Trang trong tổng số 78 trang (774 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [71] [72] [73] [74] [75] [76] [77] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Poet Hansy

3

Khi Lý Nham và Viên Thừa Chí đang ở ngoài đường phố Bắc Kinh đại nạn, bỗng nghe một lão xẩm mù hát rong hát rằng: “Không làm quan thân này nhẹ nhàng, làm bạn với vua là bạn với hổ, về được nhà may mắn xiết bao, hết chim rồi thì cung xếp xó, chó vào nồi... ...”(Xem Bích huyết kiếm), thì hai người rõ ràng không ngờ ông già kia không phải hát một bài hát phổ biến, mà là chính sử huyền diệu; không chỉ là chuyện cổ nhân, mà còn là điềm báo tương lai. Cho nên Viên Thừa Chí bèn khuyên Lý Nham vào rừng sâu qui ẩn, nhưng Lý Nham lại không nghe, cứ đòi đi tiếp, muốn giúp Lý Tự Thành làm cách mạng đến cùng. Ông này hoàn toàn không thể nghĩ rằng những câu chuyện cũ Ngũ Tử Tư công cao nên vua Ngô kỵ, Văn Trọng diệt Ngô rồi đầu lìa khỏi cổ. Tiếc cho mạng Hoài âm, công lớn ai bằng Từ tướng quân ? Thần cơ diệu toán Lưu Bá ôn, tính chẳng ra :thiên tử Đại Minh vừa lên ngôi, công thần văn võ mất mạng liền " sao lại có liên quan với việc Sấm Vương LýTự Thành khai sáng kỷ nguyên mới, thời đại mới, sao lại có quan hệ đến chính ông ta ? Sau này Ngô Tam Quế ôm mối thâm cừu đại hận,dẫn quân Thanh tiến vào nội địa đánh Lý Tự Thành. Lý Tự Thành thua trận, đành rút khỏi Bắc Kinh, chạy về Tây An, vậy mà vẫn tin lời xiểm nịnh vu hãm của bọn Ngưu Kim Tinh, Lưu Tông Mẫn, nghi ngờ Chế tướng quân Lý Nham làm phản, hạ lệnh bắt Lý Nham để trị tội. Vợ Lý Nham là Hồng nương tử thoát chết, chạy đến núi Hoa Sơn cầu cứu Viên Thừa Chí. Tuy đến kịp, nhưng Lý Nham quyết định tự sát để khỏi dẫn đến cảnh huynh đệ tương tàn. Lúc sắp chết, Lý Nham còn hát bài hát mà ông từng sáng tác để tuyên truyền cho nghĩa quân của Lý Tự Thành : “Mau mau mở cửa đón Sấm Vương, trẻ già lớn bé đều sung sướng, trẻ già lớn bé đều ... ...” Không ai ngờ Lý Nham, người có công lớn nhất trong việc tuyên truyền cho Lý Tự Thành, từng làm thay đổi hình thái ý thức của người nghèo trong thiên hạ, để an ủi lòng người, đến chết vẫn không hối hận, vẫn chấp mê không tỉnh ngộ. Bản thân Lý Nham không nghe thấy ở ngoài phố từ lâu đã có bà lão cao giọng chửi: Lý công tử, mi là tên đại bịp, mi bảo ‘Mau mau mở cứa đón Sấm Vương,trẻ già lớn bé đều sung sướng’, nhà ta vừa mở cửa đón Sấm Vương, thì bọn cường đạo thổ phỉ tay chân của Sấm Vương đã ập vào, cưỡng dâm vợ cháu ta, giết con cháu ta? Cả nhà trẻ già lớn bé đều nằm ở đây, Lý công tử, mi đến mà xem, trẻ già lớn bé đều sung sướng như thế nào!...” (Xem Bích huyết kiếm). Lý Nham đáng bị nguyền rủa, bởi vì ông ta đã sáng tác những bài ca dao kêu gọi mọi người, cảnh đẹp mà ông ta miêu tả trong ca dao đã bị thực tế chứng minh là một sự lừa dối tàn khốc. Đương nhiên bà lão vô tri kia, giống như dân chúng vô tri cả tin ở Trung Quốc, hoàn toàn không hiểu rằng lịch sử Trung Quốc kỳ thực là thứ lịch sử đầy rẫy sự dối trá, những kẻ “làm nên đại sự ' trước đó đều hoang ngôn hứa hẹn đủ thứ, cho nên mới có câu : “Không nói phét chẳng làm nên đại sự '. Bà lão ấy càng không biết, thậm chí ngay cả bản thân Lý Nham cũng vị tất đã biết, tại sao những bài ca dao xúc động lòng người thời gian đầu, giờ lại biến thành sự lừa đảo tày đình ! Nếu bảo Lý Nham phải chịu trách nhiệm về những lời phỉnh phờ lừa dối dân chúng, thì Sấm Vương Lý Tự Thành càng phải chịu trách nhiệm nặng hơn. Bởi vì ông ta là người lãnh đạo cao nhất của quân khởi nghĩa, được dân chúng coi là đại cứu tinh của nhân dân. Bà lão chửi rủa thảm thiết kia vì sao chỉ chửi rủa Lý công tử, mà không chửi rủa Lý Tự Thành? Điều này tôi không lấy làm lạ. Bởi vì mô hình tư duy ngàn vạn năm nay của người Trung Quốc là : chỉ chống tham quan, không chống hoàng đế; chỉ thanh lý những kẻ ở bên cạnh nhà vua, không thanh lý nhà vua. Lý Tự Thành tuy mới chỉ xưng là Sấm Vương gì gì đó, cuối cùng có lật đổ triều Minh, ngồi vào ngai vàng, làm hoàng đế. Theo lôgich tư duy của người Trung Quốc, và theo quán tính, hoàng đế tức là thiên tử, mà thiên tử thì đương nhiên thánh minh. Cho nên mọi lầm lỗi, dối trá, tội nghiệt đều là do quần thần gây ra cả. Thực tế là, không chỉ có bà lão mấy trăm năm trước đây nghĩ như thế, mà một số nhà sử học và nhân văn học mấy trăm năm sau còn nghĩ như thế, không lẽ cái chết của Lý Nham lại đi qui tội cho Lý Tự Thành sáng suốt vĩ đại hay sao ? Chẳng phải đấy là do bọn Ngưu Kim Tinh, Lưu Tông Mẫn xúc xiểm ly gián, che mắt Sấm Vương mà ra đó sao ? Về điều này, tôi chỉ muốn nói, trên thích thứ gì, dưới còn mê thứ ấy gấp bội. Giả sử Lý Tự Thành quả thật sáng suốt vĩ đại như người ta tưởng tượng, thiên tử thánh minh, thì sao lại để gian thần che mắt!

4

Tôi cho rằng trong bộ tiểu thuyết này, điều Kim Dung muốn biểu thuật hoàn toàn không phải là nói con người Lý Tự Thành xấu xa thế nào, mà chỉ muốn nói cá nhân ông ta thực tế chẳng qua chỉ là một hậu quả lịch sứ, một hậu quả xấu. Chứng cứ thứ nhất là hoàng đế triều Minh từng tự huỷ trường thành, giết hại trung thần Viên Sùng Hoán, dẫn đến chỗ giang sơn nhà Minh không thể thu thập được nữa; Lý Tự Thành trước khi sụp đổ hoàn toàn cũng đã bức tử Chế tướng quân Lý Nham của mình. Điều đó chứng tỏ Lý Tự Thành cũng độc đoán chuyên quyền, hồ đồ mê muội y như Sùng Trinh. Chẳng cần nói Lý Tự Thành chẳng những không có khả năng thay đổi lịch sử, ngược lại chỉ một lần nữa ông ta chứng minh qui luật lịch sử “Thỏ chết thì chó vào nồi, chim trời đã tận, cung thời quăng đi” (vua chúa lên ngôi liền giết các bậc công thần đã giúp mình). Chứng cứ thứ hai là, quan binh triều Minh từng trắng trợn vu cáo người lương thiện là kẻ cướp, rồi cướp lấy tiền của của người ta, vu cho công tử Hoa thương Trương Triều Đường từ nước Bột Ni xa xôi đem hàng về Trung Quốc là gián điệp; còn người quân của Lý Tự Thành nhiều năm sau này, cũng lại hành xử với Trương Triều Đường hệt như thế. Điều đó chứng tỏ Lý Tự Thành cũng y như Sùng Trinh, bất kể ý muốn chủ quan thế nào, thực tế cũng không tránh khỏi qui luật lịch sử tàn hại bách tính, thì tức nước vỡ bờ. Chỉ khác nhau ở chỗ một đàng là quan quân nhà họ Chu, một đàng là tàn phỉ nhà họ Lý. Hiển nhiên, giả dụ ngọn cờ của vương triều Đại Thuận Lý Sấm Vương có phấp phới tung bay mãi mãi, thì đó cũng quyết không phải là cái phúc của bàn dân thiên hạ. Lý do hết sức đơn giản, đó là quyền lực chuyên chế tất nhiên đẻ ra hủ bại, quyền lực cực độ tất nhiên đẻ ra hủ bại cực độ, bất kể là vương triều Đại Minh của họ nhà Chu hay vương triều Đại Thuận của họ nhà Lý. Khi mà ở trong hoàng cung Lý Tự Thành vạch áo cho thái tử tiền triều thấy các vết sẹo trên người ông ta, thì quân lính của Lý Tự Thành khắp thành Bắc Kinh đang tạo ra vô vàn vết sẹo mới trên thân mình trăm họ. Mọi lời hứa hẹn, cam kết, mọi lời phát biểu đường hoàng gây xúc động lòng người, chẳng qua đều bị chứng minh là nói mà không nghĩ, nói xong nuốt lời, biểu diễn làm duyên, thậm chí cố ý lừa người. Cho nên, hình tượng Lý Tự Thành trong Bích huyết kiếm, nhờ tuyên truyền lịch sử có sẵn mà càng thêm sinh động, càng thêm chân thực đáng tin. Hình tượng Lý Tự Thành sở dĩ miêu tả khá thành công, là do tác giả đã nhìn ông ta bằng con mắt của chúng sinh. Dưới nhãn quang đó, Lý Tự Thành đã không còn là vị đại anh hùng sáng tạo nên lịch sử gì hết, cũng không phải là một tên ác ôn giết người không chớp mắt, mà chẳng qua chỉ là một người có thân phận và lai lịch đặc thù một chút, nhờ phong vân tế hội, đã hoàn thành một đại sự, rồi nhanh chóng huỷ hoại đại sự ấy mà thôi. Lý Tự Thành may lắm thì là một công cụ thay đổi lịch sử, song tuyệt nhiên không có khả năng thay đổi qui luật lịch sử của Trung Quốc. Nếu người Trung Quốc nào cũng đều nhìn nhận lịch sử như thế, nhìn nhận các nhân vật lịch sử vốn có như thế, thì lịch sử và tương lai của Trung Quốc chắc chắn sẽ có nhiều điều đặc sắc.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

8
HÀ HỒNG DƯỢC


Cái tên Hà Hồng Dược chỉ e ít người biết tới. Nhắc đến bà lão ăn mày vừa xấu xí, vừa cổ quái, lại hung ác, người của Ngũ độc giáo Vân Nam trong bộ tiểu thuyết Bích huyết kiếm của Kim Dung, có lẽ một số bạn đọc sẽ nhớ ra đại khái vài điều : Hà Hồng Dược là em gái của giáo chủ tiền nhiệm Ngũ độc giáo, là cô của giáo chủ hiện nhiệm. Hà Hồng Dược là nhân vật rất thứ yếu trong tác phẩm, rất ít trang viết về Hà Hồng Dược, đến nỗi có người không hiểu, tại sao có bao nhiêu nhân vật khác tôi không bàn, lại đi bàn về nhân vật này. Tôi bàn đến nhân vật này vì nguyên nhân hết sức đơn giản, vận mệnh của con người này cực kỳ đặc biệt, khiến người ta cứ phải cảm khái mà suy đi nghĩ lại mãi : nhìn bà lão mặt mũi chằng chịt các vết sẹo ghê sợ, ít ai tin rằng đó từng là một mỹ nhân ai thấy cũng mê. Thấy tính cách bà già cố chấp thiên kiến, không thể giảng giải, ít ai nghĩ rằng người này từng ấu trĩ hồn nhiên. Mục kích hành vi tàn bạo của bà ta, ai dám tin rằng nhiều năm về trước đấy từng là một người lương thiện dịu hiền; hiện thời Hà Hồng Dược là một kẻ ăn xin ti tiện, khiến người ta nhìn thấy phải lảng tránh, không ngờ bà từng là trang chủ Vạn Diệu sơn trang, bao nhiêu kẻ trong Ngũ độc giáo xúm xít chung quanh.

I

Chuyện của Hà Hồng Dược bảo là đơn giản, thì đích xác là hết sức đơn giản : thời thanh xuân tươi đẹp, nàng Hà Hồng Dược xinh xắn mê chàng Hạ Tuyết Nghi anh tuấn, hào hoa phong độ, thoạt đầu là sự rung động thầm kín, sau thì thần hồn điêu đứng. Hạ Tuyết Nghi đang có mối huyết hải thâm cừu, muốn lên núi Nga Mỹ tìm thứ vũ khí lợi hại để báo thù rửa hận. Khi cáo biệt, Hà Hồng Dược quá xúc động, không cầm lòng được, đã dẫn tình lang đến núi Linh Xà, vào hang Độc Long, lấy trộm bảo vật trấn giáo của Ngũ độc giáo là thanh Kim xà kiếm, không ngờ Hạ Tuyết Nghi được đằng chân lân đằng đầu, tiện tay lấy luôn hai báu vật nữa là Kim xà chuỳ và Bảo tàng đồ, Hà Hồng Dược cũng bỏ qua cho chàng ta. Trước khi tiến vào hang Độc Long, hai người đã phải cởi bỏ quần áo xoa khắp người thuốc đề phòng rắn độc, nàng đã chủ động hiến thân cho chàng, tất cả đều rất hợp tự nhiên, cũng có thể bảo là nàng không kiềm chế được mình. Sau giáo chủ Ngũ độc giáo phát hiện báu vật bị mất cắp, nhanh chóng tìm ra nguyên uỷ. Giáo qui nghiêm khắc, Hà Hồng Dược tuy là em ruột của giáo chủ, nhưng ngang nhiên dẫn kẻ khác vào hang Độc Long lấy đi ba báu vật trấn giáo, tội không thể dung tha. Hà Hồng Dược bị phán xử đẩy xuống một cái hố cho hàng vạn con rắn cắn, sau đó phải đi ăn mày ba mươi năm, thế là khuôn mặt tươi hơn hoa bị vô số vết rắn cắn, nàng thiếu nữ dần dần biến thành bà lão ăn xin xấu xí. Tuy Hà Hồng Dược tự cho rằng sự trừng phạt tàn ác ấy là đích đáng, nên nàng không oán hận, song chấn thương và biến dạng tâm lý do sự đoạ đày, sự thay đổi diện mạo, địa vị, thân phận gây nên, ta có thể đoán biết ghê gớm nhường nào. Sự thay đổi tính cách và tâm lý của Hà Hồng Dược không thể nói là không liên quan đến chuyện đó. Nên nhớ nàng vốn là đại công chúa của Ngũ độc giáo, có cá tính ưu việt, tâm cao khí ngạo. Chấn thương càng lớn đối với Hà Hồng Dược, ấy là sau quá trình trăm cay nghìn đắng tìm được Kim Xà Lang Quân Hạ Tuyết Nghi nay đã thành danh trên giang hồ, thì phát hiện chàng ta đã có ý trung nhân khác, tình cảm đôi bên đằm thắm từ lâu. Hà Hồng Dược tuy tìm đủ cách cả cứng rắn lẫn mềm dẻo với chàng, nhưng tình thế đã không thể xoay chuyển. Suốt hai mươi năm trời còn lại của cuộc đời dài đằng đẵng, việc tìm kiếm Hạ Tuyết Nghi khắp chân trời góc biển trở thành mục tiêu duy nhất của Hà HồngDược. Đối với Hạ Tuyết Nghi, tâm trạng yêu và hận cứ tích dần lại, càng tích càng sâu, càng tích càng loạn. Từ đây trở đi, Hà Hồng Dược trong lòng oán hận vô hạn, hành vi quái gở, nói nôm na, nàng ta mặt có sẹo, tâm lý có oán hận, tinh thần có bệnh, trừ sự đáp lại bằng tình yêu của Hạ Tuyết Nghi, e rằng trên thế gian không có thứ thuốc nào khác chữa được. Sau khi hiểu nỗi bất hạnh mà Hà Hồng Dược phải chịu đựng, bất cứ ai nói chung cũng đều thông cảm sâu sắc với nàng ta. Nàng vì tình yêu mà phạm tội và chịu tội, song bản thân tình yêu làm gì có tội, nói như thời trước người ta vẫn nói, tình yêu là oan nghiệt kiếp trước ở cuộc sống hôm nay. Tiếp đó, chúng ta thấy bản thân nàng bị rắn cắn nát mặt, phải đi ăn mày khắp thiên hạ, song nàng không lấy đó làm đau khổ; điều duy nhất đáng để tâm đối với nàng, mãi mãi không buông tha nàng, ấy là trước sau nàng không hề có được tình yêu của Hạ Tuyết Nghi. Về mặt này, mọi người dễ đứng về phái nữ, phê phán Kim Xà Lang Quân Hạ Tuyết Nghi và nam giới bạc tình, đồng thời qui kết nguyên nhân khiến Hà Hồng Dược phạm tội và chịu tội đều là do bị Hạ Tuyết Nghi lừa dối độc ác. Nhưng bất hạnh ớ chỗ nếu chỉ như thế thì không khác gì uống thuốc độc để giải khát chỉ làm cho bệnh tình của Hà Hồng Dược trầm trọng thêm mà thôi. Thực ra Hà Hồng Dược cũng đã tự làm như thế rồi, hơn nữa, chính vì thế mà bệnh tình của nàng trầm trọng thêm, đến mức hết thuốc chữa. Đáng chú ý là tiểu thuyết của Kim Dung hoàn toàn không mô phỏng sinh hoạt xã hội, mà là một loại tác phẩm truyền kỳ do mình tưởng tượng ra, mà qui tắc và giá trị cần được giới chuyên môn luận chứng và thiết định. Nói nôm na, thì trong bộ tiểu thuyết này, Hà Hồng Dược hoàn toàn không phải là một nữ nhân yếu đuối, nàng ta thân phận tự do, địa vị cao quí tâm linh khoáng đạt, tôn nghiêm không thua gì giới mày râu. Xã hội dị tộc của Ngũ độc giáo ở Vân Nam thì được miêu tả như một thế giới tương đối tự do yêu đương, chứng cứ là Hà Hồng Dược từng nói với Hạ Thanh Thanh như sau : “Nữ giới bọn ta ở đây không có nhiều qui củ thối tha như bọn người Hán các ngươi”. (Xem BÝch huyết kiếm). Nói thế cũng có nghĩa là trong thế giới của Hà Hồng Dược, nam nữ được tự do bình đẳng trong tình yêu và hôn nhân. Tôi nói thế là hi vọng có thể căn cứ vào tính người, cá tính, tâm lý của nhân vật mà khảo sát nguyên nhân gây bệnh cho Hà Hồng Dược. Trong lời tự thuật của Hà Hồng Dược về tình yêu của mình, có nhiều chi tiết bị người ta bỏ qua, song rất quan trọng, giúp ta nhận biết tính cách của nữ nhân vật, đồng thời còn thấy phương diện quan trọng khác của câu chuyện tình yêu. Chúng tôi xin cung cấp một cách nghĩ mới để nghiên cứu vấn đề đó.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

II

Trong lời tự thuật của Hà Hồng Dược về tình yêu của mình, có một chi tiết là hầu như tất cả các sư huynh sư đệ của Ngũ độc giáo đều có tình ý với nàng, song nàng không thèm để mắt tới bất cứ ai, lại say mê đến mức không cưỡng nổi chàng trai lạ mặt Hạ Tuyết Nghi đến tìm nọc rắn độc. Điều này, Hà Hồng Dược nói rằng nàng không thể giải thích nổi. Bạn đọc hoặc không để ý, hoặc dùng oan nghiệt kiếp trước để lý giải. Thực ra, qua tình tiết ấy, chúng ta có thể nhận biết không chỉ tính cách của Hà Hồng Dược, mà còn thấy tính cách và tâm lý đó quyết định số phận nàng ta như thế nào. Hà Hồng Dược sở dĩ không thèm để mắt tới tình ý của các sư huynh đệ là vì, thứ nhất, thứ tình ý đó chẳng có gì mới lạ đối với nàng cả, nàng đã quá quen thấy nó rồi; thứ hai, địa vị của các sư huynh đệ không thể sánh với địa vị của em gái giáo chủ là nàng. Trong khi đó, chàng trai Hạ Tuyết Nghi tuấn tú, kiêu ngạo, đang ôm mối cừu hận, thần tình lạnh lùng, chẳng thèm để mắt tới trang chủ xinh đẹp của Vạn Diệu sơn trang, đối với Hà Hồng Dược mà nói, rõ ràng là hết sức mới lạ, đầy chất kích thích, khiến cho nàng nảy sinh tình yêu ban đầu, khôngcưỡng lại được. Điều này có nghĩa Hà Hồng Dược là một người rất tự thị, tính cách lãng mạn. Chi tiết quan trọng hơn nữa, là không chờ Hạ Tuyết Nghi tỉnh lại sau khi bị trúng độc hôn mê, Hà Hồng Dược đã hoàn toàn tình nguyện dành trọn tình yêu cho chàng. Nghĩa là Hạ Tuyết Nghi thực ra chưa biết rõ về nàng, càng chưa thể nói đến chuyện yêu nàng, thì Hà Hồng Dược đã “quyết định” yêu chàng ta. Tâm tình như thế, có thể nói là tình không cưỡng nổi, cũng có thể nói là chưa biết gì về tình yêu, qua đó ta thấy sự giản đơn, cố chấp và thiên kiến của Hà Hồng Dược về mặt tình cảm và tính cách. Hà Hồng Dược đã yêu chàng, hoặc cho rằng mình đã yêu chàng, thế thôi, căn bản không suy nghĩ xem chàng có yêu hay không. Tình huống sau khi Hạ Tuyết Nghi tỉnh lại là chàng coi nàng như ân nhân cứu mạng mình, cho nên nói thực cho nàng biết lai lịch bình sinh; còn nàng thì đã coi chàng là tình lang của mình. Điều này chứng tỏ Hà Hồng Dược là người coi mình như một nhân vật trung tâm, tính cách cố chấp, hành vi xốc nổi. Chi tiết quan trọng nhất, là Hà Hồng Dược nhiều năm về sau cũng thừa nhận ban đầu nàng cứ như phát cuồng, chẳng sợ gì hết, thừa biết việc không nên làm, vẫn cứ vì chàng mà làm. “Ta cảm thấy vì chàng mà mạo hiểm, càng nguy hiểm thì càng thích, dẫu vì chàng mà phải chết, ta cũng cam lòng” (Xem Bích huyết kiếm) . Tiến thêm bước nữa, vì đã mê chàng, sẵn sàng làm bất cứ việc gì vì chàng, nên đương nhiên hồ đồ hiến thân cho chàng. Qua đó ta thấy tính cách của Hà Hồng Dược mang tính cách phóng túng, tiến công, mạo hiểm, đồng thời cũng mang tính chủ quan, phiến diện, mù quáng. Nàng biết, hoặc cho rằng mình đã quá yêu Hạ Tuyết Nghi, còn chuyện Hạ Tuyết Nghi có yêu nàng hay không, nàng chẳng quan tâm. Đáng chú ý là, trong sự kiện Hà Hồng Dược yêu rồi hiến thân cho Hạ Tuyết Nghi, cũng như trong hồi ức và tự thuật nhiều năm sau của Hà Hồng Dược về tình yêu của mình, thái độ của Hạ Tuyết Nghi như thế nào, trước sau không hề được đề cập tới. Cũng có nghĩa là trong quá trình này không có chứng cứ nào cho thấy Hạ Tuyết Nghi biểu hiện tình yêu với Hà Hồng Dược, cũng không có chứng cứ nào cho thấy Hạ Tuyết Nghi có ý lừa dối cô thiếu nữ Hà Hồng Dược non dại cả. Thực tế là Hạ Tuyết Nghi không hề nói gì về chuyện này cả. Mặc dù Hà Hồng Dược có hỏi Hạ Tuyết Nghi, vì sao bảo chỉ lấy một thanh bảo kiếm, chàng lại lấy thêm hai thứ khác là Kim xà chuỳ và Tàng bảo đồ, thì Hạ Tuyết Nghi cũng không trả lời, chỉ nhìn nàng cười cười, sau đó bước lại ôm lấy nàng, thế là Hà Hồng Dược cũng chẳng hỏi thêm nữa. Có nghĩa là trong quá trình này, hành vi của Hạ Tuyết Nghi đối với Hà Hồng Dược không có hồi ứng tình cảm rõ ràng nào, càng không có bất cứ hứa hẹn tình cảm và hôn nhân nào cả. Hạ Tuyết Nghi chỉ cam kết sau khi trả thù, sẽ trả lại mấy thứ báu vật kia. Phần lời nói do bảnthân Hà Hồng Dược đưa ra, chỉ cốt để hai người trẻ tuổi Hà Thiết Thủ và Hạ Thanh Thanh sau này tin rằng Hạ Tuyết Nghi hồi đầu đã từng lừa dối, đùa giỡn với tìnhcảm của Hà Hồng Dược mà thôi. Đã không có chứng cứ,thì không thể tin lời nói là sự thực. Như vậy, chúng ta thấy rõ rằng tình yêu dân đến hậu quả nghiêm trọng phạm tội và chịu tội, thực ra từ đầu chí cuối chỉ là do Hà Hồng Dược một mình tự biên tự diễn, là một thứ tình yêu bi hài kịch tự nguyện điển hình. Cái việc hồi đầu Hà Hồng Dược mê mệt trong tình yêu, không hề để ý xem thái độ của Hạ Tuyết Nghi như thế nào, có thể có hai khả năng, thứ nhất, bấy giờ cô thiếu nữ căn bản chưa hiểu tình yêu thật sự là đôi bên phải cùng yêu nhau - có bằng chứng cho thấy thiếu nữ Hà Hồng Dược sau này đã thành bà lão Hà Hồng Dược, mà vẫn chưa hiểu điều đó. Khả năng thứ hai là thiếu nữ Hà Hồng Dược sau này đã thành bà lão Hà Hồng Dược, mà vẫn không biết Hạ Tuyết Nghi có yêu mình hay không ! Nghĩa là Hà Hồng Dược căn bản không hiểu, không quản, không để ý đối phương có yêu mình hay không; chỉ cần nàng yêu đối phương, còn thì bất kể đó là thứ tình yêu đơn phương, tự mình tưởng tượng và gán cho đối phương, rằng đôi bên đã hứa hẹn, đôi bên cùng có nghĩa vụ. Hà Hồng Dược cho rằng chỉ cần nàng yêu Hạ Tuyết Nghi, thì Hạ Tuyết Nghi không có quyền đi yêu người khác, nếu không tức là đã lừa dối và phản bội nàng ta. Cái lối suy diễn này thể hiện ra khá nhiều, khỏi cần dẫn chứng. Kim Xà Lang Quân Hạ Tuyết Nghi có trách nhiệm gì về cuộc đời đầy bi kịch của Hà Hồng Dược hay không, đương nhiên cần truy cứu. Việc này chúng tôi sẽ bàn đến vào dịp khác, ở đây tôi chỉ nói rằng sự trách cứ của Hà Hồng Dược đối với Hạ Tuyết Nghi rõ ràng có điểm rất bất công. Hà Hồng Dược yêu Hạ Tuyết Nghi, song chưa thật sự biết Hạ Tuyết Nghi là người như thế nào, dĩ nhiên không thể nói đến chuyện hiểu đối phương và nghĩ hộ cho đối phương. Nàng không thể hiểu rằng trong tình cảnh hồi ấy, Hạ Tuyết Nghi đầy lòng cừu hận, chỉ muốn báo thù rửa hận, căn bản không thể bàn chuyện yêu đương với nàng. Do đó, sự giày vò khổ sở suốt đời của Hà Hồng Dược thực chất hoàn toàn không phải do đối phương gây ra, mà là do bản thân nàng tưởng tượng, hiểu lầm về đối phương, do tính phiến diện , tính cố chấp và tính mù quáng về tình cảm và tâm linh của nàng. Bi kịch của đời nàng là do nhược điểm tính cách của nàng mà ra.

III

Đau khổ tâm linh và biến dạng tính cách của Hà Hồng Dược không thuốc nào chữa nổi, đúng là cần một bác sĩ tâm lý cao minh, cần có sự chỉ dẫn và chữa trị về mặt tâm lý và tinh thần. Chẳng qua Hà Hồng Dược đã quen cho mình là đúng, thích sao làm vậy, đã quen coi tình cảm, thái độ của mình là trung tâm vòng tròn, coi ý muốn của mình là bán kính, từ yêu thành ra hận, từ yêu biến thành thù ghét, chỉ e một bác sĩ tâm lý tài giỏi cũng khó lòng giải thoát nàng ta khỏi cái kén của mình. Sự trừng phạt và đeo bám vô lý của Hà Hồng Dược đối với Hạ Tuyết Nghi chỉ càng làm cho đối phương lánh xa nàng thêm, thậm chí một chút cảm kích ban đầu cũng sẽ tan biến. Mà sự xa lánh bắt buộc của đối phương lại chỉ càng làm cho Hà Hồng Dược thêm oán hận, không những không thể cứu mình, mà khiến người khác muốn cứu nàng cũng khó. Thế là dưới ngòi bút của Kim Dung, Hà Hồng Dược trở thành một nữ nhân vật mắc bệnh tâm thần vì tình yêu đơn phương tha thiết, khởi đầu cho một loạt nữ “tình ma” trong các bộ tiểu thuyết sau đó. Căn bệnh của Hà Hồng Dược chủ yếu là do nàng thiếu lý tính, nên hành vi và tâm lý của nàng từ đầu chí cuối là không thể hiểu nổi, cứ buông thả cho cảm tính của mình, dẫn đến tai hoạ. Đầy thù hận cố nhiên là một loại tai nạn, song tràn ngập thứ tình yêu không mục đích, không tiết chế, không giấu bớt, cũng là một loại tai nạn. Loại tai nạn thứ nhất chẳng qua chỉ là phản ứng dây chuyền của loại tai nạn thứ hai. Không có sự chỉ đạo của lý trí, sự thù hận của Hà Hồng Dược đối với Hạ Tuyết Nghi cố nhiên là mù quáng, tình yêu đối với Hạ Tuyết Nghi càng là mù quáng. Ở một người khác, với tính cách khác, tình yêu mù quáng có thể sẽ không đến mức hết bề cứu vãn như vậy, đàng này Hà Hồng Dược tính cách quá táo bạo, cứ như mũi tên đã bắn đi không thể quay vòng trở lại, cứ nhắm một lối đi hẹp mà xông tới chỗ chết, thì kết cục cuối cùng không thể khác được. Cuối cùng, tôi muốn nói rằng tôi phân tích hành vi, tâm lý của Hà Hồng Dược như thế không phải là để truy cứu trách nhiệm, càng không phải để phê phán đạo đức của ai đó một cách giản đơn, mà chỉ muốn tìm ra nguyên nhân căn bệnh của Hà Hồng Dược, để câu chuyện của Hà Hồng Dược trở thành một bài học của cuộc sống con người. Suy cho cùng, nhân vật Hà Hồng Dược với cái bệnh tâm lý của nàng thật đáng thương, bởi vì nàng chẳng những không biết mình đang làm gì, càng không biết nên làm những việc gì, thậm chí cũng không biết cuộc đời của mình rốt cuộc muốn cái gì. Cuối cùng, khi tới huyệt mộ của Hạ Tuyết Nghi, lòng rối bời, mâu thuẫn trùng trùng, tưởng sẽ được gặp Hạ Tuyết Nghi sống động, ai ngờ lại chỉ được nhìn thấy nắm xương tàn của Hạ Tuyết Nghi? Vốn định tìm thuốc giải để hoá giải hận thù, ai ngờ lại tìm thấy hoả dược và thuốc độc mà Hạ Tuyết Nghi để sẵn ? Buổi tối cuối cùng này làm cho chúng ta kinh tâm động phách, cứ suy nghĩ mãi: ai có thể phân biệt tình cảm của Hà Hồng Dược đối với Hạ Tuyết Nghi là tình yêu hay là thù hận? Thậm chí chúng ta không thể nói rõ, cái chết của Hà Hồng Dược rốt cuộc là bị hại hay là tự sát. Càng không thể phán đoán Hà Hồng Dược buồn hay vui khi biết mình chết cùng một chỗ với Hạ Tuyết Nghi.
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

9
HẠ TUYẾT NGHI
Âm hồn không tán


Kim Xà Lang Quân Hạ Tuyết Nghi là cha của Hạ Thanh Thanh, nếu không chết, thì Viên Thừa Chí phải gọi ông ta là nhạc phụ; dẫu chết rồi, cũng coi như là một nửa sư phụ của Viên Thừa Chí. Lý thú là ở chỗ, trong bộ tiểu thuyết Bích huyết kiếm của Kim Dung, nhân vật từ đầu chí cuối không xuất hiện chính diện, lại cứ thấp thoáng hình bóng ở khắp mọi nơi, không tách rời vận mệnh của nhiều nhân vật quan trọng trong sách. Tôi đoán Kim Dung tiên sinh từng mê tiểu thuyết “Jane Eyre” của nữ văn sĩ người Anh Charlot Bronti, nếu không trong mấy cuốn tiểu thuyết như Bích huyết kiếm, Tuyết sơn phí hồ đã chẳng chuyên chọn người đã chết làm nhân vật chính, tức là thử nghiệm tự thuật đối với “người vắng mặt”. Lối thử nghiệm này có một đặc điểm nổi bật, là trong hồi ức của các nhân vật khác nhau, hình tượng Kim Xà Lang Quân hiện ra dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong ký ức của bang chủ bang Kim Long Tiêu Công Lễ Ở Nam Kinh, Kim Xà Lang Quân là một bậc đại hiệp, luôn cứu người, chủ trì lẽ công bằng. Còn theo lời kể của con em nhà họ Ôn ở Thạch Lương, Chiết Giang, thì Hạ Tuyết Nghi là một tên đại ma vương tàn ác, giết người như ngoé. Trong đáy lòng Ôn Nghi, mẹ của Hạ Thanh Thanh, thì Hạ Tuyết Nghi là người yêu có tình có nghĩa, đáng mãi mãi thương nhớ. Từ lời Hà Hồng Dược của Ngũ độc giáo Ở Vân Nam, thì Kim Xà Lang Quân rõ ràng là một tên đại bịp vô tình vô nghĩa. Theo lời đồn trên giang hồ, chưởng môn phái Hoa Sơn Mục Nhân Thanh cho rằng Hạ Tuyết Nghi là một nhân vật tà môn tuỳ hứng; còn trong tưởng tượng của đám hậu bối Hạ Thanh Thanh, Viên Thừa Chí, thì Hạ Tuyết Nghi chủ yếu là một anh hùng cái thế cô đơn hiệp nghĩa. Hình ảnh Hạ Tuyết Nghi giống như một cái gương bị đập vỡ thành nhiều mảnh, trong ký ức và ấn tượng của nhiều người trên thế gian, các mảnh gương ấy có góc độ khác nhau, quang tuyến khác nhau, tầng nấc khác nhau, nên hình ảnh rất khác nhau.


I

Độc giả đọc bộ sách này nếu đứng trên lập trường tương đối khách quan, chịu khó thu nhặt và gắn lại các mảnh gương vỡ ấy, thì sẽ có được hình tượng khá hoàn chỉnh nhưng đầy mâu thuẫn về Hạ Tuyết Nghi. Người này quả là một nhân vật mâu thuẫn điển hình, vừachính vừa tà, chợt chính chợt tà; đã làm những việc rất tốt, lại cũng làm những việc rất xấu, có lúc lý tính sáng suốt, có khi cảm tính xốc nổi. Tác giả dành cho nhân vật này ngoại hiệu “Kim Xà Lang Quân” là đã phần nào cung cấp tư liệu để ta hiểu nhân vật này: ông ta vừa là “Kim Xà”, loại rắn độc đáng sợ, vừa là “Lang Quân”, - hào hoa hiệp nghĩa. Trong tiểu thuyết của Kim Dung, đây là sự xuất hiện sớm nhất một nhân vật đặc biệt, vượt lên trên quan niệm truyền thống về chính tà, cũng vượt lên trên hệ thống bang phái, vượt cả loại hình tính cách của nhân vật võ hiệp, hành sự đơn thuần theo lập trường yêu ghét của cá nhân. Vì là hình ảnh trong mảnh gương vỡ, nên đối với mâu thuẫn cá tính của nhân vật này, chúng ta phải dùng lý trí của mình để điều giải và bù đắp, đối với hình tượng nhân vật thiếu trọn vẹn này, ta phải dùng trí tưởng tượng bổ sung và kích hoạt. Mà để đi sâu lý giải nhân vật, ta còn phải thay đổi góc độ quan sát của mình, đồng thời điều chỉnh tiêu chuẩn đánh giá của mình nữa. Chúng ta hãy hình dung, dưới con mắt một vị cao tăng đắc đạo thời xưa, Kim Xà Lang Quân Hạ Tuyết Nghi là một đối tượng chưa đáng được thông cảm và thương xót; còn dưới con mắt một chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ tâm thần hiện đại, thì Hạ Tuyết Nghi rõ ràng là một bệnh nhân tâm thần do bị kích động mạnh về tinh thần mà tâm lý thất thường. Cũng chỉ xem xét từ góc độ ấy, chúng ta mới có thể nhận thức hoặc lý giải thật sự Hạ Tuyết Nghi là một người như thế nào. Ngoại hiệu Kim Xà Lang Quân nhiều năm về sau mới có, Hạ Tuyết Nghi hoàn toàn không phải sinh ra đã tàn bạo như rắn độc, dĩ nhiên cũng không phải sinh ra đã là người hiệp nghĩa. Điều quyết định tính cách và số phận Hạ Tuyết Nghi là biến cố khủng khiếp một đêm nọ, khi toàn bộ thân nhân của Hạ Tuyết Nghi bị giết hại thê thảm. Kẻ sát nhân là lục đệ Ôn Phương Lộc, một trong Ngũ lão nhà họ Ôn. Nguyên nhân sát hại là Ôn Phương Lộc cưỡng dâm người chị gái của Hạ Tuyết Nghi, bị gia đình nhà này phát hiện, hắn bèn giết luôn một lúc cha mẹ anh chị em cả thảy năm người ! Vụ này do người cháu của Ôn Phương Lộc là Ôn Nam Dương kể lại, tính chân thực không có gì phải nghi ngờ, bởi vì Ôn Nam Dương chỉ có thể đứng về phía nhà họ Ôn khi thuật lại chuyện kia. Ôn Nam Dương không kể Hạ Tuyết Nghi vì sao lại thoát chết, cũng không nói lúc ấy Hạ Tuyết Nghi có mặt tại chỗ và chứng kiến thảm cảnh đó hay không. Ôn Nam Dương dĩ nhiên không thể tưởng tượng, nếu Hạ Tuyết Nghi nhìn thấy cảnh đó thì sẽ kinh hoàng như thế nào, cũng không thể tưởng tượng thảm cảnh đó có ảnh hưởng ghê gớm thế nào tới tâm linh của Hạ Tuyết Nghi. Là người ngoài quan sát, chúng ta dễ hình dung rằng bắt đầu từ thời khắc đó, nỗi kinh hoàng và sự thù hận đã khiến cho chàng thiếu niên Hạ Tuyết Nghi rơi vào trạng thái tinh thần thất thường như thế nào. Cái kế hoạch báo thù ăn miếng trả miếng, lấy máu trả nợ máu gấp mười lần hơn của Hạ Tuyết Nghi và việc thực hiện cụ thể kế hoạch ấy hiển nhiên là sản phẩm của việc mất lý trí và điên cuồng về tinh thần. Trong tâm trạng điên cuồng đó, Hạ Tuyết Nghi không từ bất cứ thủ đoạn nào miễn là có thể báo thù, từ đó chàng dần dần trở thành kẻ lạnh lùng vô tình. Để đạt mục đích báo thù, dĩ nhiên chàng sẽ gắng sức vượt qua mọi gian khổ sẵn sàng hi sinh tất cả, tất nhiên cũng sẵn sàng liên minh ma quỉ với bất cứ ai. Khi đó sắc đẹp hơn hớn của Hà Hồng Dược, em gái của giáo chủ Ngũ độc giáo Vân Nam, chẳng có ý nghĩa gì đối với chàng, tình yêu nồng cháy của của Hà Hồng Dược cũng không thể hoá giải hận thù đang nung nấu trong lòng chàng. Khi chàng phát hiện Hà Hồng Dược có chìa khoá mở cửa nhà bảo tàng của Ngũ độc giáo, có thể giúp chàng lấy được báu vật Kim Xà kiếm của Ngũ độc giáo để hoàn thành kế hoạch báo thù của chàng, đương nhiên chàng sẽ lợi dụng tình cảm của đối phương, đáp ứng ý muốn của đối phương, để đạt tới mục đích của mình. Lúc này ý nghĩ duy nhất của Hạ Tuyết Nghi là báo thù, thậm chí báo thù là mục đích và động lực duy nhất của cuộc sống qua ngày đoạn tháng bây giờ. Ngoài việc báo thù ra, chàng không còn muốn gì khác; cũng chính vì thế chúng tôi nói, Hạ Tuyết Nghi hoàn toàn rơi vào trạng thái tâm lý không bình thường. Lúc này chàng không thể nghĩ rằng chàng mắc nợ Hà Hồng Dược một món nợ gì hết. Con người bất chấp hết thảy để báo thù này về sau lại trở thành đối tượng báo thù của Hà Hồng Dược.

II

Nhìn bề ngoài, chuyện báo thù của Hạ Tuyết Nghi là một câu chuyện võ hiệp điển hình: máu đỏ khắp nhà, chỉ còn một người sống sót, quyết tâm học võ nghệ, nuôi chí báo thù. Nhưng dưới ngòi bút Kim Dung, chuyện báo thù của Hạ Tuyết Nghi có mấy điểm khác hẳn chuyện báo thù trong tiểu thuyết võ hiệp. Thứ nhất, tác giả không hề đơn giản hoá chuyện báo thù của Hạ Tuyết Nghi, không coi hành vi báo thù của Hạ Tuyết Nghi là hành vi chính nghĩa, càng không coi người báo thù (HạTuyết Nghi) là hiện thân của chính nghĩa. Ngược lại, thông qua hồi ức và tự thuật của Ôn Nam Dương, chúng ta thấy hành động của Ôn Phương Lộc sát hại cả nhà Hạ Tuyết Nghi cố nhiên là tàn bạo bất nhân, song việc Hạ Tuyết Nghi bất chấp đổ máu nhân mạng đế báo thù cũng làm cho người ta lên án. Điều Hạ Tuyết Nghi thực hiện không phải là câu chuyện huyền thoại về sự báo thù, mà rõ ràng là một tội ác; bản thân Hạ Tuyết Nghi cũng không phải là một anh hùng báo thù với bất kỳ ý nghĩa nào cả, mà chỉ là một kẻ báo thù điên cuồng. Cái khác thứ hai là, tác giả cũng không đơn giản hoá hình tượng Hạ Tuyết Nghi thành một hình tượng phản diện, mà vô tình hay cố ý miêu tả hành động báo thù của Hạ Tuyết Nghi là trạng thái tâm lý không bình thường. Nói cách khác, tác giả đã dứt khoát phê phán đạo đức đối với hành động báo thù của Hạ Tuyết Nghi,song không diễn dịch đạo đức một cách đơn giản đối với toàn bộ hình tượng cá nhân này..Chứng cứ là, sau khi thực hiện hành động báo thù tàn khốc ở nhà họ Ôn, Hạ Tuyết Nghi lại xuất hiện trên giang hồ với một hình ảnh khác hẳn. Trong quá trình xử lý vụ xung đột giữa Tiêu Công Lễ với Mẫn Tử Diệp, hành động của Hạ Tuyết Nghi lại quả thực là của một bậc đại hiệp cao cả bậc nhất. Nói cách khác, hình tượng Hạ Tuyết Nghi trong việc báo thù thì tỏ ra là tà hành, còn trong việc khác thì lại là chính phái. Hơn nữa, hễ là chuyện báo thù, thì Hạ Tuyết Nghi rõ ràng ớ tâm trạng bệnh hoạn điên cuồng; ngoài ra thì tâm trí chẳng những bình thường, mà còn chủ động hành hiệp trượng nghĩa. Ta dễ suy ra rằng giả dụ không có mối huyết hải thâm cừu, thì tính cách, tâm linh và số phận của Hạ Tuyết Nghi đã khác hẳn. Điểm khác nhau thứ ba, việc báo thù chỉ dừng lại đối với nhà họ Ôn, báo thù xong, tính cách và số phận của Hạ Tuyết Nghi có bước chuyển biến rất mạnh. Điều này chứng tỏ Hạ Tuyết Nghi chưa điên cuồng đến mức hết bề cứu vãn. Sự điên cuồng của chàng là có giới hạn. Nguyên nhân ngừng việc báo thù rất đơn giản : chàng cướp được Ôn Nghi là con gái của Ôn Phương Sơn, theo kế hoạch là cưỡng dâm rồi sẽ giết, song cuối cùng lại không nỡ hạ thủ. Chẳng những không nỡ hạ thủ, mà còn thương xót cho nàng, tìm cách làm cho nàng hết kinh hoàng và oán hận. Chàng từ bỏ ý định ban đầu, tìm quần áo, đồ trang sức, tìm gà con, mèo con, rùa con mang đến cho nàng, cuối cùng giành được cảm tình của mỹ nhân lúc nào không biết. Ngược lại, một chút quan hoài hiền dịu của Ôn Nghi đối với chàng đủ khiến cho tâm hồn nguội lạnh của chàng bắt đầu chuyển biến, cuối cùng thành tình yêu đằm thắm giữa đôi bên với nhau. Cái nhân duyên kỳ dị này có thể nói là do số phận, đúng hơn thì nói là nàng Ôn Nghi dịu hiền thuần khiết đã hoá giải bệnh điên rồ của chàng; đúng hơn nữa thì nói là trong lòng Hạ Tuyết Nghi vốn có cái gốc lương tri hoặc có hạt giống lòng nhân đạo, được tưới nước mắt và được sưởi ấm bằng nụ cười của Ôn Nghi, hạt giống ấy đã nảy mầm. Tâm linh của chàng bị chí báo thù làm vỡ thành nhiều mảnh, nay nhờ tình yêu của Ôn Nghi bắt đầu gắn kết lành trở lại, từ đây Hạ Tuyết Nghi đổi mới thành một người khác hẳn. Song tuy nói tính cách là số phận, nhưng tính cách của một cá nhân rốt cuộc không thể quyết định toàn bộ số phận của người đó. Tuy Hạ Tuyết Nghi đã thành tâm vứt bỏ thanh đao sát nhân, dập tắt lửa báo thù nung náu tâm can, nhưng chàng lại không thể xoá được lòng oán hận vô tận của Ngũ lão họ Ôn. Ngũ lão họ Ôn không thể dùng đao kiếm đánh bại nổi Hạ Tuyết Nghi, họ bèn đổi sang dùng âm mưu quỉ kế, không chỉ bắt sống Hạ Tuyết Nghi, mà còn cắt gân tay, gân chân của chàng, biến chàng thành một kẻ tàn phế. Đây không chỉ là sự hành hạ Hạ Tuyết Nghi về mặt thể xác, mà còn khoét sâu vết thương tâm linh của chàng, khiến không bao giờ lành được nữa. Hạ Tuyết Nghi trở thành kẻ tàn phế cả về thể xác, lẫn tinh thần. Tuy cuối cùng Hạ Tuyết Nghi cũng thoát khỏi tay Ngũ lão họ Ôn, nhưng đúng như Ôn Nghi nhận xét : “Chàng là người tâm cao khí ngạo, không đau mà chết thì cũng tức mà chết ...”. (Xem Bích huyết kiếm). Hà Hồng Dược đến cứu Hạ Tuyết Nghi thoát khỏi tay Ngũ lão họ Ôn, nhưng không lâu sau phát hiện Hạ Tuyết Nghi có tình duyên khác, bèn tiến hành trừng phạt chàng khiến chàng thà chết đi còn hơn. Sau khi thoát khỏi tay Ngũ lão họ Ôn, cuộc sống của Hạ Tuyết Nghi có một khoảng trống dài. Cái chết của chàng cũng chỉ lưu lại không gian rộng lớn cho người ta dự đoán và tưởng tượng. Tác giả không nói, Ôn Nghi, Hà Hồng Dược cũng không thể nói, vào giai đoạn cuối cùng của cuộc đời của Hạ Tuyết Nghi có vết thương tâm linh như thế nào, bị tâm thần phân liệt và tâm trạng đau khổ ra sao. Chỉ có Viên Thừa Chí phát hiện trong nhà mộ của Hạ Tuyết Nghi dấu vết cuối cùng của tâm linh ông. Qua chiếc hộp giấu kinh và bí kíp được bố trí cực kỳ tinh vi, chúng ta có thể thấy Hạ Tuyết Nghi nghi ngờ và hi vọng gì ở người đến sau; còn qua cách mai táng hài cốt và tự hạ độc hài cốt của mình, chúng ta lại thấy Hạ Tuyết Nghi vừa kinh sợ vừa phẫn uất, vừa nguyền rủa vừa lưu luyến thế gian như thế nào. Thông tin cuối cùng mà Hạ Tuyết Nghi để lại chứa đầy mâu thuẫn, phân liệt, thác loạn. Môn võ công tà môn âm độc, cực kỳ xảo trí, vô cùng kỳ dị; lưu lại trong Kim Xà bí kíp có thể coi là mảnh vỡ tinh thần cuối cùng hoặc di ngôn của Hạ Tuyết Nghi.


III

Nói đến di ngôn của Hạ Tuyết Nghi, chúng ta không thể không nói đến mấy dòng chữ ghi phía sau “Trọng bảo chi đồ”. Một dòng viết : “Người có được vật này, nhờ mang đến Thạch Lương, Cù Châu, Chiết Giang, tìm nữ tử Ôn Nghi, tặng người ấy mười vạn lạng vàng ‘’.Dòng khác viết : “Lúc này thu thập hết báu vật trong thiên hạ cũng không đổi được nửa ngày chụm đầu bên nhau. Coi trọng của cải mà coi nhẹ sự biệt ly là ngu hết chỗ nói, hối cũng chẳng kịp!” (Xem Bích huyết kiếm). Dòng trên rõ ràng chứng minh hùng hồn tình yêu sâu nặng của Hạ Tuyết Nghi đối với Ôn Nghi. Dòng dưới, rõ ràng là cảm ngộ nhân sinh vào giây phút cuối cùng cuộc đời chàng, cũng là niềm ân hận, nuối tiếc cuối cùng của đời chàng. Nếu nói số phận của Hạ Tuyết Nghi bị hành động tàn ác của Ôn Phương Lộc và sự tham tàn của Ngũ lão họ Ôn viết lại hai lần thì tính cách và quá trình tâm lý của chàng bị ý muốn báo thù và ham muốn giàu có bẻ quẹo đi hai phen. Lần thứ nhất, Hạ Tuyết Nghi được Ôn Nghi cứu ra; lần thứ hai thì được cái chết làm cho tỉnh ngộ. Đáng chú ý là, tuy được cái chết làm cho tỉnh ngộ, rằng thu thập hết báu vật trong thiên hạ cũng không đổi được nửa ngày sống chân tình bên nhau, vậy mà Hạ Tuyết Nghi vẫn cứ nhờ người tìm nữ tử Ôn Nghi, tặng nàng mười vạn lạng vàng! Điều này chứng tỏ đến giờ phút cuối cùng quan niệm giá trị của Kim Xà Lang Quân Hạ Tuyết Nghi vẫn đầy mâu thuẫn : một mặt nhận thức báu vật trong thiên hạ cũng không bằng nửa ngày sống có tình; mặt khác lại hi vọng dùng mười vạn lạng vàng bày tỏ sự chung tình của mình với nàng Ôn Nghi. Có lẽ hoàn toàn không phải Hạ Tuyết Nghi không hiểu được rằng không có chàng, cuộc sống của Ôn Nghi sẽ vĩnh viễn tàn khuyết; mà là lúc gần đất xa trời, chàng không thể nghĩ ra cách gì biểu đạt thâm tình. Cũng may là cuối cùng Ôn Nghi không nhận được mười vạn lạng vàng, song dù có nhận được, thì số vàng ấy cũng không có giá trị bằng bản thân một lời nhắn gửi cuối cùng ấy của Hạ Tuyết Nghi. Tóm lại, cuộc sống và tâm linh của Hạ Tuyết Nghi bị viết lại một cách sai trái mấy lần, mỗi lần viết sai đều truyền đạt ý tưởng về sự cứu rỗi và sự sống mới. Hai lần thế giới tâm linh của Hạ Tuyết Nghi bị đập vỡ, song mỗi mảnh vỡ đều có giá trị mỹ học và triết học còn hơn cả chỉnh thể. Kể ra thì trước sau con người này cũng chỉ là một hình bóng thấp thoáng, thực tế thì Hạ Thanh Thanh và Viên Thừa Chí mới chính là truyền nhân về huyết thống và võ nghệ của Hạ Tuyết Nghi. Mỗi mảnh vỡ tinh thần của Hạ Tuyết Nghi đều được hậu nhân của chàng thâu tàng, có điều đấy là chuyện mới, cần phải được tìm hiểu riêng.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

10.
QUÁCH TĨNH
Đường đời hiệp nghĩa


Nói đến hình tượng đại hiệp dưới ngòi bút Kim Dung, chỉ e rất nhiều người sẽ nghĩ ngay đến đại hiệp Quách Tĩnh trong Anh hùng xạ điêu truyện. Viết bộ tiểu thuyết này, tác giả Kim Dung mới thật sự trở nên nổi tiếng, khiến cho nhiều tác giả tiểu thuyết võ hiệp đang hăng hái muốn viết tiểu thuyết võ hiệp hay hơn phải nản lòng. Nhân vật chính Quách Tĩnh đã trở thành vị đại hiệp vì nước vì dân, một điển hình nổi bật nhất, đáng tôn sùng nhất, chính tông nhất trong thế giới võ hiệp. Song thành tựu thật sự của bộ tiểu thuyết này không chỉ là vì nó miêu tả nên một điển hình đại hiệp, và hình tượng Quách Tĩnh cũng không chỉ gói gọn trong một chữ “hiệp” mà thôi.

I

Thành tựu phi phàm của bộ tiểu thuyết Anh hùng xạ điêu trước hết là vì tác giả đã áp dụng tài tình “mô hình trưởng thành” của tiểu thuyết phương Tây vào tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc, đồng thời thực hiện việc “mượn xưa nói nay” một cách xuất sắc. Điều này làm cho người đọc cảm thấy mới lạ, hấp dẫn, không chỉ làm phong phú cách viết tiểu thuyết võ hiệp, mà vô hình trung còn đề cao chất lượng nghệ thuật của tiểu thuyết võ hiệp. Cái gọi là “mô hình trưởng thành”, nói thì rất đơn giản, đó là mô hình chú trọng miêu tả quá trình trưởng thành của một cá nhân (thanh thiếu niên), đồng thời còn đặc biệt chú trọng phản ứng tâm lý, quá trình cảm thụ và diễn biến tâm lý phức tạp trong quá trình trưởng thành đó , từ đó làm phong phú hẳn nội hàm nhân văn của tiểu thuyết, làm người đọc càng thêm xúc động. Do vận dụng thành công “mô hình trưởng thành”, thế giới võ hiệp của Kim Dung vốn có hai cái “duy”,- là truyền kỳ giang hồ và bối cảnh lịch sử, - có thêm cái “duy” thứ ba là chuyện đời người. Quan trọng hơn là cái “duy” thứ ba - chuyện đời người – này được lấy làm yếu tố tự sự của tiểu thuyết võ hiệp, thực tế đã làm thay đổi hẳn phương hướng và phương pháp tự sự của tiểu thuyết võ hiệp. Ba cuốn tiểu thuyết trước đó của Kim Dung (Thư kiếm ân cừu lục, Bích huyết kiếm, Tuyết sơn phi hồ) đều lấy “sự việc” làm yếu tố kết cấu, chẳng những dễ làm cho tình tiết bị phân tán, đầu mối rối rắm, mà còn khó miêu tả hình tượng nhân vật nổi bật. Anh hùng xạ điêu khác hẳn, lấy “người” làm gốc, miêu tả từ đầu, từ thời thơ ấu của nhân vật chính, không chỉ tập trung vào quá trình trưởng thành của Quách Tĩnh, tác động đến cảm xúc của từng độc giả, mà còn khắc hoạ tính người, hoàn cảnh nhân văn, khiến tác phẩm mainội hàm nhân văn sâu sắc hơn. Chính vì muốn miêu tả sự trưởng thành của nhân vật chính Quách Tĩnh, mà tác giả tự nhiên càng phải chú trọng đến tính cách và sự phát triển tính cách của nhân vật chính. Chúng ta thấy trong bộ tiểu thuyết này, bản thân chuyện của Quách Tĩnh đã biểu hiện một cách tự nhiên tính cách của chàng. Nếu hồi còn rất nhỏ, Quách Tĩnh không trung hậu, lương thiện, quật cường, kiên trì cứu Thần tiễn Triết Biệt, thì dĩ nhiên Triết Biệt đã không trở thành sư phụ của Quách Tĩnh, Thành Cát Tư Hãn cũng sẽ không quí mến chàng, thì số phận của chàng và mẹ chàng sẽ khác hẳn. Giả sử chàng không có bản tính chất phác nhiệt tình, chân thành đối đãi, thì nàng Hoàng Dung đóng giả kẻ ăn xin đã chẳng say mê chàng, thì cuộc trở về Trung Nguyên của chàng sẽ diễn biến khác hẳn đi. Giả sử chàng không giữ lời hứa, không quả cảm, thì giữa đêm tối đã không lên núi, để bị Trần Huyền Phong bắt, rồi chàng giết Trần Huyền Phong và do đó bị Mai Siêu Phong coi là kẻ tử thù. Giả sử chàng không can đảm hiệp nghĩa, chống lại bất bình, thì ở Trung đô Bắc Kinh đã không quyết chiến với Dương Khang. Dĩ nhiên, giả sử Quách Tĩnh không hồn nhiên ngây thơ và có phần ngớ ngẩn, thì Lão Ngoan đồng đã không kết nghĩa huynh đệ với chàng, lừa cho chàng học “Cửu âm chân kinh”. Giá sử chàng không thô lỗ, xử sự dại dột, thì giữa chàng với Hoàng Dung đã không xảy ra nhiều lần rắc rối giận hờn. Ngoài ra, tác giả có một mô hình hình tượng nhân vật phi tiểu thuyết võ hiệp, không những không miêu tả Quách Tĩnh văn võ song toàn như nhân vật Trần Gia Lạc, thậm chí cũng không miêu tả Quách Tĩnh thông minh lanh lợi như Viên Thừa Chí, mà cố ý tả thành một người ngu ngốc, khiến người ta hoài nghi liệu chàng có phải là kẻ đần độn, chậm phát triển trí lực hay chăng. Chàng không chỉ nói năng vụng về như một đứa bé , mà tựa hồ phản ứng chậm chạp, không hiểu lẽ thường, thậm chí suốt đời không biết cách ăn nói. Điều đó hiển nhiên cản trở rất nhiều sự trưởng thành, thành tài của chàng. Hình tượng nhân vật không những khiến người ta hết sức thông cảm, song cũng nghi ngờ liệu một nhân vật như thế có thể trở thành cao thủ võ lâm được chăng? Nếu được, thì phải bao nhiêu năm? Tác giả tự đặt cho mình câu hỏi khó ấy. Đương nhiên khi giải đáp xong rồi, thì độc giả sẽ càng thêm thích thú. Cuối cùng, trong cuộc đời Quách Tĩnh, hoàn cảnh và số phận là hai sức mạnh không thể xem thường. Phụ thân chàng là Quách Khiếu Thiên không chịu làm vong quốc nô, từ Sơn Đông chạy nạn đến đô thành Nam Tống là Lâm An, ai ngờ ở ngay bên cạnh chỗ ngồi của hoàng đế Nam Tống cũng không tránh khỏi tai hoạ của người Kim, bởi vì vương gia nước Kim là Hoàn Nhan Hồng Liệt lại thích người vợ của Dương Thiết Tâm là Bao Tích Nhược, khiến cho hai nhà Dương, Quách hoặc tan đàn xẻ nghé, hoặc người chết nhà tan; mẫu thân của Quách Tĩnh là Lý Bình cũng đành rời bỏ miền Giang Nam non xanh nước biếc tươi đẹp để lên sống ở vùng thảo nguyên sa mạc khô cằn phương Bắc, Quách Tính vừa chào đời thì đã là một đứa trẻ mồ côi cha bần hàn. Mặt khác, số phận lại không hoàn toàn tàn nhẫn với chàng: cuộc sống giữa đại thảo nguyên với dân tộc Mông Cổ, khiến tính tình chàng hồn nhiên, chất phác, rộng rãi; sau đó lại nhờ sự đánh cuộc mang tính hiệp nghĩa, giữa Khâu Xứ Cơ, đệ tử phái Toàn Chân, với Giang Nam thất quái, mà Giang Nam thất quái chủ động tới vùng đại sa mạc, dạy võ công cho Quách Tĩnh suốt mười năm, sau đó trở về cố quốc Trung Nguyên, trải qua một phen thoát thai hoán cốt diệu kỳ. Cái số phận mà sức người không thể chống lại ấy lại tạo cho Quách Tĩnh một đại vũ đài siêu cấp cho cuộc đời anh hùng hiệp nghĩa hiếm có của chàng.

II

Chuyện cuộc đời Quách Tĩnh, điều bất ngờ nhất,cảm động nhất, cũng khiến người ta phải suy ngẫm nhiều nhất, trước hết dĩ nhiên là việc học nghệ thành tài của chàng. Một cậu bé tính nết thật thà, đầu óc ngu đần, gia cảnh bần hàn như Quách Tĩnh lại trở thành một cao thủ võ công hạng nhất, cuối cùng còn trẻ mà trên đỉnh Hoa Sơn lại đủ tư cách tranh đua cao thấp với các đại sư võ học như Hoàng Dược Sư và Hồng Thất Công, thì đúng là chuyện thần thoại. Song truyền kỳ Quách Tĩnh học nghệ thành tài không chỉ có căn cứ học lý nhất định, mà còn có không ít kinh nghiệm đáng để hậu nhân đúc kết và hấp thu. Tôi nói như thế là vì cho đến nay, nhận thức của loài người về bản thân mình còn hoàn toàn chưa toàn diện, sâu sắc và rõ ràng như chúng ta tưởng tượng và kỳ vọng. Bí mật về trí tuệ của con người còn biết bao nhiêu câu hỏi chờ phân tích và lý giải. Rất nhiều thiên tài ngu ngốc đến nay vẫn chưa được lý giải thật sự hợp lý. Quách Tĩnh không phải là thiên tài, dĩ nhiên cũng không ngu đần, con đường thành tài của chàng có một sự huyền diệu khác, hoặc có một qui luật có thể làm theo. Dưới con mắt của Giang Nam lục quái, Quách Tĩnh rõ rằng là một gã thiếu niên ngu ngốc. Có khi họ cảm thấy Quách Tĩnh ngu hệt như Tê Dữ, một học trò của Không Tử, một thứ “gỗ mục không thể đục đẽo, đất rác rưởi không thể đắp tường”. Chỉ khác là Quách Tĩnh không “ngủ ngày”, không lười nhác như Tê Dữ. Song cái khác ấy không thể an ủi Giang Nam lục quái, họ chỉ càng lo thêm : một đứa bé thông minh học một biết mười, trong khi Quách Tĩnh thì ngược lại, học mười biết chưa được một. Đối với một cậu học trò dốt như thế, sáu ông thầy làm sao không thất vọng kia chứ ? Nhưng nếu ta nhìn vấn đề từ góc độ khác, thì sẽ dễ dàng thấy rằng việc học võ của Quách Tĩnh tiến triển chậm chạp, nguyên nhân không chỉ vì sự ngu dốt của chàng, mà còn do phương pháp dạy của các ông thầy không thích hợp. Thứ nhất, phương châm dạy học của Giang Nam lục quái là “lối dạy khoa cử” điển hình, cốt là để năm chàng mười tám tuổi sẽ đi dự một cuộc tỷ võ lớn. Thứ hai, phương pháp dạy của họ không phải là tuần tự nhi tiến, càng không phải là chỉ dẫn tỉ mỉ, mà là nhồi nhét dồn dập, sáu vị sư phụ tiến hành luân xa chiến với một cậu học trò. Đừng nói Quách Tĩnh bẩm sinh không thông minh, mà ngay một cậu học trò rất thông minh gặp thứ luân xa chiến như thế cũng sẽ mụ mẫm hết đầu óc. Thứ ba, Giang Nam lục quái đều tài giỏi nhưng nôn nóng, ngược hẳn với Quách Tĩnh, song các thầy lại không nghĩ cách giáo dục thế nào dối với một học sinh cá biệt, lại chỉ yêu cầu trò phải phục tùng thầy vô điều kiện. Kết quả đương nhiên sẽ không đáng kể. Bảo trò ngu chưa đúng, phải nói là cách dạy của thầy không hay, căn bản không phù hợp đối tượng; điều này khiến cho giai đoạn “tiểu học” của Quách Tĩnh vô cùng khổ sở. So ra thì võ công và phương pháp giáo dục của Mã Ngọc, chưởng môn phái Toàn Chân, cao minh hơn nhiều. Mã Ngọc xuất phát từ hảo tâm, chủ động dạy cho Quách Tĩnh, song không muốn cho Giang Nam lục quái và ngay cả Quách Tĩnh biết, đã đem tâm pháp nội công và toàn bộ khẩu quyết công thức, nguyên lý phức tạp của phái Toàn Chân “hoá nhập” vào việc huấn luyện trò chơi : hít thở như thế nào, ngủ ra sao, đi đứng thế nào. Quách Tính hứng thú với cách đó, hoàn toàn không lo chuyện đi thi sau này, say mê luyện tập, kết quả thu được rất khả quan. “Giáo học pháp trò chơi” của Mã Ngọc giúp cho Quách Tĩnh mở mang trí tuệ, tiến bộ trông thấy. Điều này chứng tỏ Quách Tĩnh hoàn toàn không “ngu dốt” như đánh giá của Giang Nam lục quái. Nếu Mã Ngọc không dạy bổ túc văn hoá miễn phí bậc “trung học” cho Quách Tĩnh, chỉ e Quách Tĩnh cứ phải ở mãi giai đoạn “tiểu học” của Giang Nam lục quái, không thể thành tài. Mã Ngọc cao minh hơn Giang Nam lục quái; song bậc tông sư võ học Hồng Thất Công dĩ nhiên còn cao minh hơn Mã Ngọc. Hồng Thất Công và Hoàng Dung chỉ mới thi triển một chút, đã mở “cổng sau cho Quách Tĩnh lọt vào bậc “đại học”. Hồng Thất Công mắt sáng như sao, vừa nhìn đã nhận biết chỗ mạnh yếu của thiên tư và kiến thức võ học của Quách Tĩnh. Từ đó ông xác định phương châm giáo dục sát hợp đối tượng, mở lớp cho một mình Quách Tĩnh, dạy chàng “Hàng long thập bát chường” là pho võ công phù hợp với tính cách và sở trường của Quách Tĩnh, lại đơn giản, dễ nhớ, song khó tinh thông. Môn “Hàng long thập bát chưởng” dường như chuyên dành cho một người như Quách Tĩnh, cũng giống như Hoàng Dung thì phải học môn “Tiêu dao dd” cực kỳ phức tạp, biến hoá vô định. Vậy Hồng Thất Công không chỉ bố trí giáo trình khác nhau cho hai người, chọn phương hướng chuyên môn khác nhau, mà còn thi triển kế hoạch giảng dạy khác nhau. Yêu cầu đối với Quách Tĩnh là phải lặp đi lặp lại từng chiêu, tiến dần từng bước thật vững chắc, lâu dần Quách Tĩnh thoát thai hoán cốt, bắt đầu chương trình giáo dục “đại học” rõ ràng đã khác hẳn so với cậu học trò “tiểu học” ngu dốt ngày nào. Con đường trở thành đại cao thủ của Quách Tĩnh dĩ nhiên chưa dừng ở đây. Sau khi tốt nghiệp “đại học”, chàng còn nhiều năm theo học “nghiên cứu sinh”. Chàng vừa tiếp tục học nghệ Hồng Thất Công, vừa xem vừa học các môn võ công thần kỳ mỹ diệu của các bậc cao nhân đương thời. Cụ thể, chàng từng tại đảo Đào Hoa giao thủ mấy ngày với cao thủ phái Toàn Chân Lão Ngoan đồng, chẳng những học được Không Minh quyền, mà còn được Lão Ngoan đồng khéo léo cho học lén Cửu âm chân kinh’ ; lại may mắn có dịp xem cuộc tỷ võ giữa Đông Tà Hoàng Dược Sư với Tây Độc Âu Dương Phong, được xem cuộc đại chiến giữa Âu Dương Phong với Hồng Thất Công, sau đó chính chàng còn được diễn tập một phen với Âu Dương Phong; sau đó chàng được tận mắt xem tuyệt kỹ Nhất Dương chỉ của Nhất Đăng đại sư, được nghe đại sư giảng giải về yếu quyết của “Cửu âm chân kinh” ... ... Như vậy là Quách Tĩnh được học hỏi võ công của các bậc đại sư kiệt xuất trong võ lâm thiên hạ như Đông Tà, Ttây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, Trung Thần Thông. Ngoài ra còn nghiên cứu tuyệt kỹ có một không hai “Cửu Âm chân kinh” do Lão Ngoan đồng sáng tạo, nhờ đó bước vào cảnh giới của một đệ nhất cao thủ, là điều tuyệt đối hợp tình hợp lý. Con đường thành tài của Quách Tĩnh có rất nhiều điều đáng tổng kết, cá tính của chàng có thể nói là rất phân minh. Nếu nhìn thấy các ưu điểm tinh thần của chàng như nghị lực cao, sự tập trung cần mẫn, chất phác, trung hậu, rộng lượng mà không nhấn mạnh một cách phiến diện trí lược đơn giản, thì sẽ không quá kinh ngạc về sự thành tài của Quách Tĩnh . Nếu nghiên cứu, phân tích nguyên nhân bên trong và bên ngoài sự thành tài của Quách Tĩnh, thì không những có thể động viên vô số các cháu nhi đồng “chậm phát triển trí lực”, mà còn giúp cho việc giải đáp câu đố về trí tuệ loài người.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

III

Chuyến trở về Trung Nguyên của Quách Tĩnh vốn là để tham gia một cuộc tỷ võ, kèm theo một lần phục thù, nhưng kết quả trước tiên lại là “thi triển” tình cảm lãng mạn, tiếp đến là tiếp nhận văn hoá phong cảnh cố quốc, sau đó mới đến việc học nghệ thành tài. Mà tất cả mấy việc trên đều gắn liền với Hoàng Dung. Là Hoàng Dung yêu chàng, sau đó dẫn chàng du ngoạn cố quốc chuyến thứ nhất đầy thú vị; là Hoàng Dung chỉ dẫn phong cảnh lịch sử giang sơn, dạy kinh điển văn hoá nghệ thuật cho chàng, sau đó khôn khéo bố trí cho chàng bái sư học nghệ, nâng cao cảnh giới võ công cho chàng. Nếu bảo chuyến trở về Trung Nguyên của Quách Tĩnh là giai đoạn quan trọng nhất của sự trưởng thành, nên người, thì Hoàng Dung là người thầy hướng dẫn về phương diện văn hoá, tinh thần của chàng. Hoàng Dung đồng ý lấy Quách Tĩnh, thực tế là minh chứng hay nhất về tính cách và tư chất nhân phẩm của Quách Tĩnh : nếu không phải vì chàng đáng yêu, thì nàng Hoàng Dung thông minh xinh xắn, hòn ngọc quí của Hoàng Dược Sư, làm sao lại mê chàng, hơn nữa suốt đời yêu chàng sâu sắc như thế ? Hoàng Dung tuệ nhãn thức anh hùng, một mặt đúng là phải có tuệ nhãn, mặt khác Quách Tĩnh phải quả là có tư chất anh hùng. Cái thú vị, bí mật của sự tương thân tương ái giữa Quách Tĩnh và Hoàng Dung là do khí chất khác nhau hút lấy nhau, do tính cách có sự bổ sung tự nhiên cho nhau. Tất cả mọi việc nhỏ, không mang tính nguyên tắc, đều do Hoàng Dung xử lý; còn đại sự mang tính nguyên tắc, thì phải do Quách Tĩnh chủ trương. Có nghĩa là gặp việc nhỏ thì nhìn Hoàng Dung, gặp việc lớn thì nhìn Quách Tĩnh; bình thường thì nhìn Hoàng Dung, lúc bất thường thì nhìn Quách Tĩnh. Điều lý thú là Quách Tĩnh tuy đã luyện thành “Hàng long thập bát chưởng” cực kỳ uy lực, song trong sinh hoạt hàng ngày, tính cách và tác phong của chàng chẳng có gì thay đổi, vẫn thật thà ngốc nghếch như một cậu bé, Hoàng Dung bảo chàng khấu đầu trước Hoàng Dược Sư thì chàng khấu đầu, không cần biết vì sao cả. Trong cuộc lữ du lãng mạn của hai người, tuyệt đại bộ phận và thời gian Quách Tĩnh tình nguyện là cậu học trò nhỏ và ngoan ngoãn. Song Quách Tĩnh cũng có lúc không “ngoan ngoãn” ,tức là khi chàng thể hiện một mặt khác của tính cách, thậm chí có thể nói là một mặt khác của bản chất. Mấy lần quan hệ tình yêu giữa hai người có nguy cơ tan vỡ chính là ví dụ rõ rệt. Lần thứ nhất, Đà Lôi đến Trung Nguyên, chất vấn Quách Tĩnh có phải định từ bỏ Hoa Tranh công chúa để lấy Hoàng Dung hay chăng. Mặc dù đứng trước sự đe doạ cực lớn của Hoàng Dược Sư, Quách Tĩnh vẫn trả lời phủ định. Lý do rất đơn giản, nếu chàng từ bỏ Hoa Tranh công chúa, thì chàng sẽ vi phạm nguyên tắc đạo đức. Lần thứ hai khi họ ở đảo Đào Hoa phát hiện di thể của năm vị sư phụ của chàng, Quách Tĩnh nhận định thủ phạm là Hoàng Dược Sư, nên chàng kiên quyết rời bỏ Hoàng Dung là người chàng yêu tha thiết. Lý do cũng rất đơn giản, luân lý thày trò cao hơn tình yêu của cá nhân, bất kể thế nào chàng cũng không thể tương thân tương ái với con gái của kẻ đã giết các sư phụ của chàng. Lần thứ ba khi Hoàng Dung giúp Quách Tĩnh công hãm thành Ma Nhĩ Hãn, lập công đầu, Hoàng Dung yêu cầu Quách Tĩnh nhân dịp đó nói với Thành Cát Tư Hãn từ hôn Hoa Tranh công chúa, Quách Tĩnh cũng đồng ý, nhưng lúc gặp thì chàng lại đổi ý. Nguyên nhân là chàng không nỡ nhìn thảm kịch đại quân Mông Cổ tàn sát tiếp tục diễn ra, chàng thỉnh cầu Thành Cát Tư Hãn ra lệnh ngừng lại. Ba ví dụ kể trên cho thấy có tuân thủ lời cam kết hay không, có coi trọng luân lý thày trò hay không, có coi trọng sinh mạng bách tính hay không, đều là những vấn đề có tính nguyên tắc, không thể xem nhẹ, càng không thể vi phạm. Mặc dù bình thường Quách Tĩnh luôn luôn tỏ ra là một người đầu óc đơn giản, hiền lành, nhưng khi gặp những vấn đề có tính nguyên tắc, người càng có đầu óc đơn giản, càng cố chấp, càng kiên trì nguyên tắc. Thừa biết điều đó đối với Hoàng Dung sẽ là đòn đả kích rất mạnh, hơn nữa đòn sau lợi hại hơn đòn trước, song Quách Tĩnh vẫn đành phải làm. Ba việc quan trọng kể trên việc sau quan trọng hơn việc trước, đã khắc hoạ quĩ tích tinh thần của việc trưởng thành, nên người của Quách Tĩnh. Điều đáng nói là tác giả không miêu tả con đường trưởng thành của Quách Tĩnh luôn luôn thuận buồm xuôi gió, xung đột giữa tình cảm cá nhân và nguyên tắc đạo nghĩa kể trên chính là thử thách tự nhiên đối với phẩm chất và tình cảm của đôi bên. Tác giả còn miêu tả cuộc khủng hoảng tinh thần của Quách Tĩnh: ấy là chàng cảm thấy nghi ngờ mục đích và tác dụng của việc học võ luyện công, đến mức muốn quên phắt võ công đã học. Là vì chàng không chỉ nhìn thấy quá nhiều cuộc tàn sát đẫm máu, mà cái chết thê thảm của mẫu thân chàng, sự chia tay với người yêu là Hoàng Dung khiến chàng mất đi niềm tin và mục tiêu tiếp tục tiến tới. Đáng chú ý là khi Khâu Xứ Cơ giảng đạo lý cho chàng, chàng hoàn toàn không tin nữa, không phải vì đạo lý Khâu Xứ Cơ nói ra không đúng, mà là vì người giảng chưa đủ uy tín trong tâm chàng. Mãi đến khi gặp lại Hoàng Dung trên đỉnh Hoa Sơn, lại xúc động trước hình tượng hiệp nghĩa của Hồng Thất Công, chàng mới thoát khỏi khủng hoảng tinh thần, mới lại kiên định lòng hiệp nghĩa. Tất cả những cái đó không chỉ khắc hoạ tính cách của Quách Tĩnh, miêu tả quá trình tâm lý của chàng, mà còn làm nền cho việc cuối cùng Quách Tĩnh ra tiền tuyến chống giặc ở thành Tương Dương, - cũng là đỉnh cao thật sự của cuộc đời hiệp nghĩa của chàng. Cuối cùng, khi hay tin đại quân Mông Cổ sắp tấn công thành Tương Dương, Quách Tĩnh, Hoàng Dung đã lập tức đến cứu viện. Theo ý của Hoàng Dung, thôi thì mình cố làm hết sức, nếu không cứu nổi thì rút vậy; song Quách Tính phản đối, nói : “Chúng ta đã học binh pháp trong di thư Nhạc Võ Mục, chẳng lẽ không thấm nhuần bốn chữ ‘Tận trung báo quốc’ hay sao ? Hai ta tuy người ít lực nhỏ , song cũng quyết tận tâm tận lực vì nước chống giặc. Dẫu phải bỏ thân chốn sa trường, thì cũng không uổng công dạy dỗ của cha mẹ và các sư phụ’. Hoàng Dung đành thở dài: “Thiếp vốn biết khó tránh ngày này. Thôi thôi, chàng sống thì thiếp sống, chàng chết thì thiếp cũng chết!” (Xem Anh hùng xạ điêu).

IV

Quách Tĩnh càng lớn, võ công càng cao, kiến thức càng rộng, tâm chí càng lớn, đức hạnh càng vững, hình tượng của chàng trong Anh hùng xạ điêu cũng cao dần lên, về cơ bản là điều đáng tin. Ngòi bút miêu tả của tác giả tuy không phải tất cả đều hay, đều tự nhiên, song phần giả tạo không nhiều. Có điều là về chuyện tác giả không chỉ muốn tả Quách Tĩnh thành cao thủ võ lâm, đại hiệp giữa nhân gian, mà còn muốn tả chàng thành một người tinh anh về tư tưởng và anh hùng về văn hoá, thì tôi có một số điểm khó chấp nhận. Tôi muốn nói, ở phần cuối của bộ tiểu thuyết, tác giả không chỉ tả cuộc khủng hoảng tinh thần của Quách Tĩnh mà còn tả tư tưởng sâu xa của chàng, đến chàng nói những là “Thành Cát Tư Hãn , quốc vương Hoa Thích Từ Mô, các vị hoàng đế Đại Kim Đại Tống, họ đều lấy thiên hạ làm tiền đặt cọc cho canh bạc của họ”. (Xem Anh hùng xạ điêu). Tác giả còn để Quách Tĩnh giảng giải ý nghĩa đích thực của hai chữ “anh hùng” cho Thành Cát Tư Hãn nghe : “Xưa nay bậc anh hùng khiến cho đương thời ngưỡng mộ, đời sau nhớ tiếc, tất phải là người tạo phúc cho dân, thương yêu trăm họ ... ... Đại hãn nam chinh tây phạt, thây người chất thành núi, công tội thế nào thật rất khó nói”. (Xem Anh hùng xạ điêu). Tuy những lời nói ấy đều đúng, song hiển nhiên là biến nhân vật trong sách thành cái loa của tác giả. Phải nói là anh chàng Quách Tĩnh ngốc nghếch tự dưng lại biến thành nhà tư tưởng, hơn nữa còn vượt qua cả hạn chế của thời gian lịch sử, đạt tới tầm cao nhận thức thời nay, dẫu thế nào cũng làm cho người ta khó mà tin. Thực ra, bản thân việc Quách Tĩnh đi gặp Thành Cát Tư Hãn, kẻ đã bức tử mẹ chàng, đã vượt ra ngoài ranh giới tư tưởng của chàng. Tác giả để cho chàng thực hiện hành động siêu phàm ấy, tức là không khỏi coi thường tình cảm chân thành của chàng đối với mẹ mình. Cái bất túc của hình tượng nhân vật Quách Tĩnh trongbộ tiểu thuyết Anh hùng xạ điêu chính là tác giả tả thế giới tình cảm và mâu thuẫn tâm lý của nhân vật này không đủ, chưa sâu. Hay đấy là cái giá phải trả cho việc miêu tả hình tượng “đại hiệp” ? Tương tự, hình tượng Quách Tĩnh trong Thần điêu hiệp lữ càng cao cả, song cũng càng thiếu đặc sắc và thiếu tầm sâu nhân văn. Sở dĩ như vậy, tôi cho rằng là vì ban đầu tả Quách Tĩnh quá ngốc, về sau lại tả thiếu chân thực, giữa hai cái đó không có mối liên hệ lôgic tất nhiên nào cả. Có điều là đối với quan niệm truyền thống lễ giáo Nho gia chính thống và chính tông, giả sử không quá ngốc, thì có ai lại tin ngay và thực hiện đúng kia chứ ? Hơn nữa, nếu không dối trá đối với qui phạm tinh thần Nho gia ấy, thì người khác làm sao có thể tin tưởng và sùng bái ? Suy cho cùng, chỉ e điều này không hoàn toàn là sơ ý hay nhầm lẫn của tác giả, mà thực chất là một thứ mâu thuẫn khó nói của bản thân tinh thần Nho gia.
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

11.
HOÀNG DUỢC SƯ
Tự hạn chế mình


1.

Hư cấu “Càn khôn ngũ tuyệt” Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, Trung Thần Thông, tổ chức cuộc Hoa Sơn luận kiếm, đoạt “Cửu ám chân kinh”, được coi là các tuyệt chiêu tiểu thuyết võ hiệp của tác giả. Năm vị tông sư võ học ấy, Vương Trùng Dương là Đạo gia, Đoàn Hưng Trí vào cửa Phật, Hồng Thất Công hành hiệp nghĩa, Âu Dương Phong nghiền ngẫm độc công, Hoàng Dược Sư giương ngọn cờ tà, mỗi vị nghiễm nhiên thành gia, khiến người người tin phục. Trong số đó đệ nhất cao thủ Trung Thần Thông Vương Trùng Dương lặng lẽ chết sớm, Nam Đế Đoàn Hưng Trí lại đi tu, Tây Độc Âu Dương Phong và Bắc Cái Hồng Thất Công là một cặp oan gia sinh tử, mấy chục năm sau trên đỉnh Hoa Sơn lại ôm nhau cười ngất, xoá hết cừu hận, vị nào cũng gây bất ngờ và làm cho người ta phải suy ngẫm mãi.

Nhưng nói về chiều sâu nhân văn của hình tượng mấy nhân vật truyền kỳ đó, trước hết phải kể đến Đông Tà Hoàng Dược Sư biến hoá đa đoan. Đông Tà Hoàng Dược Sư có thể nói là đệ nhất kỳ tài thông minh tuyệt đỉnh, không chỉ văn võ song toàn, mà còn kiêm thông cầm kỳ thư hoạ, y bốc tinh tướng, toán số thao lược, ngũ hành kỳ môn. Con gái Hoàng Dung của Đông Tà chỉ cần học được một chút tài hoa học thức của cha đã khiến người ta tưởng là người trời; nhìn đảo Đào Hoa nơi Đông Tà cư trú, hoa cỏ thành trân, người ta phải hoa mắt, tối tăm mặt mũi. Một câu hỏi lý thú đặt ra, vì sao một người thông minh tuyệt đỉnh như thế, về phương diện võ công tại sao lại không thể trở thành người số một trong thiên hạ? Tại cuộc Hoa Sơn luận kiếm năm nào, Đông Tà Hoàng Dược Sư bị bại dưới tay Trung Thần Thông Vương Trùng Dương; sau biết “Cửu âm chân kinh”, luyện đi luyện lại, mới chỉ ngang hoà với Tây Độc, Bắc Cái; thời gian qua đi, Đông Tà hiển nhiên đã không còn là đối thủ của Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông nữa; lâu dần rồi chính lão cũng sẽ không bằng chàng rể Quách Tĩnh của mình.


Điều này dĩ nhiên có thể giải thích, chẳng hạn, một là tác giả thiết kế như vậy, hoặc nói là do quan niệm truyền thống, đông tây nam bắc không thể sánh bằng “Trung ương thần thông”; thứ hai, anh hùng thiên hạ rất nhiều, con đường thành tài khác nhau, mọi con đường đều dẫn tới La Mã, môn học nào cũng có cao nhân; thứ ba, Hoàng Dược Sư bác học bàng thông, tinh lực quá phân tán, đương nhiên không thể chuyên tâm vào một môn để đạt tới cảnh giới cao nhất. Dĩ nhiên tác giả hoàn toàn không nêu ra các vấn đề đó nhưng trong sách ta thấy có một số dấu vết, đoạn quan trọng nhất là lời Lão Ngoan đồng kể cho Quách Tĩnh nghe quan điểm của sư huynh lão là Vương Trùng Dương: “Sư ca năm ấy nói ta có thiên tư học võ , lại thích thú không chán, nhưng một là quá say mê vào đó, hai là thiếu tấm lòng cứu nhân độ thế, nên dù suốt đời chuyên cần khổ luyện cũng không đạt tới cảnh giới tuyệt đỉnh.

Bấy giờ ta không tin, nghĩ rằng học võ thì lo học võ, đấy là thứ công phu sử dụng quyền cước và binh khí, đâu có liên quan gì đến kiến thức khí độ kia chứ ? Nhưng mười mấy năm trở lại đây, ta đã không thể không tin. Này huynh đệ, huynh đệ lòng dạ trung hậu, độ lượng, chỉ tiếc là sư ca của ta đã qua đời, nếu không sư ca ta gặp huynh đệ thể nào cũng sẽ vui mừng, đem toàn bộ một thân võ công cái thế của mình truyền thụ hết cho huynh đệ ...”(Xem Anh hùng xạ điêu). Đấy là di ngôn của đệ nhất cao thủ Vương Trùng Dương, hậu nhân không thể không tin; Lão Ngoan đồng tuy điên điên khùng khùng, nhưng thông minh dĩnh ngộ, suốt đời si mê đạo võ công, nên không thể xem nhẹ sự thể nghiệm của lão. Huống hồ câu nói trên tuy có phần trừu tượng, rõ ràng mang hơi hướng huyền học truyền thống của phương Đông, song về sự sinh thành và phát triển của trí tuệ loài người và từng cá thể, có thể nói là tiên tri và kinh nghiệm. Ta có thể diễn giải quan điểm trên như sau: trí thông minh cố nhiên là nhân tố quan trọng của sự phát triển trí tuệ, song tuyệt nhiên không phải là nhân tố quyết định duy nhất thành tựu trí tuệ. Sự phát triển, chuyển hoá của trí thông minh, hoặc mức độ khai thác tiềm năng trí tuệ của con người, thành tựu của nó, phụ thuộc không chỉ vào bản thân trí thông minh, mà còn vào rất nhiều nhân tố như cá tính, hoài bão, ranh giới tinh thần, tầm nhìn, khả năng tài chính, điều kiện môi trường ...

Nếu không đủ các nhân tố trên, thì dù trí thông minh có cao đến mấy, cũng sẽ gặp vô số hạn chế, sau khi đạt tới đỉnh cao nào đó, sẽ khó vượt qua chính mình. Nghĩa là giới hạn võ công của Hoàng Dược Sư là do ranh giới tinh thần, tầm nhìn, môi trường và cá tính của chính Hoàng Dược Sư quyết định. Nói nôm na, khí chất cá tính của Hoàng Dược Sư đã quyết định sự hạn chế của lão. Hoàng Dược Sư là một người thông minh, ưu điểm của người thông minh là giỏi vận dụng đầu óc của mình để xem xét vạn sự vạn vật, sau đó đưa ra phát minh sáng tạo. Còn khuyết điểm của người thông minh là dễ kiêu ngạo tự mãn, việc thiếu vốn văn hoá sẽ dẫn đến chỗ tự hạn chế sự phát triển trí tuệ của mình. Cá tính kiêu ngạo của Hoàng Dược Sư, trong sách có nhiều ví dụ chẳng hạn khi hành tẩu giang hồ, lão thích mang mặt nạ, vì lão cảm thấy những kẻ dung tục không đáng được nhìn thấy bản lai diện mục của lão.

Ví dụ hùng hồn nhất, là khi Quách Tĩnh phát hiện trên đảo Đào Hoa di thể năm vị sư phụ của chàng, chàng tưởng lầm là do Hoàng Dược Sư giết họ, bèn rời bỏ Hoàng Dung, rời Đào Hoa đảo, đi tìm Hoàng Dược Sư liều mạng. Hoàng Dược Sư thừa biết Quách Tĩnh hiểu lầm, song không thèm giải thích gì với chàng ngốc Quách Tĩnh; thậm chí khi Hoàng Dung tới hiện trường xin cha giải thích rõ sự hiểu lầm, lão vẫn ngang ngạnh nhận món nợ máu ấy, chấp nhận sự khiêu chiến của Quách Tĩnh và đệ tử phái Toàn Chân, ngụ ý là đệ tử phái Toàn Chân sở dĩ khiêu chiến với lão, chẳng qua là do hiểu lầm, đã thế lão cũng chẳng thèm giải thích. Trận đại chiến kinh tâm động phách ấy bảo là do sự hiểu lầm của cánh trẻ cũng đúng, nhưng đúng hơn là do sự cao ngạo của Hoàng Dược Sư gây nên. Còn một ví dụ nữa, sau khi nửa bộ “Cửu âm chân kinh” do phu nhân Hoàng Dược Sư chép lại bị đệ tử môn hạ Trần Huyền Phong lấy trộm mang đi mất, Hoàng Dược Sư thề nếu chưa viết bù nửa bộ “Cửu âm chân kinh”, sẽ không rời Đào Hoa đảo nửa bước. Lão thề như vậy vì quá tự tin, cho rằng bộ chân kinh đã do con người sáng tạo ra, thì một người thông minh như lão nhất định cũng sẽ làm được. Nhưng rồi Hoàng Dược Sư trước sau không viết được pho bí kíp võ công mới nào cả, nửa bộ “Cửu âm chân kinh” bị khuyết, lão cũng không viết bù; song vì Hoàng Dung giận dỗi bỏ Đào Hoa đảo mà đi, lão đành bất chấp lời thề, rời Đào Hoa đảo đi tìm con. Vì sao Hoàng Dược Sư không viết bù nổi “Cửu âm chân kinh”?

Đơn giản là vì lão không đủ nguồn thông tin cần thiết. Hồi trước Hoàng Thường - nói theo lời Quách Tĩnh, người ấy cũng họ Hoàng, cũng rất thông minh, -sáng tạo ra “Cửu âm chân kinh”, là nhờ đã đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ, tu chỉnh nhiều lần đạo tàng thiên hạ; Hoàng Dược Sư vị tất có điều kiện và công phu như thế. Hơn nữa, dẫu có đủ tư liệu, liệu Hoàng Dược Sư có chịu khó đọc hay không? Đọc như thế nào? Vận dụng như thế nào? Còn là cả một vấn đề . Trong sách có tả cuộc “đấu trí” rất lý thú giữa Hoàng Dung với đệ tử của Nhất Đăng đại sư là Trạng nguyên thư sinh Chu Tử Liêu; thực ra cũng là gián tiếp miêu tả Hoàng Dược Sư, bởi vì các câu trả lời cơ trí của Hoàng Dung đều là do cha nàng dạy cho nàng cả. Chẳng hạn mở đầu nói tới Mạnh Tử và loại thơ “Đả du”

Khất cái làm sao hai vợ được?
Láng giềng liệu có mấy con gà?
Đương thời thiên tử nhà Chu đó, Tề,
Nguỵ sao lòng vẫn thiết tha?

Nguyên bài thơ ấy là kiệt tác của Hoàng Dược Sư, có ý chê bai Thang, Vũ; coi thường Chu Khổng, đối với những lời thánh hiền truyền lại lúc rảnh rỗi lại bài bác mỉa mai, từng làm không ít thơ ca từ phú chế nhạo “Khổng Mạnh”. (Xem Anh hùng xạ điêu). Thực ra bài thơ này hoàn toàn không phải do Hoàng Dược Sư sáng tác, cũng không phải do Kim Dung viết, mà là trích dẫn từ cuốn sách Cổ kim tiếu do Phùng Mộng Long đời nhà Minh biên soạn. Có điều là Kim Dung nói do Hoàng Dược Sư sáng tác nghe cũng rất hợp lý). Ví dụ này nói rõ nhất cá tính của Hoàng Dược Sư, cái ngoại hiệu “ĐôngTà” của lão rõ ràng cũng liên quan tới điều này. Ở đây chúng ta cần phải kính trọng thái độ phủ định và bài bác của Hoàng Dược Sư đối với một số vấn đề văn hiến kinh điển truyền thống. Con người này không theo Đạo, không theo Phật, không theo hiệp nghĩa cũng chẳng theo tà ác, đối với thánh nhân và kinh điển Nho gia càng giễu cợt châm biếm, vậy thì lão lấy gì để tham khảo sáng tạo, lấy gì làm nguồn vốn văn hoá của mình ?
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

2.

Hoàng Dược Sư không chỉ kiêu ngạo tự mãn, chẳng cần nghe ai, bài bác kinh điển, mà đồng thời còn vô cùng cô quạnh, cố chấp, thiên kiến. Trong nhóm anh tài ngang vai với lão, thì Vương Trùng Dương là giáo chủ giáo phái Toàn Chân, Đoàn Hưng Trí là quốc vương Đại Lý, Hồng Thất Công là bang chủ Cái Bang, Bạch Đà sơn của Âu Dương Phong cũng rất đông đệ tử, riêng ĐôngTà Hoàng Dược Sư là cô gia quả nhân, cho nên lão thiếu không chỉ vốn văn hiến, mà cả sự trao đổi tin tức. Cần phải nói rằng Hoàng Dược Sư vốn cũng lập thành một phái, môn hạ đệ tử cũng có nhiều, nhưng đại đệ tử của lão là Trần Huyền Phong và nữ đệ tử Mai Siêu Phong ăn cắp nửa bộ “Cửu âm chân kinh” của lão mang đi mất, nên lão giận cá chém thớt, trút giận xuống đầu mấy đệ tứ vô tội Khúc, Lục, Vũ, Phùng, bẻ gãy chân họ, rồi đuổi ra khỏi cửa. Lão còn làm cho toàn bộ tôi tớ ở Đào Hoa đảo bị điếc và mù, biến thành kẻ tàn phế. Như vậy là lão tự tạo ra cho mình một thế giới cô độc cô quả.
Chữ “tà” trong hành vi cá tính của Hoàng Dược Sư có nhiều ví dụ.

Ví dụ điển hình là, lão và bà vợ lão bày cách đánh lừa, lấy được “Cửu âm chân kinh” của Lão Ngoan đồng; Lão Ngoan đồng biết chuyện đến tính sổ với lão, thì lão lại trách cứ Lão Ngoan đồng và bộ chân kinh kia đã “hại chết” vợ lão, rồi lão bẻ gãy hai chân của Lão Ngoan đồng, nhốt Lão Ngoan đồng trên Đào Hoa đảo suốt mười lăm năm ròng rã. Con gái Hoàng Dung của lão đến chơi đùa với Lão Ngoan đồng, bị lão chửi mắng đến mức cô bé Hoàng Dung phải tức giận bỏ nhà mà đi.
Ví dụ rõ hơn nữa, là tính cách cổ quái cô độc của lão không chịu nói rõ chân tướng “chiếc thuyền tự sát”, chút nữa thì hại chết Quách Tĩnh, Hồng Thất Công và Lão Ngoan đồng, khiến Hoàng Dung đành phải giong buồm ra biển tìm cứu. Lão không thể không ra biển tìm con gái, bị Linh Trí hoà thượng đánh lừa, tưởng rằng Hoàng Dung đã chết, thế là vừa khóc vừa cười, vừa ca hát ngâm thơ, kêu trời chửi đất, rủa quỉ mắng thần, than trách số phận bất công đối với lão. Thế cũng đi một nhẽ, đàng này sau khi lên bờ, lão lại đem cơn giận dữ trút xuống đầu Quách Tĩnh: “Nếu không phải hắn, Dung nhi đâu có lên thuyền ? Chỉ có tên tiểu tử ấy làm cho Dung nhi bị chết, chứ ta biết chửi ai bây giờ ?” Rồi lão nhớ đến sư phụ của Quách Tĩnh là Giang Nam lục quái, liền gào lên : “Giang Nam lục quái chính là thủ phạm hại chết Dung nhi của ta?

Nếu mấy tên ấy không dạy võ công cho tên tiểu tử Quách Tĩnh, thì làm sao hắn quen biết được Dung nhi kia chứ ? Không bẻ gãy hết chân tay từng gã lục quái thì ta nguôi hận sao được?” (Xem Anh hùng xạ điêu).

Mấy ví dụ trên chứng minh tính cách tà môn quái gở của Hoàng Dược Sư, rõ là lão chẳng cần nghe ai, đúng hơn là duy ngã độc tôn, bất chất lý lẽ, hoành hành ngang ngược, dựa thế khinh người. Các ví dụ ấy còn chứng tỏ sự thông minh của Hoàng Dược Sư có điểm mù, sai lầm và hạn chế. Một người hiểu chút tình lý trên thế gian, sẽ không như lão, vì đại đệ tử phạm tội mà đi trừng phạt nặng nề các đệ tứ khác, cũng sẽ không đối xử tàn nhẫn với Lão Ngoan đồng hồn nhiên; càng không vì thương con gái mình mà đi giận lây Quách Tĩnh, thậm chí giận lây Giang Nam lục quái, là những người không hề dính dáng đến “cái chết” của con gái lão. Nếu muốn tổng kết, thì thực tế toàn là do sai lầm của lão gây ra: nếu lão không tham lam bí kíp võ công, thì vợ lão đã không bị chết sớm, Lão Ngoan đồng sẽ không bị hành hạ thảm thương bao nhiêu năm, mà đệ tử Trần Huyền Phong cũng sẽ không có sách đâu mà lấy trộm. Hơn nữa, nếu Hoàng Dược Sư không quá hà khắc với các đệ tử, thì vợ chồng Trần Huyền Phong đâu đến nỗi phải bỏ lão trốn đi? Cuối cùng, nếu lão thật sự yêu quí con gái lão, thì sẽ không để cho người yêu của con gái lão là Quách Tĩnh bị nguy hiểm như thế, lão cũng sẽ không bị mắc lừa.

Tất cả dĩ nhiên đều do tính cách của Hoàng Dược Sư quyết định, các hành vi, suy nghĩ kể trên của lão vừa gặp hoạ là bùng ra như sấm, lập tức chửi trời chửi đất rủa thần rủa quỉ, thực ra đâu có khác gì một gã thôn phu ngu muội, đâu có thấy gì là một người thông minh tuyệt đỉnh?
Như vậy chúng ta đã đi đến kết luận lý thú, rằng một người thông minh tuyệt đỉnh như Hoàng Dược Sư thực tế lại không phải là bậc trí giả chân chính. Sự thông minh của lão đủ để giúp lão có tuyệt kỹ cầm kỳ thư hoạ y bốc tinh tướng, song không đủ để lão có trí tuệ nhân sinh chân chính, nhất là trí tuệ “nhận thức chính mình”, ngược lại, tạo nên sự hạn chế tài trí của lão, khiến lão không thể trở thành cao thủ số một thiên hạ về võ công.


CUỐI.

Hoàng Dược Sư một đời đơn độc lai vãng, thổi sáo hớp hồn, đạn chỉ thần thông, thần kiếm thấp thoáng trong ánh hoa đào, tiếng tiêu hoà với sóng biển xanh, vị Đào Hoa đảo chủ tưởng như vị tiên Đông Hải. Thực ra vị cao thủ võ lâm phi phàm ấy lại bị bệnh tâm thần nghiêm trọng. Mấy ví dụ trên chứng tỏ, trừ một kẻ ngu xuẩn, hoặc một bệnh nhân tâm thần ra, không ai lại đi suy đoán hoàn toàn phi lý và hành động một cách không thể hiểu nổi như vậy? Hoàng Dược Sư dĩ nhiên không phải là một kẻ ngu xuẩn, nên chỉ có thể nói lão bị bệnh tâm thần. Một nguyên nhân rõ ràng, là lão bị thiếu thốn tình cảm suốt thời gian dài. Hoàng Dược Sư thông minh tuyệt đỉnh, hoành hành bá đạo, coi trời bằng vung đấy, thực tế là một kẻ cực kỳ yếu đuối về tâm lý. Bằng chứng là từ ngày vợ chết, lão biến thành một thứ cô hồn dã quỉ chỉ mạnh bề ngoài, thậm chí giống như một cái xác không hồn; lão luôn đeo một cái mặt nạ không thay đổi, cũng là một tượng trưng rõ rệt. Bằng chứng cao hơn là lão đã chuẩn bị sẵn cho mình “chiếc thuyền tự sát”, nếu không phải vì đứa con gái nhỏ Hoàng Dung không người trông nom, thì lão đã bước lên “chiếc thuyền tự sát” từ lâu rồi.

Quãng đời trống trải, vô vị sau khi vợ chết làm cho tâm lý của lão bị biến dạng. Nhìn chung có thể coi Hoàng Dược Sư là một kẻ đa tình, bằng chứng là sau khi vợ chết, lão đau khổ, thương nhớ không nguôi; nhưng mặt khác, lão lại không thực sự hiểu được tình cảm, tình người. Bằng chứng là lão trước sau vẫn không hiểu nổi tình cảm của đứa con gái : nếu lão thật sự yêu con gái, thì lão phải yêu người yêu của nó, đàng này lão lại hết sức căm ghét Quách Tĩnh. Lý do bề ngoài, là thấy Quách Tĩnh ngốc nghếch, xuất thân hèn kém, không xứng đôi với Hoàng Dung; nhưng thực chất, lão ghét Quách Tĩnh, thậm chí coi chàng như kẻ thù, là có nguyên nhân tâm lý sâu xa, không phải vì đứa con gái, mà chỉ vì chính lão, chỉ sợ Hoàng Dung lấy chồng rồi, sẽ không còn ai làm chỗ dựa tinh thần cho lão nữa. Tôi dã nói, Hoàng Dược Sư bề ngoài tỏ ra kiên cường, tâm linh thực ra lại vô cùng yếu đuối. Vợ chết đi, lão coi như mất hết tất cả mọi thứ trên đời. Đứa con gái là lý do khiến lão tiếp tục sống, là chỗ dựa duy nhất về tinh thần của lão.

Tôi nói Hoàng Dược Sư không hiểu được tình cảm, tình người, vì quan niệm nhân sinh của lão trước sau rất mơ hồ, tình cảm không có chỗ dựa, cuộc sống tinh thần của lão thực ra chứa đầy mâu thuẫn và trống rỗng. Đào Hoa đảo đã là chốn trống trải, tịch mịch về phương diện tự nhiên; Hoàng Dược Sư lại còn tạo thêm sự trống trải và tịch mịch bằng việc đuổi đệ tử, biến tôi tớ thành kẻ mù và điếc, vợ chết, con gái bỏ nhà đi, độc trùng sinh sôi Cuối cùng môi trường quyết định tính cách, lão sống trong một môi trường như thế, làm sao không mắc bệnh tâm thần ? Một người thông minh tuyệt đỉnh phải hiểu ý nghĩa của hai chữ “sống, hay là chết”, song vì sự hạn chế trí tuệ và căn bệnh tâm lý, lão không tìm ra đáp án thích hợp cho mình. Bởi vậy cuộc sống của lão chứa đầy xung đột mâu thuẫn khó hiểu : lão muốn chết, nhưng trước sau vẫn không chết; muốn ẩn dật chốn sơn lâm, nhưng lại thích danh vọng giữa nhân gian; cả đời luôn châm biếm kinh điển thánh hiền Nho gia, song lại bảo “bình sinh ta kính trọng nhất là trung thần hiếu tử” (Xem Anh hùng xạ điêu); thề chưa viết bù “Cừu âm chân kinh” thì chưa rời Đào Hoa đảo, nhưng lại tự vi phạm lời thề.

Điều này cũng phản ánh toàn bộ cuộc đời của lão: muốn viết câu chuyện nhân sinh khác hẳn với tiền nhân, kết quả là nếu không giống tiền nhân, thì lại chẳng là gì hết. Vốn định gửi gắm cuộc đời, trông đợi ở tình cảm vợ chồng, nhưng sự thông minh của lão lại không tính được chuyện vợ lão chết sớm? Nhân gian lắm đường tà, Hoàng Dược Sư tự phụ tài hoa cái thế, muốn dựng một ngọn cờ, kết quả lại hoàn toàn không thoát khỏi lẽ thường của cõi nhân gian, lão rốt cuộc vẫn chỉ là một thành viên bình thường giữa đám chúng sinh đáng thương mà thôi.
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

12.
HOÀNG DUNG
Dạo chơi giữa nhân gian.


Nhìn thấy một cậu bé ăn xin nhếch nhác giữa phố phường đột nhiên biến thành một tiên nữ tóc dài thướt tha xinh đẹp trên thuyền bơi giữa hồ, đừng nói chàng Quách Tĩnh chưa quen thế sự, mà ngay cả một độc giả hiểu biết sâu rộng cũng trố mắt kinh ngạc. Cảnh tượng hài hước này giống như cảnh chàng thiếu niên Ôn Thanh trong Bích huyết kiếm bỗng dưng biến thành thiếu nữ Hạ Thanh Thanh, nhưng ở đây cảnh tượng độc đáo hơn. Khỏi phải nói, tính cách của nhân vật chính Hoàng Dung lanh lợi đa biến hơn hẳn thiếu nữ Hạ ThanhThanh, sắc thái truyền kỳ cũng phong phú hơn. Bắt đầu từ giây phút ấy hình tượng nhân vật Hoàng Dung đã loé sáng, không chỉ bao trùm Quách Tĩnh, mà còn bao trùm toàn bộ sách Anh hùng xạ điêu. Cái tinh linh cực kỳ thông minh và vô cùng ngang ngạnh này, dưới ngòi bút của Kim Dung, một nửa là tiên nữ trên trời, một nửa là yêu tà dưới trần.


I

Đặc điểm tính cách nổi bật của Hoàng Dung đương nhiên là sự thông minh lanh lợi. Khi mới xuất hiện, thiếu nữ này đã treo Hoàng Hà tứ quỉ võ công khá cao lên cây, lại còn làm cho sư thúc của Hoàng Hà tứ quỉ là Hầu Thông Hải cứ loay hoay không sao đối phó được; sau đó nàng lại ung dung thoát thân khỏi Hoàn Nhan vương phủ, một nơi có vô số cao thủ, đủ biết nàng chẳng phải nhân vật tầm thường. Hoàng Dung sở dĩ phục hồi nguyên hình thiếu nữ, là vì nàng muốn trêu ghẹo anh chàng Quách Tĩnh ngốc nghếch, chủ yếu là để Quách Tĩnh biết chân tướng diện mạo của nàng - thiếu nữ này đã phải lòng Quách Tĩnh rồi. Hoàng Dung yêu Quách Tĩnh là vì “ta thấy chàng đối đãi chân thành với ta, bất kể ta là nam hay nữ, ta dễ nhìn hay khó coi”, “Ta mặc bộ quần áo này, ai cũng lấy lòng ta, chuyện đó đâu có gì lạ ? Khi ta làm kẻ ăn xin, chàng đối tốt với ta, đó mới là tốt thật”. (Xem Anh hùng xạ điêu).

Bất kể có môn đăng hộ đối hay không, điều cốt yếu là chân tình đối với nhau, là tình đầu ý hợp. Chỉ riêng việc này cũng đủ thấy Hoàng Dung có kiến thức phi phàm, từ trong đất cát nhận biết, phát hiện được cục vàng, hòn ngọc nguyên khối Quách Tĩnh mà người khác chưa biết, thế mới là tuệ nhãn thức anh hùng. Càng phi phàm cái việc Hoàng Dung không chỉ phát hiện được phẩm chất đạo đức cao quí của Quách Tĩnh, mà còn bồi đắp và phát huy phẩm chất trí tuệ cho chàng. Cùng đi một chuyến với Quách Tĩnh, thực sự nàng là một giáo viên giảng về văn hoá nghệ thuật Trung Nguyên và cuộc sống giang hồ cho người bạn trai của mình. Không có sự hướng dẫn, chỉ dẫn của nàng, chuyến trở về Trung Nguyên của Quách Tĩnh chẳng những không có thu hoạch, mà còn vô vị tẻ ngắt, thậm chí khó đi từng bước. Có nàng đi bên cạnh, hành trình trở nên tươi đẹp vô hạn, đầy hoạ ý thi tình, hơn nữa Hoàng Dung còn tạo ra cho chàng nhiều cuộc kỳ ngộ chốn giang hồ , khiến cho Quách Tĩnh được thoát thai hoán cốt. Gọi là tạo ra nhiều cuộc kỳ ngộ, tức là chỉ ra rằng, chẳng hạn, việc Hoàng Dung đoán đúng, qua vài biểu hiện nhỏ, như việc ông lão ăn xin thích ăn phao câu gà, biết đó là kỳ nhân đương thời Hồng Thất Công, trong giây lát nấu vài món ăn đầy hấp dẫn để lấy lòng vị đại tông sư võ học ấy, khiến cho lão tự nguyện giúp nàng, đem tuyệt kỹ độc môn “Hàng long thập bát chưởng” truyền thụ cho chàng ngốc Quách Tĩnh.

Tiếp đó nàng lại trổ tài nấu nướng vô số món ăn vừa lạ miệng vừa thanh nhã, đặt cho chúng những cái tên thú vị, như “Quân tử hảo cầu”, “Kiều minh nguyệt” ... để Hồng Thất Công bị mắc lừa, chịu đem võ công “Tiêu dao du” cực kỳ phức tạp, đầy biến hoá, môn võ công mà Quách Tĩnh vừa nhìn đã hoa cả mắt, truyền thụ cho Hoàng Dung. Nói Hoàng Dung là cô giáo hướng dẫn văn hoá và dạy cách sống cho Quách Tĩnh là vì nàng tuy không dạy võ công cho chàng như Giang Nam lục quái và Hồng Thất Công, song đã mời các vị giáo sư lỗi lạc dạy cho Quách Tĩnh, thiết kế giáo trình học tập và thực hiện; lại còn tìm ra bộ giáo trình “Vũ Mục toàn thư” của vị anh hùng dân tộc tiền bối Nhạc Phi, một cuốn sách giáo khoa về võ thuật, quân sự, chính trị, đạo đức. Sau khi nàng bị thương, nàng tìm Anh Cô hỏi han, khiến một người tự xưng là Thần Toán Tử như Anh Cô cũng phải thẹn vì thua kém nàng. Đối với bốn cao thủ Ngư, Tiều, Canh, Độc, mưu kế và hiểu biết của nàng cũng khiến họ phải mến phục. Kiệt tác tâm trí của Hoàng Dung dĩ nhiên còn bao gồm kế “Áp quỷ đảo” đánh gục Âu Dương Khắc, tại miếu Thiết Thương dẫn dụ Khúc cô, lột mặt nạ Dương Khang. Cuối cùng đối phó rất lâu dài với đại ma đầu số một thiên hạ Âu Dương Phong, không bị suy tổn chút nào, còn kịp thời truy hỏi Âu Dương Phong “Mi là ai” trên đỉnh Hoa Sơn, khiến vị đại tông sư võ học này trở nên điên điên khùng khùng.

Các đại cao thủ võ lâm siêu cấp như Hoàng Dược Sư, Hồng Thất Công, Quách Tĩnh đều không thắng nổi Âu Dương Phong, chỉ một người có thể đánh bại lão ta, ấy là Hoàng Dung. Đáng chú ý là Hoàng Dung cơ trí linh lợi, đa mưu túc trí, song hoàn toàn không phải mất công suy nghĩ, mà là tuỳ cơ ứng biến, hết sức tự nhiên. Tài trí của nàng đúng là thần tình, tinh linh. Ví dụ về sự thông minh linh lợi, bác học đa năng của Hoàng Dung thật nhiều không kể xiết. Độc giả nói chung có thể đôi chỗ cảm thấy sự tinh minh của nàng thiếu nữ này là “phịa”, khó tin, nhưng nàng là con gái duy nhất của bậc kỳ tài Hoàng Dược Sư thông minh tuyệt đỉnh, chắc là được di truyền cộng với uyên nguyên gia
học, nên lại khiến bạn đọc không thể không tin.


2.

Tính cách của Hoàng Dung không chỉ dừng ở thiên tư thông minh dĩnh ngộ. Trong hành vi cá tính của nàng, thực ra còn bao gồm sự ngang bướng kỳ quái, sự kiêu ngạo, tuỳ hứng, muốn gì làm nấy, tự cho mình là trung tâm, vừa có khí tiên linh vừa có khí yêu tà. Hoàng Dung rõ ràng không chỉ thừa hưởng trí thông minh của vợ chồng Hoàng Dược Sư, mà cả tính cách và quan niệm giá trị của Đông Tà, cho nên tính cách tâm lý của nàng cũng khác mọi người. Hoàng Dung lang bạt giang hồ, tình cờ quen biết rồi yêu Quách Tĩnh, là vì nàng giận cha mà bỏ nhà đi. Một thiếu nữ xinh đẹp, cải trang thành một cậu bé ăn xin nhếch nhác, mục đích chính là để phụ thân hồi tâm chuyển ý. Tuy nàng rất yêu cha, nhưng do từ nhỏ được cưng chiều, nên không thể chịu lép chút nào. Gặp lại cha tuy rất vui, nhưng vì cha đối với người yêu của nàng không chút khách khí, nên nàng lại lao đầu xuống hồ để cảnh cáo và yêu sách; sau khi trở về đảo Đào Hoa, nghe tin Quách Tĩnh gặp nguy hiểm suýt mất mạng, nàng đương nhiên không chút do dự, lại giương buồm vượt biển đi tìm Quách Tĩnh. Vị đại tông sư Hoàng Dược Sư đối với cô con gái như thế trước sau cũng chẳng biết làm cách nào, đành khóc dở cười dở mà thôi.

Đông Tà Hoàng Dược Sư còn như thế, thì những người khác dĩ nhiên chịu hết nổi. Hoàng Dung dám một mình xông pha giang hồ , thậm chí cố ý gây sự với Hoàng Hà tứ quỉ và Hầu Thông Hải, vào Hoàn Nhan vương phủ như vào chỗ không người, cố nhiên là vì nàng tự thị võ công không kém, lại thông minh lanh lợi, nhưng nguyên nhân sâu xa hơn còn vì nàng là độc nữ bảo bối của Hoàng Dược Sư; một mặt tâm cao khí ngạo, không coi người khác ra gì; mặt khác, có chỗ dựa, không sợ trong võ lâm có ai dám cả gan động tới con gái rượu của Đông Tà. Tóm lại, nàng không chủ động gây sự với người khác là may lắm rồi, người khác dẫu là chính phái hay tà phái, cao thấp thế nào, cũng chẳng dại gì gây khó dễ với nàng. Ví dụ thứ nhất, là việc Giang Nam lục quái không cho đệ tử Quách Tĩnh quan hệ với Hoàng Dung. Hàn Bảo Câu nhiếc nàng là “tiểu yêu nữ”, Chu Thông gọi nàng là “đại ma đầu’; nàng đốp lại luôn, nhiếc Chu Thông là “gã tú tài xấu xa dơ dáy”, nhiếc Hàn Bảo Câu là “lão mập lùn khó coi”, lại còn hát mấy câu trêu chọc : “Quả dưa lùn, trái cầu da, đá một cước, bắn tung ra; đá hai cước ...” (Xem Anh hùng xạ điêu).

Các vị sư phụ của Quách Tĩnh, chuyện sư đạo tôn nghiêm, nàng chẳng coi ra gì. Ví dụ thứ hai, Khưu Xứ Cơ quá nhiệt tình, muốn làm mối cho Quách Tĩnh lấy Mục Niệm Từ, chẳng để ý xem hai người ấy đã có yêu ai hay chưa. Làm vậy dĩ nhiên là đắc tội lớn với Hoàng Dung, người đang tha thiết yêu Quách Tĩnh. Thế là nàng bèn bảo Quách Tĩnh sẽ tìm một bà vừa già vừa xấu gả cho Khưu Xứ Cơ. “Khưu Xứ Cơ dĩ nhiên sẽ không chịu. Nhưng lão lại chẳng chịu nghĩ xem, huynh bảo huynh không muốn lấy Mục cô nương, sao lão đạo trưởng cứ ép huynh phải lấy nàng ta. Hừ, đợi một ngày nào đó võ công của muội cao hơn lão đạo sĩ mũi trâu ấy, nhất định muội sẽ ép lão phải lấy một bà vừa xấu xí vừa dữ dằn, cho lão nếm mùi bị người ta ép lấy một mụ vợ thế nào”. (Xem Anh hùng xạ điêu). Tuy về sau Hoàng Dung không bức bách Khưu Xứ Cơ phải lấy một bà xấu xí, nhưng mối hiềm khích đối với Khưu Xứ Cơ nàng cứ để mãi trong lòng. Ví dụ thứ ba, là việc dùng vũ lực cưỡng chế đối với “tình địch” Mục Niệm Từ. Tuy Quách Tĩnh đã biểu thị với nàng, rằng chàng dứt khoát không bao giờ lấy Mục Niệm Từ làm vợ, song Hoàng Dung vẫn không khỏi lo lắng, vì thế khi gặp Mục Niệm Từ, nàng bèn điểm huyệt, rồi vung dao nhọn trước mắt nàng ta, buộc nàng ta thề sẽ không bao giờ làm vợ Quách Tĩnh.

Khi Mục Niệm Từ hiểu ra dụng ý của Hoàng Dung, bèn nói mình đã có người yêu rồi, không đời nào lấy Quách Tĩnh cả, Hoàng Dung mới mừng rỡ, xin lỗi đối phương, làm lành. Sau Hoàng Dung còn “giúp” Mục Niệm Từ trong việc đẩy nàng ta vào vòng tay Dương Khang. Gọi là giúp Mục Niệm Từ, thực ra là để dập tắt nguy cơ đối với mình. Nếu Mục Niệm Từ quả thật có ý với Quách Tĩnh, không biết hậu quả sẽ ra sao ? Ví dụ thứ tư, là việc đối phó với chuyện Âu Dương Khắc cầu hôn nàng. Âu Dương Khắc vừa gặp nàng đã si mê, Hoàng Dung thì trước sau không hề xúc động, cảm thấy người này thật đáng ghét. Tại hoang đảo, Âu Dương Khắc định thừa cơ cưỡng bức nàng, tức là y tự đi vào tử lộ ; Hoàng Dung chỉ thi triển một kế nhỏ , đã khiến y suýt nữa bị chết, nếu Âu Dương Phong không đến kịp, chắc y đã bỏ mạng.

Những việc kể trên, hoặc có động cơ mà chưa làm, hoặc tuy đã làm song gây hậu quả tai hại, hoặc do đối phương nhân phẩm thấp kém phải tự chuốc lấy, không hề làm tổn hại đến hình tượng Hoàng Dung, ngược lại chỉ khắc hoạ sinh động thêm tính cách của nhân vật này. Độc giả chỉ thấy thiếu nữ này đáng yêu, đảo để hơn người, tác giả miêu tả hành vi, tâm tính của Hoàng Dung một cách có chừng mực, thành thử đôi điều không đáng yêu của nhân vật này được tác giả và độc giả hợp tác với nhau, vô tình hoặc cố ý che giấu đi.


CUỐI

Đáng chú ý là đọc đến bộ tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ, tính cách của Hoàng Dung lại thay đổi khiến người ta không thích. Trong đó biểu hiện chủ yếu là thái độ nghi ngờ, bài chiết quá đáng của nàng đối với Dương Quá, dẫn đến sự lạnh nhạt và khe khắt. Chúng ta thấy Hoàng Dung hầu như “trí tuệ vô hạn” trong Anh hùng xạ điêu, thì trong Thần điêu hiệp lữ lại xuất hiện giới hạn hạn chế trí tuệ của nàng, nàng buộc phải thú nhận không thể đoán biết tâm tư của Dương Quá, càng không thể tác động tới hành vi của cậu bé. Điều quan trọng hơn, giới hạn của trí tuệ thực ra lại xuất phát từ giới hạn về tính cách. Hoàng Dung cũng đành phải thừa nhận với Quách Tương (con gái nàng): “Ôi, nói về sự chân thành tin và biết người, ta thật thua xa cha con”. (Xem Thần điêu hiệp lữ). Điều lý thú là Hoàng Dung tuy rất giỏi suy xét, nhưng mỗi lần vào thời điểm quan trọng, nàng lại bất giác trở về thái độ ban đầu, nghi ngờ và bài chiết Dương Quá.

Có lẽ đó là do người cha của Dương Quá là Dương Khang để lại ấn tượng quá xấu trong tâm trí nàng, song đúng hơn phải nói là Hoàng Dung còn thiếu tấm lòng độ lượng nhân ái thật sự, nên không hề có chút tình thân thiết yêu quí đối với Dương Quá. Sự thay đổi tính cách của Hoàng Dung có thể khiến một số độc giả quen biết nàng nhất thời chưa lý giải được, khiến một số độc giả yêu nàng hết sức thất vọng, thậm chí phản đối mạnh. Thực ra, biểu hiện về sau của tính cách Hoàng Dung không những phá vỡ qui tắc thông thường vốn cho rằng tính cách của nhân vật chính trong tiểu thuyết võ hiệp sau khi định hình sẽ không thay đổi nữa, mà còn làm cho tính cách đó phong phú đầy đủ hơn, đáng tin hơn. Cùng với năm tháng, địa vị thay đổi, kinh nghiệm sống và sự chín muồi của tâm chí, tính cách của một con người phát triển, thay đổi là lẽ đương nhiên về lý và về thế. Sự thay đổi tính cách của Hoàng Dung khiến tôi bất giác nhớ đến nhân vật chính trong bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng, Giả Bảo Ngọc có nói đại ý: thiếu nữ chưa lấy chồng giống như viên ngọc, thiếu phụ đã có chồng giống như mắt cá, còn ngươi phụ nữ đã làm mẹ thì giống như mắt của con cá chết. Câu này dĩ nhiên không có ý nghĩa phổ biến, chỉ là sự thể nghiệm của Giả Bảo Ngọc, song cũng có cái lý của nó.

Sự thay đổi của Hoàng Dung rất hợp với câu nói trên : thiếu nữ Hoàng Dung trong Anh hùng xạ điêu tuyệt đối đáng yêu, nhưng sau khi lấy chồng và có con, thì thiếu phụ Hoàng Dung trong Thần điêu hiệp lữ không còn đơn thuần đáng yêu nữa. Chẳng nói đâu xa, chỉ riêng thái độ của nàng đốivới Quách Phù cũng chứng minh rõ điều đó. Hoàng Dung quá yêu và nuông chiều con gái, thậm chí không cho Quách Tĩnh được dạy con một cách bình thường và hữu hiệu, đã làm cho cô con gái rượu cuối cùng trở thành một thứ bị thịt thô bạo, ngu ngốc, vô tích sự. Hoàng Dung làm như thế tất nhiên xuất phát từ bản năng người mẹ, mà cái bản năng người mẹ ấy không chỉ hạn chế nghiêm trọng trí tuệ bẩm sinh của nàng, mà còn là sự tương phản sống động với thái độ của nàng đổi với Dương Quá. Cái tính tự tư tự lợi của nàng phát triển cùng với bản năng người mẹ. Trong Thần điêu hiệp lữ, thiếu nữ Hoàng Dung đã trở thành thiếu phụ Hoàng Dung; một Hoàng Dung tự do tự tại, buông thả đã trở thành một Hoàng Dung có thân phận cao quí, đoan trang, lo nghĩ chuyện được mất. Cùng với địa vị xã hội được đề cao, tâm tư, quan niệm và hành vi của nàng cũng thay đổi lúc nào không biết. Ví dụ khi nàng mới yêu Quách Tĩnh, các quan niệm luân lý đạo đức nàng đâu có coi ra gì?

Nhưng khi nàng đã trở thành phu nhân đại hiệp kiêm bang chủ Cái Bang, thì nàng lại can thiệp vào tình yêu của sư đồ Dương Quá và Tiểu Long Nữ. Về chuyện này, Hoàng Dược Sư từng nói trắng ra : “Hoàng Dung sau khi lấy được đức lang quân như ý, thì không còn nghĩ đến nỗi khổ tương tư của người khác. Đứa con gái rượu của lão phu bây giờ thì, hihi, ngoan phải biết, cứ gọi là ‘xuất giá tòng phu, tam tòng tứ đức’ đâu ra đấy !” (Xem Thần điêu hiệp lữ).Tôi hoàn toàn không định bới lông tìm vết đối với hình tượng nhân vật này, chỉ muốn nói rằng sự phát triển hoặc thay đổi tính cách kiểu này là chuyện thường tình ở con người. Một vài khiếm khuyết hoặc hạn chế tinh thần chỉ làm cho hình tượng Hoàng Dung từ trên trời trở về với cõi nhân gian phàm tục, trở nên gần gũi và đáng tin hơn. Tuy nói là sự nghi ngờ và khe khắt của nàng khiến Dương Quá phải đi đường vòng, phải chịu bao nỗi khổ sở, nhưng cuối cùng nàng kiên trì cùng chồng giữ thành Tương Dương, là có ơn lớn đối với dân tộc Hán ở Trung Nguyên, rồi nàng oanh liệt hi sinh, cho nên hình tượng nàng được kính yêu mãi mãi.
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

13.
MAI SIÊU PHONG
Xuất nhập tà môn


Nhìn cái đầu lâu luyện công của Trần Huyền Phong, Mai Siêu Phong, nghe ác danh Đồng Thi, Thiết Thi “Hắc Phong song sát”, lại thêm lời giới thiệu và bình luận vừa ghê sợ vừa căm hận của người đứng đầu Giang Nam thất quái Phi thiên biển bức Kha Trấn Ác, mọi người dĩ nhiên sẽ có định kiến, rằng vợ chồng Mai Siêu Phong là đại ma đầu cực kỳ tà ác, không thể dung tha. Thực ra, nữ nhân vốn tên là Mai Nhược Hoa, sau đổi thành Mai Siêu Phong, sau cùng bị gọi là Thiết Thi ma đầu này thoạt tiên khả ái, cuối cùng đáng thương, đoạn đường tà giữa chừng thì vô cùng bi ai.


1.

Nói Mai Siêu Phong thoạt tiên khả ái, dĩ nhiên không phải là chỉ lúc Mai Siêu Phong chính thức xuất hiện trong bộ tiểu thuyết, ở thảo nguyên Mông Cổ dùng đầu lâu người luyện công, mà là chỉ Mai Siêu Phong trước khi thành danh. Để nhắc nhở người đọc đừng vội cho rằng Thiết Thi “Hắc Phong song sát” không phải bẩm sinh là một nữ ma đầu, tác giả đặc biệt bố trí một đoạn tự bạch nội tâm của Mai Siêu Phong: ta vốn là một cô bé ngây thơ, suất ngày nô đùa, phụ mẫu yêu thương như bảo bối, lúc ấy tên ta là Mai Nhược Hoa. Bất hạnh phụ mẫu nối nhau qua đời, ta bị kẻ ác khinh khi chà đạp. Sư phụ Hoàng Dược Sư cứu ta, mang ra Đào Hoa đảo, dạy ta võ công, đổi tên ta thành Mai Siêu Phong ...” (Xem Anh hùng xạ điêu). Đoạn tự bạch nội tâm được bố trí ngay trước một trận đấu một mất một còn, không tránh khỏi không đúng chỗ, hơn nữa, lại kéo dài đến mấy trang liền, đầy chất “văn nghệ”, yếu tố “nhân tạo” quá rõ, nên không được coi là đoạn thành công. Song, đoạn tự bạch nội tâm ấy lại là tư liệu không thể thiếu để chúng ta biết Mai Siêu Phong là người như thế nào, hiểu được sự biến đổi tài tình quan niệm thiện ác của tác giả.

Căn cứ đoạn tự bạch ấy chúng ta biết vì sao Mai Nhược Hoa đổi tên thành Mai Siêu Phong (theo qui củ sư môn), rồi vì sao lại bị gọi là Thiết Thi ma đầu. Trần Huyền Phong và Mai Siêu Phong phản bội sư môn, lấy cắp bí kíp võ công, phải mang ác danh “Hắc Phong song sát”, nguyên nhân thứ nhất không phải là họ phát tác tính ác, mà là họ yêu nhau nồng nàn, ở Đào Hoa đảo đã lén lút trở thành vợ chồng, họ sợ sư phụ trừng phạt, nên mới nảy sinh ý định chạy trốn khỏi đảo,Trần Huyền Phong mới đánh cắp nửa bộ “Cửu âm chân kinh” của sư phụ. Cái đó gọi là “Không làm thì thôi, đã làm thì làm cho trót”, chỉ e cũng là lẽ thường tình. Có nghĩa là, giả sử giữa Trần Huyền Phong và Mai Siêu Phong không nảy sinh tình yêu nam nữ và ham muốn, thì dĩ nhiên họ sẽ không nghĩ đến chuyện trốn khỏi sư môn, dĩ nhiên sẽ không ăn cắp bí kíp võ công, dĩ nhiên sẽ không trở thành “Hắc Phong song sát”. Vấn đề là tình cảm và ham muốn giữa thanh niên nam nữ, vốn bắt nguồn từ bản năng của con người, tự nảy sinh không theo ý chí. Bảo là có tội, thì cũng giống như cái tội của Adam và Eva. Thuỷ tổ của loài người đã như thế, hơn nữa cũng chính nhờ đó mà loài người mới đông đúc như bây giờ, chúng ta nỡ nào đi trách phạt Huyền, Siêu nhị Phong bồng bột thanh xuân, yêu nhau giữa mùa hoa đào nở rộ?

Chỉ khác là Adam và Eva bị thượng đế đuổi khỏi vườn Eden, còn Huyền, Siêu nhị Phong thì tự trốn khỏi Đào Hoa đảo. Chúng ta hãy thử tưởng tượng, nếu Trần, Mai hai người không trốn chạy khỏi Đào Hoa đảo, mà bị Hoàng Dược Sư nghiêm khắc phát hiện họ tư tình với nhau, thì hậu quả sẽ ra sao? Câu trả lời là, hậu quả sẽ khó bề tưởng tượng. Trần, Mai hai người không lạ gì tính khí sư phụ, không phải tự dưng vô cớ họ lại lo sợ. Chứng cứ rõ nhất là sau khi họ bỏ trốn rồi, Hoàng Dược Sư lại đem mấy đệ tử Khúc, Lục, Vũ, Phùng hoàn toàn vô tội ra bẻ gãy hai chân, cắt gân, rồi đuổi khỏi sư môn. Kết luận rõ ràng là, nếu hai người không trốn chạy khỏi Đào Hoa đảo, họ sẽ bị trừng phạt tới mức điêu đứng, quá nửa là thà chết còn hơn phải sống, nhưng lại không được chết. Trần, Mai hai người lâm vào tình cảnh nguy hiểm, sư phụ thì thô bạo, thủ đoạn tàn nhẫn, thế là một mặt họ kinh sợ, bí quá hoá liều; mặt khác, tâm lý kinh sợ và hành vi liều lĩnh phạm tội, thực ra cứ luôn luôn cắn rứt họ, ức chế tinh thần họ. Hoàn cảnh bên ngoài đã không giúp họ giải trừ sự ức chế tinh thần ấy, thì họ tự nhiên phải tìm con đường tự giải thoát hoặc tự đột phá, mà con đường tự đột phá thường thường là “đã trót thì trét”, cứ thế dấn sâu vào con đường đen tối.


2.

Ngoài si mê tình yêu, Huyền, Siêu nhị Phong còn si mê võ công. Điều này lý giải cũng không khó. Họ đã muốn báo thù, muốn phòng thân, muốn xông pha giang hồ, muốn nổi danh, muốn có tương lai, thì phải luyện công cho giỏi. Huống hồ khi còn là môn hạ của Hoàng Dược Sư, họ đã được bồi dưỡng hứng thú cao độ đối với võ công. Cho nên khi chạy trốn vì tư tình khỏi Đào Hoa đảo, Trần Huyền Phong đã lấy cắp nửa bộ “Cửu âm chân kinh” quí giá của sư phụ. Điều này đương nhiên là họ đã sai còn sai thêm,chặn hết đường trở về của mình. Như đã nói, hành động”đã trót thì trét” này làm cho tội nghiệt của họ vô hìnhtrung sâu thêm một tầng. Điều quan trọng là nửa bộ bí kíp võ công tối cao này thực tế đã trở thành động lực thứ hai đẩy họ tiến tới vực sâu đen tối. Bộ “Cửu âm chân kinh” là do phu nhân Hoàng Dược Sư dựa vào trí nhớ siêu nhân chép lại, vốn không mười phần đầy đủ, mà Trần Huyền Phong lấy cắp chỉ là nửa sau của bộ kinh đó. Bộ kinh điển võ học Đạo gia này khác hẳn với vô số võ công của Hoàng Dược Sư.

Nửa đầu giảng lý lẽ, lập cơ sớ nhập môn luyện nội công; nửa sau là phương pháp vận dụng trong thực tiễn. Cho nên có được nửa bộ sau, vợ chồng Trần Huyền Phong bất quá chỉ mừng rỡ mà thôi, chứ luyện đi luyện lại vẫn không sao tiến triển được Thế là họ lặn lội trở lại Đào Hoa đảo, định đánh cắp nốt nửa đầu của bộ kinh; không ngờ phát hiện các sư đệ ly tán, sư mẫu đã chết. Họ xem trộm cuộc đại chiến kinh tâm động phách giữa Hoàng Dược Sư với Lão Ngoan đồng, được biết thế nào là võ công thật sự siêu quần, cảnh giới võ học mà vợ chồng họ không thể mơ tưởng, nhưng đã đến nước này, hối cũng chẳng kịp. Bất đắc dĩ, họ chỉ có thể trông cậy vào sự thông minh tài tử của mình, mò mẫm tiến lên, vừa học vừa luyện, hồ tư loạn tưởng, “phát minh” ra không ít chiêu thức mới, kết quả là diễn giải thứ võ học chính tông huyền môn của Đạo gia thành “Tồi tâm chưởng” và “Cửu âm bạch cốt trảo” rùng rợn.

Sau này, khi Lão Ngoan đồng hiếu sự lừa cho Quách Tĩnh học “Cửu âm chân kinh”, nghe Quách Tĩnh kể hồi trước thấy Mai Siêu Phong luyện công như thế nào, Lão Ngoan đồng lập tức hiểu ra bí ẩn bên trong: “Mai Siêu Phong không biết cách luyện công cho đúng, thấy quyển hạ viết “Nămngón tay phát kình, cứng mấy cũng chọc thủng, chụp vào đầu óc như xuyên vào đậu phụ”, Mai Siêu Phong lại không hiểu bốn chữ ‘chụp vào đầu óc’ trong kinh có nghĩa là tấn công vào chỗ yếu hại của kẻ địch, lại tưởng rằng dùng năm ngón tay chụp vào đầu người thật, nên lúc luyện công cứ theo đó mà làm. Yếu chỉ của bộ “Cửu âm chân kinh” này vốn là đường lối học theo tự nhiên của Đạo gia, xua quỷ trừ tà để dưỡng mệnh trường sinh, họ đi dạy người ta luyện tập thứ võ công hung ác tàn bạo như thế sao? Mụ ác bà Mai Siêu Phong quả thật hồ đồ? (Xem Anh hùng xạ điêu). Lúc đó chúng ta mới biết món “Cửu âm bạch cốt trảo mà vợ chồng Mai Siêu Phong rút ra từ “Cửu âm chân kinh” là một thứ vay mượn vừa hoang đường, vừa đáng sợ!

Nhưng số phận của Mai Siêu Phong chính là thế: có được bộ kinh điển võ lâm mà họ mơ ước, song lại chỉ có nửa bộ, không được ai chỉ dẫn, chỉ tự mày mò, dễ đi vào con đường sai lầm, càng lầm càng lún sâu, không thể rút ra được nữa. Chuyện vợ chồng Mai Siêu Phong luyện sai võ công, có nội hàm nhân văn phong phú, cũng có nhiều ý nghĩa tượng trưng. Họ luyện sai, vì, thứ nhất, không có nửa đầu của bộ kinh, chỉ mò mẫm; thứ hai, không có cao nhân chỉ dẫn, dễ sa vào chỗ sai lầm; thứ ba, vì họ vô tri vô thức, ngay học lý thô thiển nhất của Đạo gia họ cũng không hiểu. Cuối cùng, quan trọng nhất là nội tâm của họ đầy tà niệm, ảnh hưởng đến suy nghĩ võ học của họ. Song sự việc còn có một khía cạnh khác không thể coi thường, ấy là, nếu trong kinh văn không có câu “Năm ngón tay phát kình, cứng mấy cũng chọc thủng, chụp vào đầu óc như xuyên vào đậu phụ”, thì vợ chồng Mai Siêu Phong làm sao có thể tưởng tượng ra “Tồi tâm chưởng” và “Cửu âm bạch cốt trảo” là những tà chiêu vô cùng tàn bạo? Vợ chồng họ chỉ một lòng luyện tập võ công cao thâm, cứ ngỡ làm theo đúng chỉ dẫn của kinh văn, nghĩ ra tuyệt kỹ kỳ chiêu khắc địch chế thắng, do hạn chế của bản thân và ngoại cảnh, bất tri bất giác đi vào sai lầm.

Tuy nguyên nhân phạm tội của vợ chồng Mai Siêu Phong không thể qui kết toàn bộ cho kinh văn, nhưng nửa bộ kinh ấy về mặt khách quan rõ ràng đã đẩy họ tới chỗ sai lầm. Khỏi cần bàn sau khi luyện thành thứ võ công đó, họ gây bao nhiêu tội ác, chỉ riêng phương pháp luyện công đã là tội ác rồi; càng luyện thứ võ công đó, tâm lý của họ càng bị biến dạng, thậm chí có thể “phát minh” thêm các chiêu thức tàn bạo khác. Xưa có câu “văn tức là người”, đối với vợ chồng Trần Huyền Phong thì “Võ tức là người”, cho nên Trần Huyền Phong và Mai Siêu Phong đang tử tế dần dần biến thành chắc Phong song sát”.



CUỐI

Bắt đầu từ lúc luyện “Cửu âm bạch cốt trảo”, tội ác và bi kịch của vợ chồng Mai Siêu Phong đã khó bề thay đổi được nữa. Ác danh “Hắc Phong song sát” không phải tự dưng mà có; Lục Thừa Phong, người bị vạ lây, dẫn đầu nhân sĩ võ lâm tấn công “Hắc Phong song sát” cũng không phải tự dưng vô cớ. Vờ chồng Mai Siêu Phong đành phải chạy sang Mông Cổ, Trần Huyền Phong bị chàng thiếu niên Quách Tính giết, Mai Siêu Phong thì bị Giang Nam lục quái vây công, cuối cùng bị Kha Trấn Ác làm mù hai mắt; căn bản họ đều đáng bị trừng phạt. Anh trai của Kha Trấn Ác chính đã bị vợ chồng Mai Siêu Phong giết, bản thân Kha Trấn Ác cũng bị mù vì họ. Nhưng phán xét tội lỗi của vợ chồng Mai Siêu Phong như thế nào là một chuyện, còn lý giải và đánh giá hình tượng và nhân sinh của họ lại là một chuyện khác. Chí ít, chúng ta cũng cần thấy tình yêu sâu sắc, cảm động và thuỷ chung giữa hai tên ma đầu này. Họ gọi nhau là “Tặc hán tử” và “Tặc bà nương” vừa biểu hiện tình vợ chồng keo sơn, vừa là cách mắng yêu nhau, vừa là ghi nhận tội nghiệt ăn cắp kinh văn của mình. Càng quan trọng và bất ngờ, là Mai Siêu Phong tưởng độc ác vô tình, phản bội sư môn, kinh sơ sư phụ; nhưng trong đáy lòng vẫn ghi nhớ ân tình của sư phụ.

Tại Quy Vân trang Thái Hồ, khi nghe Cầu Thiên Trượng bịa chuyện ân sư bị giết, Mai Siêu Phong không chút do dự hẹn sư đệ Lục Thừa Phong báo thù cho sư phụ ; thế rồi khi được tin sư phụ vẫn còn sống, Mai Siêu Phong mới nghĩ đến tội trạng của mình, hai hàng lệ nóng rơi lã chã : “Ta còn mặt mũi nào đi gặp lão nhân gia ân sư ? Ân sư đã thương ta cô khổ, nuôi ta dạy ta, ta lại có dã tâm, phản bội sư môn ...” Mai Siêu Phong đã định sau khi trả thù cho chồng, sẽ tự kết liễu”. (Xem Anh hùng xạ điêu). Mai Siêu Phong không chỉ nghĩ thế, mà cuối cùng đã làm đúng như thế: khi Âu Dương Phong thừa cơ Hoàng Dược Sư đang mải đối phó chính diện với Toàn Chân thất tử, đột nhiên đánh lén sau lưng Hoàng Dược Sư, Hoàng Dược Sư chỉ biết phen này chắc chết, không ngờ vào sát-na cuối cùng, Mai Siêu Phong đã lấy thân mình chắn đỡ đòn sấm sét của Âu Dương Phong, cứu sống sư phụ, còn mình hi sinh. Lúc lâm chung, còn căn cứ yêu cầu trước kia của sư phụ, tự đánh gãy cổ tay mình, biểu thị hối lỗi; được Hoàng Dược Sư bằng lòng cho trở lại sư môn, Mai Siêu Phong cố bò dậy làm lễ bái sư, thành hình ảnh cuối cùng của mình trên đời. Giả sử dựa vào tư thế của Mai Siêu Phong khi đó mà nặn một bức tượng, sẽ không ai bảo đấy là một nữ ma đầu điên cuồng, mà sẽ bảo đấy là một thiếu phụ mù loà từng xuất nhập tà môn, từng tạo nghiệt đa đoan, từng nếm trải đau khổ, đáng sợ, đáng ghét, song cũng rất đáng thương.
15.00
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 78 trang (774 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [71] [72] [73] [74] [75] [76] [77] ... ›Trang sau »Trang cuối