Trang trong tổng số 72 trang (719 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [69] [70] [71] [72]

Ảnh đại diện

Poet Hansy

Chu Chỉ Nhược
Bi kịch của tham vọng trong tình yêu


Bốn cô nương bên cạnh Trương Vô Kỵ, hai cô nương Hán tộc, hai cô nương dị tộc, vừa hay hợp thành cặp so sánh, kết quả là cô nương Hán tộc không đáng yêu bằng cô nương dị tộc. Cô nương Hán tộc Ân Ly không đáng yêu bằng cô nương dị tộc lai Ba Tư với Cao Li Tiểu Chiêu. Cô nương Hán tộc Chu Chỉ Nhược rõ ràng không đáng yêu bằng cô nương Mông Cổ Triệu Mẫn. Nếu không, Trương Vô Kỵ đã chẳng bỏ dở hôn lễ với Chu Chỉ Nhược mà đi theo Triệu Mẫn, cuối cùng còn nói thẳng với Chu Chỉ Nhược rằng Triệu Mẫn mới là người chàng yêu nhất. Có điều nếu chọn đối tượng bàn luận, thì hai cô nương Hán tộc tâm lý vô cùng phức tạp sẽ có nhiều điều để nói hơn hẳn hai cô nương dị tộc tương đối đơn giản. Có thể là do Kim Dung tiên sinh hiểu rõ về cô nương Hán tộc, nên miêu tả phong phú hơn; cũng có thể do bản thân hai cô nương Hán tộc khổ lắm buồn nhiều, tâm tư rắc rối đa biến, nên hàm chứa thông tin văn hoá phong phú hơn. Ở đây chỉ bàn về Chu Chỉ Nhược. Và cũng chỉ bàn về tâm lý cá tính, chứ không nghiên cứu tính cách dân tộc gì cả. Lý do rất đơn giản, tính cách cá nhân với tính cách dân tộc là hai cái khác nhau. Không phải cô gái Mông Cổ nào cũng giống Triệu Mẫn, tương tự các cô gái Hán tộc khác cũng không giống như Chu Chỉ Nhược.

Đối với Chu Chỉ Nhược, chắc chắn có hai ấn tượng và cách đánh giá trái ngược nhau, một là yêu thích nàng, đương nhiên cũng thông cảm với nhiều cái bất đắc dĩ của nàng; hai là không thích nàng, không tha thứ cho nhiều hành động của nàng, nhất là cách nàng đối xử với Trương Vô Kỵ. Hay nhất là hãy gác sang một bên ấn tượng và cách đánh giá chủ quan, xem cái nào ở Chu Chỉ Nhược là bất đắc dĩ, cái nào là không thể tha thứ. Chu Chỉ Nhược là cô nương cùng lứa mà Trương Vô Kỵ gặp lần đầu tiên trong đời, tuy không thể coi là bạn thanh mai trúc mã, nhưng cũng quen biết nhau từ niên thiếu. Lần đầu tiên hai người gặp nhau trong thuyền trên sông Hán Thuỷ, khi ấy Chu Chỉ Nhược chừng mười tuổi, song đã để lại ấn tượng sâu sắc. Cụ thể, thứ nhất, là một cô bé hết sức xinh xắn, thứ hai, là một cô bé mồ côi vô cùng đáng thương, thứ ba, là một cô bé rất am hiểu, cha nàng vừa mất, đang rất đau đớn, nhưng thấy Trương Vô Kỵ bị nguy đến tính mệnh, thì lại chủ động săn sóc, bón cơm cho ăn. Khi Trương Vô Kỵ không chịu ăn, nàng nói : “Tiểu tướng công không chịu ăn, lão đạo trưởng sẽ buồn lòng, cũng bỏ cơm, chẳng hoá ra để người bị đói hay sao?” (Xem Ý thiên Đồ long ký). Một cô bé đã hiểu sự lý như thế, chủ động nghĩ thay người khác, không thể không khiến người ta có cảm tình. Đến khi Chu Chỉ Nhược xuất hiện lần thứ hai trong đời Trương Vô Kỵ, thì đã là nhiều năm sau, cả hai đều thành người lớn. Trương Vô Kỵ đã luyện xong Cửu dương thần công lại bị gãy chân; Chu Chỉ Nhược thì trở thành một đệ tử xuất sắc phái Nga Mi; Đinh Mẫn Quân bị đòn của Ân Ly, dẫn Chu Chỉ Nhược đến đánh lại. Trương Vô Kỵ thấy Chu Chỉ Nhược càng xinh đẹp hơn năm nào, nhã nhặn giữ lễ, đồng thời lòng dạ lương thiện. Ân Ly phát hiện ra sự lợi hại của Chu Chỉ Nhược : “Không nói võ công của nàng ta, mà nói nàng còn nhỏ tuổi, tâm địa đã khôn ngoan như thế”. (Xem Y thiên Đồ long ký). Ta đoán rằng Chu Chỉ Nhược biết sư tỷ Đinh Mẫn Quân là người như thế nào, không dám đắc tội với sư tỷ, song cũng không muốn tuỳ tiện đả thương người vô tội, cho nên sau khi đấu hơn hai chục chiêu với Ân Ly, Chu Chỉ Nhược bèn giả vờ bị trọng thương, để Đinh Mẫn Quân dìu đi, khôn khéo biến một trận đánh sinh tử thành vô hình. Lúc ấy tinh ý một chút, sẽ thấy Chu Chỉ Nhược vốn khôn ngoan lanh lợi, nay thêm công phu biểu diễn giả bộ đã gần đạt tới mức lô hoả thuần thanh. Do đó chúng ta không thể coi thường Chu Chỉ Nhược. Công phu biểu diễn cao siêu của Chu Chỉ Nhược trên đỉnh Quang Minh sau đó càng khiến chúng ta kính nể. Trương Vô Kỵ hoá giải tranh chấp, đấu với cao thủ các đại môn phái, do không thông Dịch lý, nên gặp Lưỡng Nghi kiếm pháp của phái Côn Luân và Lưỡng Nghi đao pháp của phái phái Hoa Sơn thì chân tay luống cuống. Chu Chỉ Nhược thấy thế, trong bụng rất lo, vừa vặn Diệt Tuyệt sư thái đang thuyết pháp tại chỗ, nàng liền tương kế tựu kế, mượn việc thỉnh giáo sư phụ để giảng giải cho Trương Vô Kỵ nghe thường thức, dịch lý mà chỉ điểm cho chàng. Tuy giọng nói của nàng càng lúc càng to, song những người có mặt tại hiện trường không ai nghi ngờ , cứ tưởng nàng chỉ là một cô bé hồn nhiên, ấu trĩ mà thôi. Nếu không phải là tài biểu diễn xuất chúng siêu quần, làm sao có thể che mắt được anh hùng thiên hạ ? Tài biểu diễn của Chu Chỉ Nhược thể hiện hay nhất dĩ nhiên là trên hoang đảo. Sau khi vâng lệnh Tạ Tốn làm lễ đính hôn với Trương Vô Kỵ, Chu Chỉ Nhược nói với chàng : “Thiếp chỉ là đứa con gái vô dụng, yếu đuối, lại ngu xuẩn. Đừng nói gì thiếp thua xa Triệu cô nương thông minh tuyệt đỉnh, mà ngay so với người có tâm cơ sâu sắc như Tiểu Chiêu, thiếp cũng chẳng bằng cái móng tay nàng ta. Chỉ Nhược của chàng chỉ là một con bé khờ khạo, thật thà, chẳng lẽ đến giờ chàng cũng chưa biết hay sao?” (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Tưởng tượng tình hình lúc ấy, đừng nói Trương Vô Kỵ thật thà trung hậu bị lừa đã đành, chắc rằng quá nửa nam tử thiên hạ nghe lời nói “chân tình” ấy cũng đều bị lừa hết. Rất lâu sau chúng ta mới biết trước khi nói mấy câu ấy, nàng Chu Chỉ Nhược “thật thà hiền thục” ấy đã đánh thuốc mê cả nhóm người cùng đi, mưu giết Ân Ly, đuổi Triệu Mẫn, lấy cắp thanh đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên, bắt đầu luyện tập công phu “Cửu âm chân kinh” giấu trong đao kiếm; Trương Vô Kỵ đã như con chim trong lồng của nàng ta! Vậy mà Chu Chỉ Nhược vẫn nằm trong lòng Trương Vô Kỵ thỏ thẻ những lời đáng thương, khiêm nhường, trung thành như thế! Tiếp đó, ở lữ quán tại Đại Đô, ta thấy cảnh Chu Chỉ Nhược biểu diễn trò treo cổ tự sát thương tâm đối với Hàn Lâm Nhi, người coi Chu Chỉ Nhược như thiên thần, thì sẽ không cảm thấy quá kinh ngạc nữa. Sở dĩ bảo cuộc tự sát ấy đơn thuần là một cuộc biểu diễn, là vì trước khi treo cổ, Chu Chỉ Nhược đã sang phòng Hàn Lâm Nhi, ngồi rất lâu ở đó không nói một lời, khiến Hàn Lâm Nhi không biết đằng nào mà lần, rồi mới trở về phòng mình động thủ, Hàn Lâm Nhi há có thể không quan tâm để ý đến động tĩnh trong phòng nàng? (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Thực ra, nàng ngồi đó chờ đến khi Trương Vô Kỵ sắp về tới mới hành động. Hơn nữa, phải đánh động cho Hàn Lâm Nhi chú ý đã, rồi mới biểu diễn việc treo cổ tự sát, để Hàn Lâm Nhi kịp thời cứu chữa, trước lúc Trương Vô Kỵ về tới. Nhiều người rất giỏi biểu diễn “sống”, người Trung quốc càng có sở trường về mặt này, song cũng phải tôn Chu Chỉ Nhược là quán quân biểu diễn. Điều này dĩ nhiên có liên quan đến văn hoá truyền thống, đến thiên tư tài phú, đồng thời cũng liên quan đến hoàn cảnh sống và vốn sống của mỗi cá nhân. Chu Chỉ Nhược thông minh dĩnh ngộ hơn người từ nhỏ, đương nhiên cũng có tài biểu diễn khôn khéo từ nhỏ. Chúng ta không nói rằng ngay trên sông Hán Thuỷ, cô bé Chu Chỉ Nhược bón cơm cho Trương Vô Kỵ cốt để lấy lòng Trương Tam Phong, nhưng cảnh ngộ bất hạnh từ bé đã mồ côi cha mẹ, hiển nhiên càng khiến cô bé trở nên khôn khéo biết lấy lòng người. Mà người Hán trên đời thì rất thích những đứa bé khôn khéo. Muốn cuộc sống sung sướng, phải tìm cách làm cho người ta thích mình, muốn được người ta thích mình, thì phải biết biểu diễn sự khôn khéo của mình. Chu Chỉ Nhược tựa hồ hiểu điều đó từ rất sớm. Đương nhiên cũng có thể nói rằng cuộc sống đã rèn luyện dần cho Chu Chỉ Nhược cái tài biểu diễn đó. Nếu không, làm sao mới nhập môn chưa lâu, Chu Chỉ Nhược đã nhanh chóng giành được cảm tình của Diệt Tuyệt sư thái, được bà ta truyền thụ nguyên lý Kinh Dịch?

Chu Chỉ Nhược thông minh lanh lợi, giỏi biểu diễn, chuyện đó là hiển nhiên, có điều không nên phán xét đạo đức một cách giản đơn, bảo nàng hoàn toàn giả dối, thậm chí từ bé đã giỏi lừa người. Cần thấy rằng trong cuộc sống và biểu diễn của Chu Chỉ Nhược, có nhiều cái bất đắc dĩ nàng phải làm thế, có lúc trong thật có giả, lắm khi trong giả có thật. Nói trong cuộc sống của Chu Chỉ Nhược có nhiều cái bất đắc dĩ, bởi vì cuộc sống không phải lúc nào cũng như ý, ngược lại phải thuận theo trào lưu, thích nghi với hoàn cảnh, lắm khi việc muốn làm không được làm, việc không muốn làm vẫn cứ phải làm. Mà cái chuyện làm hay không làm, thì đều là vì phải “làm người”, nghĩa là phải phù hợp một truyền thống văn hoá, phong tục tập quán, hoàn cảnh xã hội và quan niệm giá trị nhất định. Ví dụ, Trương Vô Kỵ thỉnh cầu Diệt Tuyệt sư thái đừng lạm sát giáo chúng Nhuệ kim kỳ của Minh giáo, chàng liều mạng chịu đựng ba chưởng của Diệt Tuyệt sư thái, kết quả bị đánh gục xuống, không bò dậy nổi. Thù Nhi (Ân Ly) cầu khẩn Chu Chỉ Nhược tới xem Trương Vô Kỵ bị thương ra sao và hãy khuyên chàng đừng có làm anh hùng mà chết mất mạng, Chu Chỉ Nhược “vốn cũng định tới xem chàng bị thương thế nào, nhưng trước hàng trăm con mắt chăm chú dồn vào đó, một thiếu nữ mười tám mười chín tuổi làm sao dám xem thương thế của một chàng trai? Huống hồ người đánh chàng bị thương lại chính là sư phụ của nàng, nếu nàng tới xem, tuy chưa phải là công khai phản bội sư môn, song cũng là đại bất kính với sư phụ, cho nên đã dợm bước, nàng lại thôi”. (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Còn việc nàng không muốn làm, nhưng không thể không làm, ví dụ tiêu biểu là trên đỉnh Quang Minh, Chu Chỉ Nhược phải vâng lệnh Diệt Tuyệt sư thái, dùng kiếm Ỷ Thiên đâm Trương Vô Kỵ, chút nữa thì làm cho Trương Vô Kỵ mất mạng. Chúng ta tin rằng việc đó hoàn toàn trái với ý muốn của Chu Chỉ Nhược, song quả thực nàng không dám trái lệnh sư phụ, trong lúc bị thúc giục, không kịp suy nghĩ, lúc đó tay run run, nên mũi kiếm chệch đi, không trúng vào tim Trương Vô Kỵ. Dĩ nhiên, chúng ta có thể giả sử rằng nếu đó là Triều Mẫn hoặc Ân Ly, thì họ thà chết chứ không đời nào đâm người yêu của mình như vậy. Huống hồ trước lúc đó Trương Vô Kỵ rõ ràng hết sức bênh vực Chu Chỉ Nhược, rồi còn trao kiếm vào tay nàng để nàng trả lại cho sư phụ. Hơn nữa, nếu bảo Chu Chỉ Nhược căn bản không kịp suy nghĩ, thì không đúng, bởi vì trước đó trong giây lát nàng đã chuyển qua bao nhiêu ý nghĩ : “Cục diện hôm nay tuy thật là đáng xấu hổ, Trương công tử đãi ta như thế, sư phụ thể nào chẳng cho là ta có tình ý với chàng, từ nay ta sẽ là phản đồ của phái Nga My, thành một kẻ phản bội vô sỉ trong võ lâm. Trời đất mênh mang, ta biết đi đâu dung thân bây giờ ? Trương công từ đãi ta tốt như thế, song ta quyết không thể vì chàng mà phản bội sư môn”. (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Rõ ràng hành vi của Chu Chỉ Nhược trước hết là nghĩ đến mình, dùng hành động của mình để chứng minh giữa nàng và Trương Vô Kỵ hoàn toàn không có tư tình. Vào thời khắc sống chết hệ trọng này, không phải là lúc biểu diễn, Chu Chỉ Nhược đành cắn răng đâm Trương Vô Kỵ một kiếm, khiến chàng cũng phải bất ngờ. Ví dụ càng điển hình hơn, ấy là ở chùa Vạn An thành Đại Đô. Diệt Tuyệt sư thái trước lúc quyết định tự sát, để cho Chu Chỉ Nhược thay bà tiếp nhiệm chức chưởng môn phái Nga My, bắt nàng phải thề độc, nhất định phải lợi dụng sắc đẹp của mình và thiện cảm của Trương Vô Kỵ đối với nàng, tìm cách đoạt lấy thanh đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên, tuyệt đối không được có chân tình đối với Trương Vô Kỵ, càng không được kết làm vợ chồng. Diệt Tuyệt sư thái làm cho Chu Chỉ Nhược nhất thời không biết nên làm thế nào, “thần trí bấn loạn, nàng lập tức mụ người đi, không còn biết gì nữa”. (Xem Ỷ thiên đồ long ký). Chu Chỉ Nhược cảm thấy khó khăn, song không thể không đáp ứng, cũng là thật tình. Chu Chỉ Nhược dầu sao cũng còn là một thiếu nữ, làm sao có thể đứng vững trước Diệt Tuyệt sư thái vừa cứng vừa mềm? Sau đó trên hoang đảo, Chu Chỉ Nhược biểu diễn trò lừa dối Trương Vô Kỵ, rõ ràng có liên quan đến sứ mệnh của nàng ta, đến mệnh lệnh của sư phụ nàng và lời thề do bị ép buộc của nàng.
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Chu Chỉ Nhược
Bi kịch của tham vọng trong tình yêu


Bốn cô nương bên cạnh Trương Vô Kỵ, hai cô nương Hán tộc, hai cô nương dị tộc, vừa hay hợp thành cặp so sánh, kết quả là cô nương Hán tộc không đáng yêu bằng cô nương dị tộc. Cô nương Hán tộc Ân Ly không đáng yêu bằng cô nương dị tộc lai Ba Tư với Cao Li Tiểu Chiêu. Cô nương Hán tộc Chu Chỉ Nhược rõ ràng không đáng yêu bằng cô nương Mông Cổ Triệu Mẫn. Nếu không, Trương Vô Kỵ đã chẳng bỏ dở hôn lễ với Chu Chỉ Nhược mà đi theo Triệu Mẫn, cuối cùng còn nói thẳng với Chu Chỉ Nhược rằng Triệu Mẫn mới là người chàng yêu nhất. Có điều nếu chọn đối tượng bàn luận, thì hai cô nương Hán tộc tâm lý vô cùng phức tạp sẽ có nhiều điều để nói hơn hẳn hai cô nương dị tộc tương đối đơn giản. Có thể là do Kim Dung tiên sinh hiểu rõ về cô nương Hán tộc, nên miêu tả phong phú hơn; cũng có thể do bản thân hai cô nương Hán tộc khổ lắm buồn nhiều, tâm tư rắc rối đa biến, nên hàm chứa thông tin văn hoá phong phú hơn. Ở đây chỉ bàn về Chu Chỉ Nhược. Và cũng chỉ bàn về tâm lý cá tính, chứ không nghiên cứu tính cách dân tộc gì cả. Lý do rất đơn giản, tính cách cá nhân với tính cách dân tộc là hai cái khác nhau. Không phải cô gái Mông Cổ nào cũng giống Triệu Mẫn, tương tự các cô gái Hán tộc khác cũng không giống như Chu Chỉ Nhược.

Đối với Chu Chỉ Nhược, chắc chắn có hai ấn tượng và cách đánh giá trái ngược nhau, một là yêu thích nàng, đương nhiên cũng thông cảm với nhiều cái bất đắc dĩ của nàng; hai là không thích nàng, không tha thứ cho nhiều hành động của nàng, nhất là cách nàng đối xử với Trương Vô Kỵ. Hay nhất là hãy gác sang một bên ấn tượng và cách đánh giá chủ quan, xem cái nào ở Chu Chỉ Nhược là bất đắc dĩ, cái nào là không thể tha thứ. Chu Chỉ Nhược là cô nương cùng lứa mà Trương Vô Kỵ gặp lần đầu tiên trong đời, tuy không thể coi là bạn thanh mai trúc mã, nhưng cũng quen biết nhau từ niên thiếu. Lần đầu tiên hai người gặp nhau trong thuyền trên sông Hán Thuỷ, khi ấy Chu Chỉ Nhược chừng mười tuổi, song đã để lại ấn tượng sâu sắc. Cụ thể, thứ nhất, là một cô bé hết sức xinh xắn, thứ hai, là một cô bé mồ côi vô cùng đáng thương, thứ ba, là một cô bé rất am hiểu, cha nàng vừa mất, đang rất đau đớn, nhưng thấy Trương Vô Kỵ bị nguy đến tính mệnh, thì lại chủ động săn sóc, bón cơm cho ăn. Khi Trương Vô Kỵ không chịu ăn, nàng nói : “Tiểu tướng công không chịu ăn, lão đạo trưởng sẽ buồn lòng, cũng bỏ cơm, chẳng hoá ra để người bị đói hay sao?” (Xem Ý thiên Đồ long ký). Một cô bé đã hiểu sự lý như thế, chủ động nghĩ thay người khác, không thể không khiến người ta có cảm tình. Đến khi Chu Chỉ Nhược xuất hiện lần thứ hai trong đời Trương Vô Kỵ, thì đã là nhiều năm sau, cả hai đều thành người lớn. Trương Vô Kỵ đã luyện xong Cửu dương thần công lại bị gãy chân; Chu Chỉ Nhược thì trở thành một đệ tử xuất sắc phái Nga Mi; Đinh Mẫn Quân bị đòn của Ân Ly, dẫn Chu Chỉ Nhược đến đánh lại. Trương Vô Kỵ thấy Chu Chỉ Nhược càng xinh đẹp hơn năm nào, nhã nhặn giữ lễ, đồng thời lòng dạ lương thiện. Ân Ly phát hiện ra sự lợi hại của Chu Chỉ Nhược : “Không nói võ công của nàng ta, mà nói nàng còn nhỏ tuổi, tâm địa đã khôn ngoan như thế”. (Xem Y thiên Đồ long ký). Ta đoán rằng Chu Chỉ Nhược biết sư tỷ Đinh Mẫn Quân là người như thế nào, không dám đắc tội với sư tỷ, song cũng không muốn tuỳ tiện đả thương người vô tội, cho nên sau khi đấu hơn hai chục chiêu với Ân Ly, Chu Chỉ Nhược bèn giả vờ bị trọng thương, để Đinh Mẫn Quân dìu đi, khôn khéo biến một trận đánh sinh tử thành vô hình. Lúc ấy tinh ý một chút, sẽ thấy Chu Chỉ Nhược vốn khôn ngoan lanh lợi, nay thêm công phu biểu diễn giả bộ đã gần đạt tới mức lô hoả thuần thanh. Do đó chúng ta không thể coi thường Chu Chỉ Nhược. Công phu biểu diễn cao siêu của Chu Chỉ Nhược trên đỉnh Quang Minh sau đó càng khiến chúng ta kính nể. Trương Vô Kỵ hoá giải tranh chấp, đấu với cao thủ các đại môn phái, do không thông Dịch lý, nên gặp Lưỡng Nghi kiếm pháp của phái Côn Luân và Lưỡng Nghi đao pháp của phái phái Hoa Sơn thì chân tay luống cuống. Chu Chỉ Nhược thấy thế, trong bụng rất lo, vừa vặn Diệt Tuyệt sư thái đang thuyết pháp tại chỗ, nàng liền tương kế tựu kế, mượn việc thỉnh giáo sư phụ để giảng giải cho Trương Vô Kỵ nghe thường thức, dịch lý mà chỉ điểm cho chàng. Tuy giọng nói của nàng càng lúc càng to, song những người có mặt tại hiện trường không ai nghi ngờ , cứ tưởng nàng chỉ là một cô bé hồn nhiên, ấu trĩ mà thôi. Nếu không phải là tài biểu diễn xuất chúng siêu quần, làm sao có thể che mắt được anh hùng thiên hạ ? Tài biểu diễn của Chu Chỉ Nhược thể hiện hay nhất dĩ nhiên là trên hoang đảo. Sau khi vâng lệnh Tạ Tốn làm lễ đính hôn với Trương Vô Kỵ, Chu Chỉ Nhược nói với chàng : “Thiếp chỉ là đứa con gái vô dụng, yếu đuối, lại ngu xuẩn. Đừng nói gì thiếp thua xa Triệu cô nương thông minh tuyệt đỉnh, mà ngay so với người có tâm cơ sâu sắc như Tiểu Chiêu, thiếp cũng chẳng bằng cái móng tay nàng ta. Chỉ Nhược của chàng chỉ là một con bé khờ khạo, thật thà, chẳng lẽ đến giờ chàng cũng chưa biết hay sao?” (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Tưởng tượng tình hình lúc ấy, đừng nói Trương Vô Kỵ thật thà trung hậu bị lừa đã đành, chắc rằng quá nửa nam tử thiên hạ nghe lời nói “chân tình” ấy cũng đều bị lừa hết. Rất lâu sau chúng ta mới biết trước khi nói mấy câu ấy, nàng Chu Chỉ Nhược “thật thà hiền thục” ấy đã đánh thuốc mê cả nhóm người cùng đi, mưu giết Ân Ly, đuổi Triệu Mẫn, lấy cắp thanh đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên, bắt đầu luyện tập công phu “Cửu âm chân kinh” giấu trong đao kiếm; Trương Vô Kỵ đã như con chim trong lồng của nàng ta! Vậy mà Chu Chỉ Nhược vẫn nằm trong lòng Trương Vô Kỵ thỏ thẻ những lời đáng thương, khiêm nhường, trung thành như thế! Tiếp đó, ở lữ quán tại Đại Đô, ta thấy cảnh Chu Chỉ Nhược biểu diễn trò treo cổ tự sát thương tâm đối với Hàn Lâm Nhi, người coi Chu Chỉ Nhược như thiên thần, thì sẽ không cảm thấy quá kinh ngạc nữa. Sở dĩ bảo cuộc tự sát ấy đơn thuần là một cuộc biểu diễn, là vì trước khi treo cổ, Chu Chỉ Nhược đã sang phòng Hàn Lâm Nhi, ngồi rất lâu ở đó không nói một lời, khiến Hàn Lâm Nhi không biết đằng nào mà lần, rồi mới trở về phòng mình động thủ, Hàn Lâm Nhi há có thể không quan tâm để ý đến động tĩnh trong phòng nàng? (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Thực ra, nàng ngồi đó chờ đến khi Trương Vô Kỵ sắp về tới mới hành động. Hơn nữa, phải đánh động cho Hàn Lâm Nhi chú ý đã, rồi mới biểu diễn việc treo cổ tự sát, để Hàn Lâm Nhi kịp thời cứu chữa, trước lúc Trương Vô Kỵ về tới. Nhiều người rất giỏi biểu diễn “sống”, người Trung quốc càng có sở trường về mặt này, song cũng phải tôn Chu Chỉ Nhược là quán quân biểu diễn. Điều này dĩ nhiên có liên quan đến văn hoá truyền thống, đến thiên tư tài phú, đồng thời cũng liên quan đến hoàn cảnh sống và vốn sống của mỗi cá nhân. Chu Chỉ Nhược thông minh dĩnh ngộ hơn người từ nhỏ, đương nhiên cũng có tài biểu diễn khôn khéo từ nhỏ. Chúng ta không nói rằng ngay trên sông Hán Thuỷ, cô bé Chu Chỉ Nhược bón cơm cho Trương Vô Kỵ cốt để lấy lòng Trương Tam Phong, nhưng cảnh ngộ bất hạnh từ bé đã mồ côi cha mẹ, hiển nhiên càng khiến cô bé trở nên khôn khéo biết lấy lòng người. Mà người Hán trên đời thì rất thích những đứa bé khôn khéo. Muốn cuộc sống sung sướng, phải tìm cách làm cho người ta thích mình, muốn được người ta thích mình, thì phải biết biểu diễn sự khôn khéo của mình. Chu Chỉ Nhược tựa hồ hiểu điều đó từ rất sớm. Đương nhiên cũng có thể nói rằng cuộc sống đã rèn luyện dần cho Chu Chỉ Nhược cái tài biểu diễn đó. Nếu không, làm sao mới nhập môn chưa lâu, Chu Chỉ Nhược đã nhanh chóng giành được cảm tình của Diệt Tuyệt sư thái, được bà ta truyền thụ nguyên lý Kinh Dịch?

Chu Chỉ Nhược thông minh lanh lợi, giỏi biểu diễn, chuyện đó là hiển nhiên, có điều không nên phán xét đạo đức một cách giản đơn, bảo nàng hoàn toàn giả dối, thậm chí từ bé đã giỏi lừa người. Cần thấy rằng trong cuộc sống và biểu diễn của Chu Chỉ Nhược, có nhiều cái bất đắc dĩ nàng phải làm thế, có lúc trong thật có giả, lắm khi trong giả có thật. Nói trong cuộc sống của Chu Chỉ Nhược có nhiều cái bất đắc dĩ, bởi vì cuộc sống không phải lúc nào cũng như ý, ngược lại phải thuận theo trào lưu, thích nghi với hoàn cảnh, lắm khi việc muốn làm không được làm, việc không muốn làm vẫn cứ phải làm. Mà cái chuyện làm hay không làm, thì đều là vì phải “làm người”, nghĩa là phải phù hợp một truyền thống văn hoá, phong tục tập quán, hoàn cảnh xã hội và quan niệm giá trị nhất định. Ví dụ, Trương Vô Kỵ thỉnh cầu Diệt Tuyệt sư thái đừng lạm sát giáo chúng Nhuệ kim kỳ của Minh giáo, chàng liều mạng chịu đựng ba chưởng của Diệt Tuyệt sư thái, kết quả bị đánh gục xuống, không bò dậy nổi. Thù Nhi (Ân Ly) cầu khẩn Chu Chỉ Nhược tới xem Trương Vô Kỵ bị thương ra sao và hãy khuyên chàng đừng có làm anh hùng mà chết mất mạng, Chu Chỉ Nhược “vốn cũng định tới xem chàng bị thương thế nào, nhưng trước hàng trăm con mắt chăm chú dồn vào đó, một thiếu nữ mười tám mười chín tuổi làm sao dám xem thương thế của một chàng trai? Huống hồ người đánh chàng bị thương lại chính là sư phụ của nàng, nếu nàng tới xem, tuy chưa phải là công khai phản bội sư môn, song cũng là đại bất kính với sư phụ, cho nên đã dợm bước, nàng lại thôi”. (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Còn việc nàng không muốn làm, nhưng không thể không làm, ví dụ tiêu biểu là trên đỉnh Quang Minh, Chu Chỉ Nhược phải vâng lệnh Diệt Tuyệt sư thái, dùng kiếm Ỷ Thiên đâm Trương Vô Kỵ, chút nữa thì làm cho Trương Vô Kỵ mất mạng. Chúng ta tin rằng việc đó hoàn toàn trái với ý muốn của Chu Chỉ Nhược, song quả thực nàng không dám trái lệnh sư phụ, trong lúc bị thúc giục, không kịp suy nghĩ, lúc đó tay run run, nên mũi kiếm chệch đi, không trúng vào tim Trương Vô Kỵ. Dĩ nhiên, chúng ta có thể giả sử rằng nếu đó là Triều Mẫn hoặc Ân Ly, thì họ thà chết chứ không đời nào đâm người yêu của mình như vậy. Huống hồ trước lúc đó Trương Vô Kỵ rõ ràng hết sức bênh vực Chu Chỉ Nhược, rồi còn trao kiếm vào tay nàng để nàng trả lại cho sư phụ. Hơn nữa, nếu bảo Chu Chỉ Nhược căn bản không kịp suy nghĩ, thì không đúng, bởi vì trước đó trong giây lát nàng đã chuyển qua bao nhiêu ý nghĩ : “Cục diện hôm nay tuy thật là đáng xấu hổ, Trương công tử đãi ta như thế, sư phụ thể nào chẳng cho là ta có tình ý với chàng, từ nay ta sẽ là phản đồ của phái Nga My, thành một kẻ phản bội vô sỉ trong võ lâm. Trời đất mênh mang, ta biết đi đâu dung thân bây giờ ? Trương công từ đãi ta tốt như thế, song ta quyết không thể vì chàng mà phản bội sư môn”. (Xem Ỷ thiên Đồ long ký). Rõ ràng hành vi của Chu Chỉ Nhược trước hết là nghĩ đến mình, dùng hành động của mình để chứng minh giữa nàng và Trương Vô Kỵ hoàn toàn không có tư tình. Vào thời khắc sống chết hệ trọng này, không phải là lúc biểu diễn, Chu Chỉ Nhược đành cắn răng đâm Trương Vô Kỵ một kiếm, khiến chàng cũng phải bất ngờ. Ví dụ càng điển hình hơn, ấy là ở chùa Vạn An thành Đại Đô. Diệt Tuyệt sư thái trước lúc quyết định tự sát, để cho Chu Chỉ Nhược thay bà tiếp nhiệm chức chưởng môn phái Nga My, bắt nàng phải thề độc, nhất định phải lợi dụng sắc đẹp của mình và thiện cảm của Trương Vô Kỵ đối với nàng, tìm cách đoạt lấy thanh đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên, tuyệt đối không được có chân tình đối với Trương Vô Kỵ, càng không được kết làm vợ chồng. Diệt Tuyệt sư thái làm cho Chu Chỉ Nhược nhất thời không biết nên làm thế nào, “thần trí bấn loạn, nàng lập tức mụ người đi, không còn biết gì nữa”. (Xem Ỷ thiên đồ long ký). Chu Chỉ Nhược cảm thấy khó khăn, song không thể không đáp ứng, cũng là thật tình. Chu Chỉ Nhược dầu sao cũng còn là một thiếu nữ, làm sao có thể đứng vững trước Diệt Tuyệt sư thái vừa cứng vừa mềm? Sau đó trên hoang đảo, Chu Chỉ Nhược biểu diễn trò lừa dối Trương Vô Kỵ, rõ ràng có liên quan đến sứ mệnh của nàng ta, đến mệnh lệnh của sư phụ nàng và lời thề do bị ép buộc của nàng.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Vương Ngữ Yên
Thương người một mối tình si


Có người bảo: Nàng vô hồn, nhạt nhẽo. Một cô gái yếu đuối, không có chủ kiến, lúc nào cũng bám theo Mộ Dung Phục ....Như một cái bóng ....

Cũng có người bảo nàng ngu ngốc cứ yêu hoài gã biểu ca “Lấy việc khôi phục Đại Yên là mục tiêu lớn nhất của đời mình ".

Trong mắt độc giả, nàng là một cô gái nhỏ đáng thương với mối tình si dại .

Nàng yếu đuối, mỏng manh nhưng trong cái nhìn của xã hội phong kiến hà khắc ấy, nàng vẫn sẵn sàng làm một cái bóng lặng thầm bên Mộ Dung Phục, bất kể đêm ngày ......Vì sao ? Chẳng phải đó là tình yêu ?

Mộ Dung Phục là “nguỵ quân tử ", kẻ có thể vì mục đích của mình mà làm bất cứ điều gì ?

Vương Ngữ Yên biết không ? Nàng biết chứ.

Giữa đại hội võ lâm, biểu ca nàng thất bại nhục nhã, suýt tự tử, Vương Ngữ Yên nhìn thấy tất cả. Nhưng nàng cũng không hề khinh thường chàng. Cái bóng ấy vẫn lặng thầm bên cạnh Mộ Dung Phục. Không cần đền đáp, không cần một lời tri ân. Chỉ cần được nhìn thấy biểu ca, biết chàng vẫn an toàn. Với Vương Ngữ Yên, thế là quá đủ.

Đáp lại nàng là gì ?

Biểu ca nàng đã chà đạp lên mối tình chân thành đó. Cô gái nhỏ ngây thơ ngỡ ngàng nhận ra từ rất lâu, một góc trái tim chàng cũng không còn có chỗ cho mình. Nàng đau đớn, tuyệt vọng. Nhưng hoàn toàn không có oán hận. Trái tim Ngữ Yên có thể tan vỡ nhưng nó không hề như Vương Phu Nhân - mẹ nàng. Nó không oán thù Mộ Dung Phục. Đó là điểm độc giả thích nhất ở Vương Ngữ Yên -”Thần tiên tỉ tỉ ".

Có nhiều độc giả lên án cái sự chuyển hướng quá mau lẹ của nàng qua Đoàn Dự.

Nhưng tại sao lại ngay thời điểm ấy ?

Đoàn Dự vì nàng mới bị Mộ Dung Phục đánh rơi xuống giếng hoang. Trái tim thiếu nữ đã đau lại càng đau. Ngữ Yên cũng không phải là một cô gái vô tình. Với Đoàn công tử, không có tình yêu nhưng làm sao tránh được hai chữ “cảm kích ". Một kẻ quá si tình, vì mình bao lần suýt mất mạng, lại còn vì nàng tha mạng cho biểu ca, suýt nữa đã bị ám toán mất mạng. Ngữ Yên cũng chỉ là một cô gái mới lớn. Đứng trước tấm chân tình ấy, nàng cũng rung động không ít lần. Song Vương Ngữ Yên vẫn là Vương Ngữ Yên, với mối tình tha thiết dành cho Mộ Dung Phục ....Giờ đây, biểu ca của nàng đã thay đổi, còn nỡ đánh Đoàn công tử bỏ mình dưới giếng sâu. Người chết không do mình nhưng vì mình mà chết. Cái duy nhất Ngữ Yên có thể làm là cùng người một chỗ hai mồ ....Và nàng đã làm đúng như thế. Một cô gái trọng tình trọng nghĩa.

Hỡi thế gian, tình ái là chi ?

Lý Mạc Sầu vì tình mà trở nên độc ác. Quách Tương vì tình phí cả tuổi thanh xuân, tìm kiếm một bóng hình trong ảo ảnh ...Ngữ Yên cũng là một trong số những cô gái si tình nhưng nàng may mắn hơn cả, nhận được một kết cuộc hạnh phúc. Giây phút biết Mộc Uyển Thanh là em ruột, Đoàn Dự còn cảm thấy vui nhưng lúc biết Ngữ Yên là em gái mình, trước mắt chàng chỉ có nỗi đau. Thế tại sao lại nói tình yêu của Dự dành cho Ngữ Yên chỉ là sự say mê dáng hình một “thần tiên tỉ tỉ "?.....Ngữ Yên liệu không xứng đáng có được hạnh phúc, được bình yên khi mà bây giờ bên cạnh nàng, vốn đã không còn ai để yêu thương?

“Thương người một mối tình si
Đêm dài cô tịch, riêng mình quặn đau”
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Đông Phương Bất Bại
Yêu đơn giản là chết cho người mình yêu


Một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm “Tiếu ngạo giang hồ” của Kim Dung, Luận về võ công, là đệ nhất, xét về tài trí mưu lược, thuộc hàng nhất nhì, nói đến chữ “si”, lại càng không thể có ai hơn được Đông Phương Bất Bại.

Dưới góc nhìn về hình tượng một đấng trượng phu, Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín của Đông Phương Bất Bại có cái mạnh cái kém.

Nhân: khoan hoà, nhân ái không thấy hiện diện trong Đông Phương Bất Bại, giáo chúng Triêu Dương thần giáo chẳng đã sống trong bầu không khí khiếp sợ, nặng nề sao.

Lễ: “nàng” là một hiện tượng!!! “nàng” giúp Triêu Dương thần giáo bắt kịp triều đình về mặt nghi lễ kiểu cách (xưng tụng, chúc từ, hàng rào vệ sĩ) cũng như cách sống chốn quan trường. Nói chung, Đông Phương Bất Bại chẳng tiết mạn đến đoá hoa tươi đẹp thơm ngát Doanh Doanh.

Nghĩa: bất nghĩa, vì người ngọc mà lạnh lùng xuống tay với kẻ từng vào sinh ra tử cùng mình. Nhưng cũng vì người ngọc mà thảm bại dưới kẻ thù, đến chết vẫn chẳng rời nhau ( với Dương Liên Đình )... Chung quy tuy là kẻ chung tình nhưng bất nghĩa.

Trí: kẻ Tiểu Trí. Không diệt cỏ tận gốc, để Nhậm Ngã Hành trở thành mối hậu hoạ ngày sau. Hồ đồ giữa tình cảm - sự nghiệp. Muốn an nhàn hưởng phước với người ngọc thì rửa tay gác kiếm, quy ẩn giang hồ. Muốn thiên thu trường trị, nhất thống giang hồ thì phải bôn ba tính kế trấn áp các đại phái. Không tính kế dài lâu nên phút chốc mất cả ‘giang sơn” lẫn “mỹ nhân”.

Tín: hứa lo cho “anh iu” Dương Liên Đình suốt đời là làm, dù phải đổi bằng mạng sống bản thân. Ngược lại, chẳng giữ lời “chia sẻ đắng cay, ngọt bùi” với kẻ thuộc hạ từng vì mình xả thân. Cân đi đong lại, vẫn chỉ là bất tín.

“Nàng” là một con người văn võ song toàn nhưng vẫn chết bỡi chữ “si”. “Nàng” si quyền lực để rồi lật đổ Nhậm Ngã Hành, “nàng” si võ công để rồi “tự cung” chính mình và “nàng” si tình để rồi chết cho người mình yêu. Nhưng cái si đó chứng tỏ Đông Phương Bất Bại đúng là một bậc kiêu hùng, dẫu cho tình yêu của “nàng” có phần lệch lạc và mù quáng, nhưng “nàng” dám yêu, dám hận, dám chết cho người mình yêu, đến khi cận kề cái chết vẫn mong người mình yêu được sống sót, nam tử hán mấy người được như “nàng”?

“Hắn nhảy xổ đến bên Dương Liên Ðình, ôm gã đứng lên rồi nhẹ nhàng đặt xuống giường. Trên giường đủ chăn hoa nệm gấm mùi hương ngào ngạt.
Ðông Phương Bất Bại mặt lộ vẻ rất thương yêu Dương Liên Ðình, hắn hỏi:
- Liên đệ có đau lắm không?
Rồi hắn nói tiếp:
- Dù cho Liên đệ có gãy xương sống cũng chẳng cần chi. Liên đệ cứ yên lòng ta tiếp cho Liên đệ khỏi ngay lập tức.
Hắn từ từ cởi giày cho Dương Liên Ðình rồi kéo chăn đắp lên người gã.
Hành động của hắn coi chẳng khác một người vợ hiền phục thị cho chồng. "

Rồi sau đó là một trận ẩu chiến kịch liệt mà nếu ko phải vì Đông Phương Bất Bại “si”, chắc gì bọn Nhậm Ngã Hành đã thắng, Đông Phương Bất Bại đã bại, ko cần phải đổi tên bởi “Ðông Phương Bất Bại này đã bại trận thì chẳng thể sống ở đời được nữa. Còn thay đổi làm chi?”, ngày “nàng” bại cũng là ngày “nàng” ko còn tồn tại nữa, đó là khí phách của bậc đại trượng phu! Nhân vật Đông Phương Bất Bại trong Tiếu ngạo giang hồ đem lại cho người đọc đi từ sự ngạc nhiên, ghê sợ, khâm phục... để rồi cảm thông và luyến tiếc, tiếc cho võ lâm vì mất đi một nhân tài, tiếc cho một con người văn võ song toàn nhưng bất hạnh và tiếc cho một tấm chân tình đặt sai chỗ...

Với Đông Phương Bất Bại yêu đơn giản là chết cho người mình yêu...
Đông Phương ơi hỡi Đông Phương...

“Đoạn trường đau xót thốt bi ca
Trượng phu sừng sửng hoá quần thoa
E ấp trâm cài,tô má phấn
Mềm mại áo the giỡn lượt ngà

Râu mày ca tụng khách trang đài
Não nề nhân thế quằn đôi vai
Giai nhân dạo bước,hồn kiêu hãnh
Ô nhục đường trần..ai hỡi ai?

Phong lưu mỹ tửu,đấng siêu quần
Hoá công khiến tạo biến giai nhân
Lưỡng hình hai cực,thân cong uốn
Vai thon,mũi thẳng..ôi! thương thân

Thức trắng đêm trường khó nghĩ an
Luyến ái nam nhân đã buộc ràng
Đào tơ liễu yếu ăn tâm trí
Bâng khuâng chột dạ...thốt lời than!”
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kim Diện Phật Miêu Nhân Phượng
Kẻ cô độc nhất trên thế gian


Bỗng mắt Miêu Nhân Phượng hoe đỏ, dường như muốn khóc. Nhưng sau đó mặt đầy sát khí, gằn từng tiếng hỏi: “Nàng tại sao chết?”

Điền Quy Nông nói: “Nam Lan bảo tại hạ sau khi nàng chết thì đem hoả táng rồi rải tro cốt trên đường đi cho mọi người giày xéo!”. Miêu Nhân Phượng nhảy dựng lên:“Ngươi có làm thế không?”.

Miêu Nhân Phượng ngây người nhìn cái hũ tro cốt rồi thong thả giơ hai tay bưng cái hũ sứ lên đặt vào lòng.

Đó là câu chuyện của rất nhiều năm sau. Đoạn trích để thấy Miêu Nhân Phượng -người có ngoại hiệu là Đả biến thiên hạ vô địch thủ, Kim Diện Phật- mãi mãi chung tình và không thể nào quên được người phụ nữ đầu tiên và duy nhất.
Thế nhưng trước đó ?

******

Một ngày cuối năm từ rất lâu trước đây, Miêu Nhân Phượng trên đường tế mộ tri kỷ Hồ Nhất Đao đã gặp Nam Lan. Cái ngày đầy tuyết lông ngỗng đó đã “tác hợp” cho người có võ công vô địch thiên hạ thời bấy giờ gặp tiểu thư Nam Lan xinh đẹp. Để rồi, con tim vốn đã thê lương của y lại bị dội đầy những tảng băng lạnh giá. Nếu ngày ấy không “đa sự” thì có lẽ cuộc đời y sẽ dễ thở hơn. Vết thương vì lỡ tay hại chết Hồ đại ca chưa kịp lành thì giông tố lại kéo đến. Và hai nỗi đau này ám ảnh Miêu Nhân Phượng đến trọn cả cuộc đời cô độc đến đau thương.

Thế nhưng thế gian vốn vô thường và vô thường là mãi mãi. Khi Nam Lan như con chim nhỏ trong vòng vây của 5 con yêu râu xanh, Miêu Nhân Phượng tả xung hữu đột để cứu mạng nàng và giúp nàng giữ lại cái quý nhất của cuộc đời con gái. Cũng trong lần kịch chiến đó, Phật Mặt Vàng suýt mất mạng và bị trọng thương ở đùi. Nếu chỉ là việc cỏn con là “kiến ngãi hữu vi” thì đó là chuyện bình thường đến nỗi nhắc đến Miêu Nhân Phượng thì xưa nay phải thế. Nhưng, trên người là vết thương đau kịch liệt, trước mắt lại là một cô gái mong manh như pha lê không nơi nương tựa.

Cũng vì cứu Nam Lan mà Kim Diện Phật kết oán với Chung Thị Tam Hùng. Lần tử chiến với 3 anh em họ Chung, y đang cận kề cái chết, 2 chân không thể nhúc nhích trong khi căn nhà trọ đang cháy dữ dội... Nam tiểu thư chạy trốn ra ngoài và nhìn y từ từ đi đến Quỷ môn quan. Ừh, thì họ Miêu bao biện rằng là do nàng còn liễu yếu đào tơ, không quen sóng gió giang hồ. Nhưng đó là lý do Miêu Nhân Phượng tự lừa gạt thiên hạ và lừa gạt chính mình. Bởi người con gái của cuộc đời không thể là như thế! Giá như lúc đó Miêu Nhân Phượng thua và bỏ thây tại đương trường, chắc chắn đó là sự giải thoát. Nhưng điều giả dụ đó chúng ta chỉ nói được khi đã đọc trọn tác phẩm. Còn như tình cảnh lúc đó, không ai muốn Phật Mặt Vàng phải cháy đen trong biển lửa, và bản thân y cũng không muốn như thế. Đại hiệp đang ôm ấp một viễn cảnh về một ngôi nhà đơn sơ hạnh phúc cùng vị tiểu thư kiều diễm đến tuyệt luân.

Và ngôi nhà hạnh phúc đó cũng không phải là cái gì quá xa xôi. Thậm chí bên trong nó còn ấm áp hơn với y từ ngày cô con gái nhỏ ra đời. Nhưng tổ ấm đó không phải là thiên đường cho Miêu Nhân Phượng. Kim Dung có quá tàn nhẫn không qua cái kết tuyệt tình đến đau lòng: “Y không trở về nhà, căn nhà từ đó trở thành hoang vắng”.

******

Mái ấm mà Đả-biến-thiên-hạ-vô-địch-thủ gầy biết bao công sức để xây dựng, gửi gắm vào đó mênh mông là niềm tin đã tan biến. Trở về đó làm gì để ngày ngày phải nhớ về người đàn bà phụ bạc. Một cơn gió khẽ lay cũng gợi lại bao cảm xúc về nàng. Đêm đó mưa nặng hạt lắm, ba người thân thiết nhất trong mái ấm đó mỗi người một cảm xúc, lao vào cơn mưa xa rời tổ ấm. Căn nhà tranh chắc sẽ xiêu vẹo sau một đêm giông gió. Nhưng điều đó có là gì đâu, nó có còn hay mất cũng vậy thôi. Người đàn bà được triều mến nhất trong mái tranh đó đã nhẫn tâm ra đi, thì cho dù ngôi nhà có tan biến theo dòng nuớc mưa đau buồn thống sầu thảm cũng chẳng còn ý nghĩa cho tất cả.

Cũng đêm mưa đó, người người trong Thương Gia Bảo đeo đuổi với suy nghĩ riêng và Miêu Nhân Phượng cũng thế. Tuy nhiên cái khác biệt giữa kẻ bản lĩnh kinh thiên động địa nhất thiên hạ là y không làm gì nhiều nhưng những hành động giản đơn của ông đều toát kên một nét trầm mặc thật xa xăm. Việc làm đầu tiên của y là ghìm chặt cỗ xe lừa trong đôi tay như xích sắt của mình. Hận Điền Quy Nông tột độ và chỉ muốn đánh chết gã ngay lúc đó nhưng đại hiệp họ Miêu đã không làm thế. Miêu Nhân Phượng còn muốn nhìn rõ khuôn mặt của người mình yêu quý nhất thế gian hạnh phúc bên tình lang ra sao. Người vợ mà y hằng yêu quý nhảy xuống xe lừa, không nhìn y lấy một lần, thị vẫy tay kêu Điền Quy Nông lại ngồi cạnh bên mình. Trước mặt người chồng, nàng vẫn rất thản nhiên, mắt nhìn đống lửa, khoé môi hé nụ cười lạt.

Miêu Nhân Phượng đến bên đống lửa để sưởi ấm cho con gái vừa tròn 2 tuổi. Những ngày qua nó đã phải đội mưa cùng cha, trải qua biết bao khó nhọc, tuy đang ngủ nhưng khoé mắt vẫn đọng 2 giọt lê vì nhớ mẹ. Chắc là nó đã khóc nhiều và nhiều lắm. Miêu Nhân Phượng muốn tận mắt “mục thị” người vợ đào tẩu kia sẽ làm gì. Nhưng thị chẳng cần nhìn y. Phải chi thị khiếp sợ y sẽ giết chết cặp tình nhân bạc bẽo thì hay cho Miêu Nhân Phượng biết mấy. Đằng này, nàng nhìn tình lang một cách trìu mến, trìu mến như thể việc nàng bỏ ra đi là một điều hạnh phúc nhất thế gian. Ừh thì nếu xét về cách nhìn của phái nữ hoặc những đấng mày râu dễ tính, nàng có quyền tìm cho mình hạnh phúc riêng. Ừh thì hạnh phúc và tình yêu thì đâu thể miễn cưỡng. Ừh thì Điền tình lang tinh thạo tâm lý và văn chương, lại biết chiều nàng. Ừh thì... có 1001 lý do để nàng rời bỏ con người khô khốc như Miêu Nhân Phượng. Nhưng nàng có còn nhớ cái ngày đông tuyết năm ấy có 1 kẻ đã suýt bỏ mạng vì gia đình nàng. Nàng có còn nhớ những ngày tháng đồng sinh cộng tử trong khách điếm năm xưa. Hay chạnh lòng về những ngày tháng làm dâu nhà họ Miêu. Nàng có bao giờ nghĩ người họ Điền kia chính là bạn của phu quân mình. Nàng có bao giờ chợt có một thoáng phút giây ngắn ngủi để nghĩ về tướng công, người xem nàng còn hơn tất cả bảo vật trên thế gian này.

“Má má ơi! Lan Lan kiếm má má hoài! Má má về đi thôi!”.
“Má má! Má má! Sao không bồng Lan Lan?”.
“Má má! Má má bồng Lan Lan đi !”.

Câu nói vang lên thống thiết từ miệng đứa con mà nàng đã đứt từng khúc ruột. Nguyên sảnh lớn đều nhìn nàng, họ trông đợi nàng, trong đợi đến quên cả xung quanh họ mới đây và sắp tới sẽ phải máu đổ đầu rơi. “Thằng nhỏ Hồ Phỉ” ăn chưa no lo chưa tới cũng chỉ hướng ánh mắt về nàng, mong nàng làm một việc quá đơn giản mà bất kỳ người mẹ nào trên thế gian này cũng mong hàng triệu triệu lần được làm như thế. Nhưng nàng chỉ hôn nó một lần rồi nhẫn tâm quay đi, mặc cho nó gào khóc dữ dội. Làn máu nóng trong người Miêu Nhân Phượng chạy rần rần. Trái tim y bị tíếng kêu réo của đứa nhỏ làm cho tan nát. Người trải qua bao phong ba sóng gió như Bình A Tứ, Mã Hành Không, vô lại như bọn thị vệ hay tàn ác như Diêm Cơ, Thương lão thái, tất cả đều không khỏi chạnh lòng. Riêng nàng, nàng vẫn thản nhiên và chẳng buồn một lần quay đầu nhìn lại. Việc nàng làm là nở một nụ cười kiều diễm với Điền Quy Nông. Và hành động này của nàng đã làm cho Kim Diện Phật “rùng mình”. Miêu Nhân Phượng vừa vào trang với thân hình ướt đẫm, mưa vẫn còn nhỏ giọt trên chiếc áo của ông. Đã biến thiên hạ vô địch thủ đang lạnh chăng?
Câu trả lời là không. Và ngàn vạn lần là không. Bản lĩnh của Kim Diện Phật quán tuyệt khắp thiên hạ, y muốn kéo vợ lại, đạp thị xuống chân rồi phóng chưởng đánh chết thị. Nhưng y đã không làm thế mà chỉ rùng mình thật đáng thương. Miêu Nhân Phượng bước chân ra giang hồ không cần ai nhường nửa chiêu kiếm, không cần ai nói lời xót thương. Thế mà, đêm nay, cả thảy đều nhìn y với ánh mắt đầy thương cảm. Có lẽ, Miêu Nhân Phượng ngạc nhiên và đau khổ tột độ khi chứng kiến cảnh tượng vợ mình cười trìu mến với người bạn từ bấy lâu nay của mình. Nụ cười và ánh mắt nhu tình dành cho tình lang, điều mà bao năm nay, dù là trong đêm tân hôn, y chưa một lần được chứng kiến. Vâng, đích thị là y chưa bao giờ và mãi mãi không bao giờ được thấy nụ cười và ánh mắt đó dành cho mình.

Chẳng còn gì để có thể thương tâm hơn, Miêu Nhân Phượng lẳng lặng đứng dậy, dùng giấy dầu bọc con gái thật cẩn thận -một hành động thể hiện tình cảm trìu mến thắm thiết của người cha. Y cũng chẳng thể chào hỏi ai và lao ào ra trong đêm giông. Miêu Nhân Phượng không dám nán lại thêm phút giây nào nữa, vì biết đâu y sẽ khóc. Kim Diện Phật khóc trước mặt thiên hạ sẽ không bỏ một trận cho quần hào cười nhạo. Nhưng sâu thẳm trong đáy lòng, kẻ khắp thiên hạ không ai địch nổi đã khóc tự lúc nào.

Kim Diện Phật đã hành động không sai một li trong cái đêm bạc bẽo đó. Y đã cư xử rất đúng với hành vi của một kẻ đội trời đạp đất. Hành động chẳng loạn dù lòng dạ đang rối bời. Y không nói một lời, vì càng nói ra sẽ càng là trò đàm tiếu cho bọn hào khách lỡ đường đêm ấy. Y không cần động thủ với tình địch dù cho Điền Quy Nông như con cá đang nằm trong rọ. Y cũng chẳng cần chì chiết với Nam Lan. Vì Miêu Nhân Phượng đã hiểu con người phụ bạc. Vâng, y đã hiểu thế nào là phụ bạc !!!

Ban đầu, Miêu Nhân Phượng ghì chặt cỗ xe, không cho cặp tình nhân phản bội có cơ hội trốn chạy. Nhưng sau đó, y lại chính là người rời khỏi nơi thị phi đó. Vì y chẳng còn gì để muốn chứng kiến, y không còn gì để hiểu thêm. Đêm ấy, kẻ thiên-hạ-không-đối-thủ chính là người thua cuộc! Người đọc chẳng thể nào hiểu được, Miêu Nhân Phượng và con gái Nhược Lan nương náu nơi đâu trong cái đêm mưa gió bão bùng và đầy định mệnh ấy !!!
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Người tình trong mộng của Kim Dung


Giang hồ hiệp khách, “võ công cái thế” cùng những tuyệt chiêu kungfu như “Hàng long thập bát chưởng, Nhất dương chỉ, Song kiếm hợp bích…”, nhưng nhà văn Kim Dung vẫn không tránh khỏi những trăn trở, đau khổ khi vướng “lưới tình”, không đến được với người trong mộng.

Mạng “Tin tức Trung Quốc” vừa tiết lộ chuyện tình không kém phần ly kỳ, hấp dẫn của nhà văn Trung Quốc nổi tiếng Kim Dung (tên thật là Tra Lương Dung), tác giả từng được bạn đọc khắp nơi mến mộ với những bộ tiểu thuyết võ hiệp như “Anh hùng xạ điêu”, “Thần Điêu đại hiệp”, “Thiên long bát bộ”, “Hiệp khách hành” và “Tiếu ngạo giang hồ”…


Diễn viên Hạ Mộng.

Theo đó, người tình trong mộng của nhà văn này chính là Hạ Mộng (tên thật là Dương Mông), một diễn viên nổi tiếng của điện ảnh Hongkong trong các thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ trước.

Hạ Mộng sinh ngày 16-2-1932 tại Thượng Hải và quê gốc ở Tô Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Diễn viên này khởi nghiệp vào đầu những năm 50 của thế kỷ trước và sau đó liên tiếp gặt hái được nhiều thành công. Danh tiếng của cô nhanh chóng nổi như cồn, chiếm được tình cảm yêu mến, ngưỡng mộ của vô số khán giả màn bạc.

Không chỉ nổi tiếng với sự nghiệp diễn xuất, Hạ Mộng còn được mến mộ bởi vẻ đẹp hoàn mỹ cả về ngoại hình lẫn tính cách, hội tụ đủ các yếu tố “chân, thiện, mỹ”. Mọi người đã không ngần ngại dùng các mỹ từ như “kiệt tác của thượng đế” để miêu tả vẻ đẹp cũng như nhân cách của diễn viên toàn năng này.

Nhà văn Kim Dung khi trẻ đã bao phen khổ sở vì tương tư người đẹp Hạ Mộng. “Cô ấy trong cuộc sống đời thường đã rất đẹp, nhưng trên sân khấu còn đẹp hơn, khiến trái tim tôi luôn đập rộn rã và dường như muốn bay ra khỏi lồng ngực”, nhà văn nổi tiếng này từng thốt lên như vậy.

Tiếc thay, kết cục chuyện tình kể trên không đẹp như cặp đôi Dương Quá và Tiểu Long Nữ trong “Thần Điêu đại hiệp”. Người đẹp Hạ Mộng năm 21 tuổi đã lên xe hoa, kết duyên cùng người khác khiến cho tác giả của Thiên long bát bộ mãi thở ngắn than dài “hận mỗi nỗi không sớm gặp nhau khi chưa yên bề gia thất”.
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Phiêu du lãng mạn trong thế giới Kim Dung
( Kỳ Kết )
Thế giới tiểu thuyết Kim Dung không chỉ đầy ắp mỹ nhân, anh hùng mà còn vẽ nên nhiều địa danh, thắng cảnh tuyệt đẹp. Thiếu Lâm tự, Đào Hoa đảo, Nhạn Môn quan…, những cái tên chỉ mới nghe qua đã gợi lên bao “hùng tâm tráng chí”.

1- Thiếu Lâm tự
Dưới ngòi bút Kim Dung, Thiếu Lâm tự đại diện cho đỉnh cao của võ lâm chính phái với các vị cao tăng võ công tuyệt luân và Tàng Kinh các chứa đầy bí kíp mà nhiều cao thủ thèm muốn. Ngoài đời, Thiếu Lâm tự nằm trên núi Tung Sơn (huyện Dengfeng, tỉnh Khai Phong).
Tàng Kinh Các
Các tháp mộ của các cao tăng Thiếu Lâm Tự
Du khách thích thú “thử” chiêu Kim Cương chỉ nổi danh của Thiếu Lâm tự
Thời gian gần đây, ngôi chùa danh tiếng này đã phần nào bị thương mại hoá. Dưới chân núi Tung Sơn nhan nhản các trường dạy võ ăn theo tên tuổi Thiếu Lâm tự.
Nhờ Kim Dung “quảng cáo”, hàng ngày chùa thu hút hơn 5.000 du khách dù vé vào cổng không “mềm” chút nào, trị giá 100 tệ (tương đương 280.000 đồng).
Trong khuôn viên chùa có đầy đủ các dịch vụ biểu diễn kungfu, xe điện đưa rước tham quan, quán ăn giải khát, quà lưu niệm, bán nhang… khiến không khí thanh tịnh, yên tĩnh nơi cửa Phật bị phá vỡ.
Biểu diễn Kungfu trong chùa
Bán hàng cho khách

2- Đào Hoa đảo
Đào Hoa đảo gắn liền với cuộc đời đầy giai thoại của Đông Tà Hoàng Dược Sư và cô con gái nổi tiếng đa mưu túc trí Hoàng Dung. Không chỉ vậy, nhiều tên tuổi võ lâm khác cũng từng làm khách trên đảo Đào Hoa như chàng khờ Quách Tĩnh, “thần điêu hiệp lữ” Dương Quá, “Lão Ngoan Đồng” Châu Bá Thông, “Cửu chỉ thần cái” Hồng Thất Công…
Giờ đây, Đào Hoa đảo là danh lam bậc nhất ở Hàng Châu – Triết Giang nhờ phong cảnh hữu tình với đền đài, hồ nước. Không hổ danh cái tên “Đào Hoa”, khắp đảo trồng rất nhiều hoa đào và có cả liễu rủ. Mùa xuân là thời điểm du khách cùng dân địa phương nườm nượp rủ nhau lên đảo ngắm hoa đào
Bia ghi “Đào Hoa đảo” do Kim Dung đề tặng trên đảo
Cảnh đình đài, liễu rũ, hoa đào, sông nước… biến đảo Đào Hoa thành điểm du lịch nổi tiếng

3- Hoa Sơn luận kiếm
Còn trong “Tiếu ngạo giang hồ”, Hoa Sơn của chàng lãng tử Lệnh Hồ Xung là một trong Ngũ Nhạc kiếm phái cùng với Thái Sơn, Hằng Sơn, Tung Sơn và Hành Sơn.
Hoa Sơn nằm ở ngoại ô thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Núi được tạo thành bởi năm ngọn núi có hình dáng tựa bông hoa, nên gọi là Hoa Sơn. Với độ cao trung bình 2.900m, Hoa Sơn nổi tiếng cheo leo nhiều đồi dốc, trên đỉnh thường có mây mù bao phủ, đẹp như tiên cảnh.
Hoa Sơn bao phủ bởi mây mù
Trên đỉnh Hoa Sơn, trước bia “Hoa Sơn luận kiếm” do Kim Dung đề
Ngày nay, Hoa Sơn đã có cáp treo nhưng chỉ đưa du khách lên núi một đoạn, phần còn lại vẫn phải cuốc bộ nên ngọn núi này trở thành nơi thử thách của nhiều du khách.
Dọc đường lên núi với các ổ khoá và dây cầu may mắn, bình an của du khách

4- Hằng Sơn
Trong “Tiếu ngạo giang hồ”, Hằng Sơn là nơi trú ngụ của ni cô Nghi Lâm thánh thiện ôm mối tình câm với lãng tử Lệnh Hồ Xung.
Hằng Sơn nằm ở thành phố Đại Đồng của tỉnh Sơn Tây, giáp với Nội Mông Cổ, thuộc vùng cao nguyên khô hạn, quanh năm nắng gió, cát bụi. Là nơi tiếp giáp giữa trung nguyên và biên ải năm xưa nên phong cảnh nơi đây rất hùng vĩ. Nắng chói chang trên bầu trời trong xanh thấp thoáng cánh đại bàng, chim ưng, Hằng Sơn đưa du khách về lại thiên nhiên khoáng đạt.
Hằng Sơn với Huyền Không Tự cheo leo trên vách núi
Hằng Sơn còn có chùa Huyền Không, chùa treo lơ lửng trên không, rất độc đáo. Chùa được xây dựng trên vách núi cheo leo và đã tồn tại hơn 1.500 năm. Trong chùa dung hoà cả ba triết lý Phật, Nho, Đạo, kết tinh trong kiến trúc chùa. Kim Dung đã hư cấu ra tình tiết Lệnh Hồ Xung bị bà câm bắt được, nhốt tại chùa Huyền Không rồi sau đó nhậm chức trưởng môn phái Hằng Sơn.

5- Nga My
Nhắc đến Nga My, những cái tên Chu Chỉ Nhược, Diệt Tuyệt sư thái… của “Ỷ thiên đồ long ký” sẽ hiện lên trong tâm trí bạn đọc.
Núi Nga My nằm ở tỉnh Tứ Xuyên, chiều cao trên 3.099m nên khí hậu mát mẻ. Giữa khung cảnh thiên nhiên bạt ngàn thông cổ thụ điểm xuyết những thác nước rì rào, du khách lắng nghe tiếng chuông chùa đều đều điểm tiếng mỗi buổi chiều sẽ thấy như lạc vào cõi thiền, trút bỏ mọi phiền muộn. Khi thu về, rừng phong trên núi đổi sang sắc đỏ càng khiến Nga My lộng lẫy khác thường.
Chưa hết, đứng trên đỉnh núi Nga My, ngắm ánh sáng mặt trời phản chiếu vào những đám mây che phủ vào các thời điểm khác nhau trong ngày sẽ hiện ra nhiều cảnh đẹp hùng vĩ khác nhau.
Nga My trong mây
Mặt trời chiếu vào mây mù, tạo ra những cảnh đẹp khác nhau tuỳ theo thời điểm

6 - Nhạn Môn quan
Nhạn Môn quan - nơi xảy ra bi kịch của gia đình Kiều Phong trong “Thiên long bát bộ” – chính là một trong những cửa ải nổi tiếng nhất Trung Quốc từ xưa đến nay.
Cửa ải Nhạn Môn quan nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa
Là chốt chặn giữa trung nguyên với đại mạc thảo nguyên, Nhạn Môn quan nằm ở tỉnh Sơn Tây, có địa hình hiểm trở, khí hậu khô hạn. Tuy khung cảnh hùng vĩ, nhưng mỗi khi chiều tàn, tiếng sáo văng vẳng ngân nga trong bóng mặt trời đỏ ối khiến không khí chốn biên ải càng thêm u uất.

7 – Đại mạc Nội Mông Cổ
Ra khỏi Nhạn Môn quan là đến địa phận của Nội Mông Cổ, nơi đại hiệp Quách Tĩnh trải qua thời niên thiếu nhiều biến động trong bộ truyện “Anh hùng xạ điêu”.
Thảo nguyên Nội Mông cỏ xanh mướt màu thanh bình
Có dịp đến Nội Mông Cổ vào mùa hè, trải rộng trước mắt là một thảo nguyên xanh mướt, đàn bò nhởn nhơ gặm cỏ thật thanh bình, thấp thoáng trên bầu trời xanh biếc là những chú chim ưng, diều hâu bay lượn săn mồi…
Đến với Nội Mông Cổ, bạn tha hồ cưỡi ngựa tung vó. Người dân du mục hiếu khách sẽ thết đãi bạn ly rượu sữa ngựa thơm nồng ngay khi vừa xuống xe. Ban đêm còn có thể nằm trong những túp lều da cừu, ngửa mặt ngắm những vì sao lấp lánh thơ mộng…
Đêm đại mạc lấp lánh trời sao
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

BÀN VỀ CÁC NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT
KIM DUNG
Trần Mặc

********
Dịch theo nguyên tác tiếng Hoa CHÚNG SINH CHI TƯỚNG
(KIM DUNG TIỂU THUYẾT NHÂN VẬT ĐÀM).
Thượng Hải Tam liên thư điếm, 6-2001.
Lê Khánh Trường biên dịch.
Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn


https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhL0oX1oK_32F1S2Rx8k794VkgukAXV-AGMDTc66kdOpbR4Mham1hWlHJNIZcorkb-64VYD02sAAiuhcfA3BT8wJckX1bIJvzjPvAP4Ybu-IIaj94h2iwrdQbn05FpkGqPEuITEUXMTy6ErYG70ELDeHw2XGh88WyDI3JnXT0ADbb1JHFyFC5gUlXj36w/w640-h422/100-0-KD.PNG

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

LỜI NÓI ĐẦU


Nhan đề chính của cuốn sách này là “ Cái tướng của chúng sinh” , bao hàm quan điểm “Chúng sinh bình đẳng” của nhà Phật. Đương nhiên trước hết phải nói rằng người bình đẳng nên không thể chia ra siêu nhân với phàm nhân, người được yêu với kẻ bị ghét, nhân vật lớn với nhân vật nhỏ, nhân vật lịch sử có thật với nhân vật truyền kỳ hư cấu. Thậm chí cũng không thể chia ra nhân vật chính với nhân vật phụ. Hễ cảm thấy đáng bàn thì bàn, e rằng nhân vật ấy chỉ là rất thứ yếu; cảm thấy không đáng bàn nên không đem ra bàn, e rằng đấy lại là nhân vật chính.

Đương nhiên do nhân vật chính trong tiểu thuyết là đối tượng miêu tả chủ yếu của tác giả, có nhiều chuyện cũ, tính cách có khi khá phức tạp, cho nên không những phải bàn nhiều, mà số trang sách phân tích cũng phải nhiều hơn. Gọi là Cái tướng của chúng sinh, không phải chỉ là cái tướng nói chung, mà là chỉ hình tượng cá tính của các nhân vật khác nhau. Chúng sinh trên thế gian thực tế là do vô số cá nhân có tính cách khác nhau, hình tượng khác nhau hợp nên. Hơn nữa Cái tướng của chúng sinh không những chỉ hình tượng của chúng sinh, mà đồng thời còn chỉ “tâm tướng” của chúng sinh bao gồm đặc trưng cá tính và bí ẩn tâm lý của họ. trong thế giới võ hiệp do Kim Dung tạo ra, cái khổ của chúng sinh chủ yếu không phải do thiếu thốn vật chất, như đói ăn thiếu mặc, mà là những hoài bão không thành, hoặc là những dày vò đau khổ về tinh thần. Về việc miêu tả tính cách, tính người và sự khắc hoạ tâm lý, thái độ bi thương của Cái tướng chúng sinh v..v..trong tiểu thuyết của Kim Dung, việc bàn luận của tôi dĩ nhiên không chỉ giới hạn ở kỹ xảo nghệ thuật miêu tả nhân vật, mà còn phải chú trọng đến tâm linh của nhân vật, từ đó còn phải đề cập tinh thần nhân văn ở trên cái đó nữa.

Dưới đây cần nói rõ mấy điểm của cuốn sách này.Liệu cuốn Kim Dung tiểu thuyết nhân luận của tôi (Bách Hoa Châu văn nghệ xuất bản xã, in lần thư nhất tháng 12 năm 1993) với cuốn sách Cái tướng của chúng sinh có trùng lặp nhau hay không? Về điều này, tôi nghĩ là không, bởi vì trọng điểm và thể lệ của hai cuốn sách khác hẳn nhau.

Nói cụ thể, một là cuốn thứ nhất chú trọng lý luận, bao gồm các luận đề khác nhau, như “ Nhân cách luận”, “Nhân tính luận”, “Nhân sinh luận”, “Tình ái luận”, “Nhân tài luận”, “Nhân chủng luận”. Còn cuốn sách này chú trọng thực tế, chuyên bàn về nhân vật cụ thể. Hai là cuốn thứ nhất chú trọng phân tích loại hình nhân vật, đem đối tượng luận bàn chia ra người nghĩa hiệp với kẻ tiểu nhân, người thiện với kẻ ác, thường nhân với dị nhân, kỳ nhân với chân nhân, nam nhân với nữ nhân, siêu nhân với phàm nhân, người Hán với người không phải Hán; còn cuốn sách này không phân loại kiểu đó, mà chú trọng tính cách và cuộc sống của các nhân vật cá biệt. Ba là cách thức giảng thuật khác nhau. Cuốn thứ nhất thì “luận”, còn cuốn này là “đàm”. Tôi hy vọng so với “luận” thì “đàm” tự do hơn, cụ thể hơn, nhẹ nhàng hơn, thân mật hơn. Mà cái chính là “đàm” sẽ bật ra ý mới.

Thứ hai, sở dĩ chọn năm mươi hai nhân vật làm đối tượng phân tích luận bàn, chủ yếu là bởi vì tôi cảm thấy có hứng thú bàn về một số nhân vật, hoặc có thể nói là tôi muốn trao đổi một số cảm nghĩ của mình với mọi người. Nhan đề chính của cuốn sách này là Cái tướng của chúng sinh, là có thể nói về đủ loại chúng sinh, còn là có thể bàn về thật sâu một số nhân vật; do đó, có một vài nhân vật mà mọi người hết sức quen thuộc, cũng vô cùng yêu thích, song cuốn sách này lại không bàn đến. Như Hương Hương Công chúa xinh đẹp trong Thư Kiếm ân cừu lục, Tiểu Chiêu trong Ỷ Thiên Đồ Long ký, Song Nhi trong Lộc Đỉnh ký v..v..Các nhân vật ấy dĩ nhiên rất trứ danh, được mọi người yêu thích, có thể đi sâu vào lòng bạn đọc. Nhưng cuốn sách này lại không chọn Hương Hương Công chúa xinh đẹp hồn nhiên, Tiểu Chiêu và Song Nhi dịu hiền, bơỉ vì họ quá đơn thuần, hoặc thiếu bề dày. Điều này không tránh khỏi làm cho một số người tiếc nuối, nhưng nhan đề Cái tướng của chúng sinh có tiêu chuẩn, tầm sâu nhất định của nó.

Thứ ba, dù theo tiêu chuẩn khá nghiêm ngặt, thỉ trong tiểu thuyết của Kim Dung vẫn còn không ít nhân vật có thể bàn luận, hoặc đáng được bàn luận riêng, như Cầu Thiên Nhẫn, Âu Dương Phong, và Nhất Đăng đại sư trong Anh Hùng xạ điêu, Tiểu Long Nữ, Lục Vô Song, Lâm Triêu Anh trong Thần Điêu hiệp lữ , Ân Ly, Triệu Mẫn, Thành Côn và Trần Hữu Lượng trong Ỷ Thiên Đồ Long ký. Thích Trường Phát, Thích Phương, Uông Thiếu Phong, Lăng Thoái Tư trong Liên Thành quyết. Vương Ngữ Yên, Du Thản Chi, A tử, Đoàn Chính Thuần và mấy vị tình nhân trong Thiên Long bát bộ, Nhậm Doanh Doanh, Tả Lãnh Thiền, Đông Phương Bất Bại, Dư Thương Hải, Lưu Chính Phong và Mạc Đại tiên sinh trong Tiếu Ngạo giang hồ v..v..Các nhân vật ấy không được chọn bàn, đơn thuần chỉ vì cuốn sách này có hạn, nếu nhân vật đáng bàn cứ đưa vào sách, chỉ e sách này sẽ phải dày gấp đôi.

Thứ tư, bạn đọc tinh ý sẽ thấy tất cả nhân vật trong bốn bộ tiểu thuyết Việt Nữ kiếm, Bạch mã tiếu tây phong, Uyên Ương đao, Tuyết sơn phi hồ không một ai được bàn tới ở đây. Bởi lẽ số trang bốn bộ tiểu thuyết ấy tương đối ngắn, có bộ còn không lấy việc tả nhân vật là chính, nhân vật có thể mang ra bàn luận riêng không nhiều, một vài nhân vật đáng bàn luận thì tôi đã đề cập trong cuốn sách khác, mà tôi chưa có ý gì mới để đem bàn trong cuốn sách này, lại nghĩ sách này không phân phối cho đều, không nhất thiết phải bàn đến mọi nhân vật, cho nên họ vắng mặt ở đây.

Thứ năm, trong mục lục sách này cũng không có tên ba nhân vật trọng yếu Tiêu Phong, Đoàn Dự, Vi Tiểu Bảo, dĩ nhiên không phải là vô ý bỏ sót, mà chỉ vì tôi đã có ba bài dài riêng bàn về họ. (Xem Trung Quốc văn hoá linh tinh dữ quái thai : Linh hồn và quái thai của văn hoá Trung Quốc), Luận về Vi Tiểu Bảo, Tuy vạn thiên nhân ngô vãng hỹ (Giữa muôn người ta vẫn hướng tới người), Luận về Tiêu Phong, Đoàn Dự hình tượng cập kỳ ý nghĩa( Ý nghĩa của hình tượng Tiêu Phong, Đoàn Dự) trong Cô độc chi hiệp – Kim Dung tiểu thuyết luận, Thượng hải Tam liên Thư điếm) xuất bản tháng tư năm 1999. Hiện tại tôi chưa nghĩ ra ý gì mới, lại không muốn “rang món cơm nguội” nên đành bỏ qua. Điều cần đặc biệt nói rõ là tôi bàn luận khá nhiều về tiểu thuyết của Kim Dung, nên trong sách này khó tránh được sự lặp lại một quan điểm hoặc một câu nào đó, mặc dù tôi đã hết sức cố gắng để không lặp lại, cố gắng đưa ra ý mới.

Cuối cùng, đã là “đàm” chứ không phải “luận”, nên tôi đã hết sức sử dụng một bút pháp tâm thái tương đối nhẹ nhàng, cũng cố tránh sử dụng hình thức thuần tuý học thuật hoặc nghiên cứu, tức là không đeo mặt nạ cho các nhân vật hoặc lúc nào cũng đưa ra các luận chứng quá ư lôgich. Khi bình luận hình tượng nhân vật, dĩ nhiên chỗ nào hay tôi sẽ nói là hay, chỗ nào dở tôi sẽ nói là dở, song nhiều khi tôi không nhất thiết đành giá hay dở, chỉ cốt phân tích tâm lý nhân vật, nhất là tìm ra nhiều góc độ và phương pháp để nhận thức nhân sinh, có khi khó tránh biểu đạt nhận thức của mình đối với tính người và nhân sinh, thậm chí thường thường kèm theo các suy nghĩ của mình về xã hội, lịch sử v..v..Cũng tức là nói, tôi dựa vào việc bàn luận nhân vật mà đưa ra quan điểm của mình. Việc tôi bàn luận mà đưa ra quan điểm của mình rốt cuộc ra sao, kính mong bạn đọc phê bình uốn nắn cho.

TRẦN MẶC
Tháng Hai đầu xuân năm 2001
Tại Bắc Thổ thành Bắc Kinh
15.00
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 72 trang (719 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [69] [70] [71] [72]