũng chưa chắc phục chế thành công. Gerasimov phải bỏ ra nhiều năm trông coi nhà xác, mỗi tối lại dùng kim nhúng dầu luyn châm vào sọ người chết lấy kích thước, sau đó ông còn nhiều lần xin phụ mổ tử thi, dần dần mới xây dựng được lý thuyết phục chế mặt người. Nếu tôi áp dụng hoàn toàn những chỉ số của Gerasimov, sẽ cho ra một khuôn mặt theo kiểu Nga, chứ không phải Việt Nam”, Nguyễn Việt kể. Mất thêm nhiều thời gian nghiên cứu, Nguyễn Việt mới có được một tập hợp số liệu cần thiết của riêng mình theo 21 chỉ tiêu mà các chuyên gia phục chế mặt người trên thế giới thống nhất. Và năm 2004, vấn đề mấu chốt nguồn sọ cũng được giải quyết. Trong khi khai quật khu mộ Động Xá (Hưng Yên), đoàn khảo cổ tìm thấy 60 bộ xương của người Đông Sơn. Bảo tàng Phạm Huy Thông của trung tâm tiền sử Đông Nam Á (Quảng Ninh) được giao nghiên cứu và quản lý những bộ hài cốt quý giá ấy. Dựa trên khối tư liệu xương cốt đó, Nguyễn Việt đã chọn ra năm cái sọ tốt nhất theo tiêu chí: có già, trẻ, nam, nữ. Và có lẽ vì là phái nam, nên cái sọ đầu tiên được ông phục chế là sọ một cô gái!



Chân dung một phụ nữ Đông Sơn khoảng 30 – 35 tuổi, sống cách đây 2.000 năm

“Lúc ấy khoảng 10g30 tối, gương mặt phục chế của người con gái đó dần hiện lên hoàn chỉnh. Tôi chụp vội lấy máy ảnh bấm lia lịa. Cảm giác thật khó tả…”, gần sáu năm sau khoảnh khắc kỳ diệu đó, Nguyễn Việt vẫn chưa hết xúc động khi nhắc đến chân dung người Việt cổ đầu tiên ông phục chế. Đó là một cô gái khoảng chừng 18 tuổi (căn cứ vào những chiếc răng khôn mới nhú). Mặc dù sống cách đây 2.000 năm, ở vào thời Đông Sơn nhưng đường nét trên gương mặt người con gái này lại không khác nhiều so với người Việt đương đại, ngoài hàm trên nhô hơn mà nguyên nhân có thể do ăn thực phẩm thô, cứng... Tổng cộng thời gian tính từ lúc Nguyễn Việt cầm trên tay cuốn sách của Gerasimov cho đến lúc tự tin đặt nét vẽ đầu tiên, tự tin công bố kết quả tại viện Goethe, tự tin đứng trước hội đồng khoa học của hội nghiên cứu khoa học Đông Nam Á, là khoảng... 40 năm!

Sẽ phục chế nguyên người Việt cổ

Những ngày này, Nguyễn Việt đang dồn sức cho một kế hoạch lớn: phục chế chân dung của người Việt thời Trần, bao gồm cả khuôn mặt, thân hình và loại vải dùng may trang phục. Ý tưởng táo bạo của ông bắt nguồn từ những cái cọc xuất lộ tại khu vực nhiều thế kỷ trước đã diễn ra trận thắng Bạch Đằng. Theo suy đoán của Nguyễn Việt và một số nhà khảo cổ khác, những cái cọc này nhiều khả năng là phần còn lại của bãi cọc nổi tiếng năm xưa, vì chỉ có cọc sử dụng trong trận chiến Bạch Đằng mới được chuẩn bị như thế: gỗ lim, chu vi lớn, đẽo có chủ đích... Bốn năm nay, trung tâm tiền sử Đông Nam Á vẫn đặt trạm nghiên cứu tại bãi cọc Bạch Đằng, hy vọng tìm ra hài cốt binh lính chết trận. Kết quả đã thu được năm bộ hài cốt với sự giúp sức của người dân địa phương.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Việt, nhiều dấu hiệu cho thấy đây có thể là hài cốt của binh lính tham gia trận Bạch Đằng. Tuy nhiên để có được kết luận chính xác cũng như giải đáp thắc mắc: “vì sao tìm thấy cọc, thấy hài cốt binh lính nhưng lại chưa thấy binh khí?” có lẽ cần sự vào cuộc của các cơ quan chức năng chứ không chỉ nỗ lực của trung tâm tiền sử Đông Nam Á. Trong khi chờ đợi, Nguyễn Việt vẫn quyết định tiến hành phục chế hai bộ hài cốt đời Trần. Một phát hiện ở mộ trên hang núi tại Mộc Châu (Sơn La) và một phát hiện ở độ sâu 3m khu vực miếu Vua Bà (Yên Giang, Yên Hưng, Quảng Ninh).


Cha đẻ của nhiều chuyên ngành khảo cổ mới

TS Nguyễn Việt là người sáng lập và là giám đốc trung tâm tiền sử Đông Nam Á. Ông chuyên nghiên cứu khảo cổ học thời tiền sử; lịch sử Âu Lạc, Nam Việt và nền văn hoá Giao Chỉ. Ông là người sáng lập nhiều chuyên ngành khảo cổ mới tại Việt Nam như: khảo cổ học vi tư liệu; khảo cổ học vải sợi; phục chế mặt người… Ông còn là tác giả của ba cuốn sách và hơn 100 bài viết (in bằng ba thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Đức và tiếng Anh) về khảo cổ học.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

44227

letam đã viết:
@ ... Chỉ sợ là người ta thờ ơ với lịch sử nước nhà mà tinh thông nước bạn mới gay go. Nếu như ai đó hiểu nhàm thì cũng chỉ hiểu nhầm bao nhiêu phần trăm thôi, còn tốt hơn là không biết tý gì.
Xin cảm ơn.[/quote]


@letam
Cám ơn các bài viết về Lịch sử Việt Nam mà bạn đã gửi. Nhưng tại sao bạn lại dừng lại ở năm 1258, mà không tiếp tục. Bởi vì phần sau mới có nhiều chi tiết thú vị : Cực thịnh của nhà Trần, sự kiện công chúa Huyền Trân, nhà Hồ, nhà Lê, Hịch tướng sỹ của Nguyễn Trãi, nhà Mạc, Trinh Nguyễn phân tranh ... Nguyễn Huệ ... v.v. Nếu có điều kiện mong bạn gửi tiếp các bài viết về Lich Sử Việt Nam. Chắc chắn tôi và nhiều bạn đọc sẽ cám ơn bạn lắm !
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta có thêm 1 ngày mới để yêu thương
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

NanLan

Chị Lê Tâm ơi chị khoẻ không? Nếu chị khoẻ chị post tiếp đi nhé. Em lại có thời gian đọc Lịch sử rồi. Nói thật chị là ngày đi học em ghét học môn Sử lắm vì khó nhớ và dài dằng dặc, nên Lịch sử nước nhà em có quá nhiều lỗ hổng. Nhiều khi tự cảm thấy xấu hổ nữa. Em muốn qua đây topic này của chị để bù đắp chút nào đó cho lỗ hổng kia của em.
Em cám ơn chị
Có ai quay lại mùa Thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

44227

@
Xin đính chính:
"Hịch tướng sỹ của Nguyễn Trãi" ở message trước xin sửa thành "Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi".
Hịch tướng sỹ là của Trần Hưng Đạo.
Mong bà con thứ lỗi nhé !
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta có thêm 1 ngày mới để yêu thương
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

letam

(tiếp)

Thái tử Hoảng lên ngôi vua là Trần Thánh Tông, đổi niên hiệu thành Thiệu Long (1258-1272) và Bảo Long (1273-1278)
Trần Thánh Tông là một ông vua nhân từ ở với anh em họ hàng rất tử tế. Thường hay nói rằng:”Thiên hạ là của ông cha để lại, nên để cho anh em cùng hưởng phú quý chung”. Rồi cho các hoàng thân vào nội điện, cùng ăn một mâm, cùng nằm một giường, thật là nhân ái, chỉ lúc nào ra việc công hoặc ngồi chầu mới phân thứ tự theo lễ phép.Còn việc nước thì luôn có lòng lo giữ cho dân được yên.Trong 21 năm làm vua không có giặc giã. Việc học hành được mở mang thêm. Cho Hoàng đệ Trần Ích Tắc là người hay chữ mở học đường để các văn sĩ học tập. Danh nho Mạc Đĩnh Chi cũng học trường đó ra.
Dưới thời Lê Văn Hưu Làm xong bộ Đại Việt sử ký thành 30 quyển, chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng. Bộ sử này khởi đầu làm từ thời Trần Thái Tông đến năm Nhâm Thân (1272) đời Thánh Tông mới xong. Nước Nam ta có quốc sử từ đó.
Thánh Tông lại bắt các vương hầu, phò mã chiêu tập những người nghèo đói, lưu lạc để khai khẩn hoang điền làm trang hộ. Trang điền có từ đấy.
Nước ta tuy được yên nhưng việc giao thiệp với Tàu ngày một khó thêm. Bấy giờ Mông Cổ đã đánh xong nhà Tống, chỉ muốn thôn tính An Nam. Vì trước đây đã thua một trận và trong nội bộ Tàu chưa được yên nên vua Mông Cổ muốn dụng kế dụ vua An Nam sang hàng phục mà không cần đánh. Cứ vài năm lại cho người sang sách nhiễu này kia và dụ vua An Nam sang chầu. Nhưng vua ta hẹn lần lữa, không chịu đi. Nhân dịp Thái Tông nhường ngôi cho Thánh Tông, vua Mông Cổ sai sứ sang phong vương cho Thánh Tông. Tuy không bắt nước Nam phải đổi sắc phục và chính trị nhưng lại quy định cứ 3 năm phải cống một lần. Lệ cống là phải cho nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy toán số và thợ thuyền mỗi hạng 3 người cùng các sản vật quý như sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu và các vật lạ. Lại dặt quan Đạt Lỗ Hoa Xích (tiếng Mông Cổ là quan Chưởng Ấn) để đi lại giám trị các quận châu nước Nam, thu thập tình hình nước ta để thôn tính sau này.
Vua Thánh Tông bề ngoài thần phục nhưng bên trong vẫn biết Mông Cổ có ý đánh chiếm nước ta nên vẫn tu binh dụng võ đề phòng.Tuyến đinh tráng các bộ làm lính, phân quân ngũ ra làm quân đô. Mỗi quân 30 đô, mỗi đô 30 người , phải luyện tập thường xuyên.
Năm Bính Dần (1266) sứ Mông Cổ sang. Thánh Tông sai quan sang Tàu đáp lễ và xin đừng bắt nho sĩ, thầy bói và các thợ thuyền sang cống.Vua Mông Cổ đồng ý nhưng lại bắt phải chịu 6 điều khác:
1. Vua phải thân vào chầu
2. Vua phải cho con hoặc em sang làm con tin
3. Biên sổ dân sang nộp
4. Phải chịu việc binh địch
5. Phải chịu nộp thuế má
6. Vẫn đặt quan giám trị.
Vua ta lẫn lữa không chịu. Năm Tân Mùi (1271) vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt cải quốc hiệu là Đại Nguyên rồi cho sứ sang dụ Thánh Tông sang chầu, nhưng Thánh Tông cáo bệnh không đi.
Năm sau nhà Nguyên cho sứ sang tìm cột đồng trụ của Mã Viện trồng ngày trước, nhưng Thánh Tông sai quan sang nói rằng: cột ấy lâu ngày mất đi rồi, không biết đâu mà tìm nữa, rồi thôi.
Năm Ất Hợi (1275) Thánh Tông sai sứ sang Tàu nói rằng: nước Nam không phải là nước Mường Mán mà đặt quan giám trị, xin đổi quan Đại lỗ Hoa Xích làm quan Dẫn Tiến Sứ. Vua nhà Nguyên không cho, bắt tuân theo 6 điều đã định. Vua Trần cũng không chịu. Từ đó nhà Nguyên quyết đem quân sang đánh nước ta, sai quan do thám ở biên giới. Bên ta cũng đặt quan phòng bị.
Năm Đinh Sửu (1277) Thái Thượng Hoàng mất ở phủ Thiên Trường (làng Tức Mạc).
Năm sau (1278) Thánh Tông nhường ngôi cho Thái tử Khâm rồi về Thiên Trường làm Thái Thượng Hoàng.
Thánh Tông trị vì được 21 năm, làm Thái Thượng Hoàng được 13 năm, thọ 51 tuổi.
 Vui là chính - Chính là vui!
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

letam

(tiếp)

Thái tử Trần Khâm lên ngôi vua tức là vua Trần Nhân Tông.
 Niên hiệu: Thiên Bảo (1279-1284)
                 Trùng Hưng (1285-1293)
Bấy giờ sứ nhà Nguyên đi lại hạch sách nhiễu nhương, triều đình có nhiều việc rắc rối. Nhờ có Thái Thượng Hoàng Thánh Tông còn trông coi được mọi việc và trong triều còn có nhiều người tài trí. Vua Nhân Tông lại là ông vua thông minh, quả quyết nên trong nước từ vua quan đến dân đều một long vì nước. Từ năm Giáp Thân (1284) đến năm Mậu Tý (1288) hai lần quân Mông Cổ sang đánh mà không được.
Phần kháng chiến chống giặc Nguyên sẽ nói ở phần tiếp theo.
Trong cuộc đời Trần Nhân Tông còn có giặc Lào hay sang quấy nhiễu ở vùng biên giới. Nam Canh Dần (1290) vua Nhân Tông phải ngự giá đi đánh giặc Lào.
Đời vua Nhân Tông có nhiều giặc giã nhưng việc học hành cũng rất hưng thịnh . Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, thơ ca Trần quang Khải và Phạm Ngũ Lão cho thấy văn chương thời ấy có khí thế mạnh mẽ lắm.Có quan Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên khởi đầu dung chữ Nôm làm thơ phú. Nguyễn Thuyên là người Thanh Lâm (Hải Dương) có tài thơ văn như Hàn Dũ bên Tàu nên vua cho đổi thành họ Hàn. Về sau dân mình theo cách ấy làm thơ gọi là Hàn luật.
Năm Quý Tỵ (1293) Nhân Tông truyền ngôi cho Thái tử tên là Thuyên rồi về Thiên Trường làm Thái Thượng Hoàng, trị vì được 14 năm, nhường ngôi được 13 năm, thọ 51 tuổi.

 Vui là chính - Chính là vui!
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 7 trang (63 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] ›Trang sau »Trang cuối