Trang trong tổng số 51 trang (506 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [48] [49] [50] [51]

Ảnh đại diện

Poet Hansy

Bà Phủ Ba LƯU THỊ HIÊN


Bà Phủ Ba Lưu Thị Hiên (1860 – ?), người làng Phù Lưu phủ Mỹ Đức tỉnh Hà Đông. Vốn là một đào nương thanh sắc, có theo đòi bút nghiên, lại có tâm hồn khoáng đạt, nên bà hay ngâm vịnh, tài làm thơ rất mẫn tiệp. Sau mấy năm lưu lạc chốn giang hồ, bà làm lẽ thứ ba viên tri phủ Nguyễn Danh Kế nên bà thường được gọi là bà Phủ Ba, sinh được một trai một gái, người con trai chính là nhà thơ Tản Đà ( có sách lại ghi thân mẫu của Tản Đà là bà Nhữ Thị Nghiêm). Sau đó mấy năm, bà ly thân với ông Nguyễn Danh Kế, trở lại đời sống độc lập.

 Trong thời gian làm bà Phủ Ba, bà kết bạn tâm giao với bà Nhàn Khanh, em ruột
của hai ông Dương Khuê và Dương Lâm ở Vân Đình. Hai bà đều là tài nữ, tâm đầu ý hợp nên thường cùng nhau xướng hoạ tâm đắc. Sau khi đã ly thân, bà thường về Vân Đình chơi với bà Nhàn Khanh, nên cũng thường gặp Dương Khuê, lúc đó đã luống tuổi.

 Họ Dương vốn là một tài tử đa tình, không hiểu bỡn cợt gì bà, nên bà đã trách khéo:

Trách ông Nguyệt lão trêu ngươi,
Cho người đầu bạc gặp người tóc xanh!

Và họ Dương đã trả lời rất phong nhã mà cũng rất tự phụ:

Trăm năm ai dễ bạc đầu,
Mười điều ai có được đâu cả mười.
Trách trăng sao khéo nực cười,
Hờn hoa, mà nỡ nặng lời thế ư?

Thế rồi Dương Khuê đêm khuya ngồi buồn, đối ngọn đèn dầu, trước bàn cờ thế cuộc đấu sắp tàn, cao hứng ngâm hai câu thơ thống thiết:

Gặp nhau trót đã muộn rồi,
Cầm quân cờ, gõ cho ... rơi hoa đèn!

 Nhưng hoa đèn có rơi tủa xuống bởi tay cờ run rẩy nỗi hận tình, người đẹp đâu có biết cho, mà dù có biết chăng nữa thì tóc xanh đầu bạc xưa nay vẫn khó dệt nên thơ!

 Sau khi bà Nhàn Khanh kết hôn với tri huyện Trịnh Đình Kỳ, theo chồng lên ngồi huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây, bà Phủ Ba gửi cho bạn bài thơ:

Mong mỏi tri âm

Đêm qua thơ thẩn chốn thư đường,
Mong mỏi tri âm chẳng thấy sang.
Sáu khắc mơ màng người hảo hữu,
Năm canh tơ tưởng chốn đình giang.
Trông trăng bát ngát thương người ngọc,
Thấy nước bâng khuâng nhớ bạn vàng.
Hai chữ tương tư khôn xiết kể,
Khối tình chi để một ai mang.

Sau đó, lên Bất Bạt ở chơi với bạn ít lâu, khi về gửi lại bài thơ:

Ai lên Bất Bạt nhắn nhe cùng,
Nhắn hỏi rằng ai có nhớ không?
Nửa bước, xa xa bằng mấy dặm,
Một ngày, đằng đẵng ví ba đông.
Giọng thơ tri kỷ say còn mệt,
Chén rượu ân tình nhắp chửa xong!
Khắc khoải năm canh lòng luống những … (1)
Thơ tình mở mở lại phong phong.
(1) Dị bản: Thao thức hôm mai dằng dặc nhớ,

Hai câu thực: Giọng thơ tri kỷ say còn mệt, Chén rượu ân tình nhắp chửa xong! nghe như có hàm cái ý cảm tình với quan huyện Trịnh, vì quan huyện cũng hay thơ thẩn ỡm ờ, nhưng có lẽ bà e thương tổn đến tình chị em nên ở chơi
chưa được bao lâu đã bỏ ra về.

Được thơ, bà Nhàn Khanh chừng cũng thấu tình, nhưng lại vẫn muốn cùng bạn tri kỷ đôi thuyền một bến, nên vội cho người về đón bạn, với bốn câu thơ:

Những đọc thơ mà luống ngẫn ngơ,
Đang em, đang chị, bỗng đôi bờ!
Nhị Hà, hỏi nước bao giờ cạn,
Bến đợi sông chờ đã biết chưa?

Nhưng bà Phủ Ba đã chán cái cảnh kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng, nên nghĩ bụng mặc dầu đối với bà Nhàn Khanh sẽ không đến nỗi như thế, song tình bằng hữu vẫn có thể suy giảm, nên gửi lại bài thơ từ tạ:

Dẫu rằng sông Nhị có dài,
Mà tình dằng dặc bằng hai ba phần!
Kể từ tiếp được thơ thần,
Mười phần sầu não, chín phần nhẹ không!
Quản bao cách núi xa sông,
Lòng riêng riêng những ước mong đợi chờ!
Cò khi buồn vịnh nên thơ,
Lời thơ nghe cũng ngẩn ngơ từng lời.
Có khi mượn bút vẽ vời,
Tương tư lại vẽ ra người tư tương.
Có khi cờ nước chiến trường,
Mã xa lạc lối, biết đường đâu đâu.
Có khi nhắp chén tiêu sầu,
Bầu tiên dốc cạn, ra mầu chửa say!
Tình riêng nào có ai hay,
Muốn đem tâm sự giãi bày cùng trăng.
Trách ai dứt mối xích thằng,
Tràch ai giở rói cát đằng đưa duyên …
Trách ai ngăn cấm hồ sen,
Chẳng cho Tây tử tới miền Bồng lai!
Đêm đông bóng giãi cành mai,
Biết rằng ai có như ai, nhớ mình ...

 Từ đây, thấy rằng đi đến đâu cũng bị cái thanh sắc gây nên sóng gió trên tình trường, bà quyết tâm đóng cửa phòng thu, sống cuộc đời nhàn tản cho đến già, xa hẳn mùi tục luỵ.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

PHAN VĂN TRỊ


    Phan Văn Trị (1830-1910) sinh tại làng Hạnh Thông, tỉnh Gia Định. Hai mươi tuổi đỗ cử nhân (năm Kỷ Dậu,Tự Đức II, 1849) nên thường gọi là Cử Trị. Thang mây sẵn bước, có thể ruổi dong trên hoạn lộ dễ dàng, nhưng vì tính khí ngang tàng, ông không chịu bó buộc thân mình, mặc dầu gia đình thanh bạch. Ông lấy việc dạy học và bốc thuốc làm phương độ nhật. Khi quân Pháp gây hấn ở Gia Định (1862) ông tránh xuống Vĩnh Long, kết bạn với Nguyễn Đình Chiểu và Huỳnh Mẫn Đạt.

  Phẫn uất trước sự bạo tàn của quân giặc, ông làm bài “Gia Định thất thủ phú khá dài (xem trong Thi viện).

 Năm 1867, Vĩnh Long lọt vào tay Pháp, ông cảm khái thốt ra lời thơ đau đớn trước sự bất lực của nhà cầm quyền Việt Nam :

Vĩnh Long thất thủ

Tò te kèn thổi, tiếng năm ba,
Nghe lọt vào tai ruột xót xa.
Uốn khúc sông Rồng mờ mịt khói,
Vắng hoe thành Phụng ủ rầu hoa.
Tan nhà, căm nỗi câu ly hận,
Cắt đất, thương thay cuộc giảng hoà!
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ,
Ngậm cười, hết nói nỗi quan ta!

  Từ đó, ông thường mượn thi văn để tỏ lòng phẫn uất về cảnh  nước mất nhà tan,chỉ trích những người hợp tác với chính quyền mới,lời lẽ đanh thép và ngạo nghễ.
  Dưới đây là mấy bài thơ tả cái tâm sự kẻ sĩ phu đứng trước quốc nạn:

Cảm hoài

Cõi Nam chung hưởng cuộc thăng bình,
Trời đất gây nên cuộc chiến tranh,
Xe ngựa rộn ràng, xe ngựa khách,
Nước non vun quén, nước non mình.
Những trang dụng thế đành ngơ mặt,
Mấy gã trung quân nỡ phụ tình!
Bao thuở đem về cơ nhất thống?
Ngàn thu bia tạc đứng trung trinh.

Phong trần lắm lúc luống sầu riêng,
Biết mượn tay ai gỡ mối phiền?
Áo mũ ba đời, ơn rất trọng,
Can qua một cuộc, nghĩa chưa tuyền.
Trớ trêu, con tạo lòng đa xảo,
Tráo trở, anh hùng buổi thiếu niên!
Phất phới bụi hồng đà trải dấu,
Tâm tình chiều uốn thú hàn huyên.

Tay nâng, há dám một mình đây?
Kẻ Bắc người Nam bấn dạ nầy.
Thế sự lăng xăng cờ túng nước,
Nhân tình tráo chác gió rung cây.
Giao hoà, bởi sợ mưu mô cạn,
Cắt đất, vì kiêng trí lực dày.
Ướm hỏi những ai trên đất Việt,
Tấm lòng thiết thạch há như vầy?

Tài năng chi đó khéo trêu ngươi!
Cái phận nam nhi luống nực cười:
Ngược đậu, xuôi đi, hiềm thế nước,
Sâu dầm, cạn vén, thuận tình đời,
Quan san dặm thẳng đường liền bước,
Tùng cúc vườn xưa cảnh nhớ người.
Tạo hoá một bầu xoay khí vận,
Đông qua xuân lại trở màu tươi.

 Tổng đốc Trần Bá Lộc nghe danh ông, nên khi qua Vĩnh Long cho lính đòi ông đến, ý muốn trừng trị thái độ ương ngạnh, Lộc bắt ứng khẩu làm một bài thơ. Ông xin cho đầu bài. Lộc vốn thô lỗ, buông lời tục tĩu:
- Cục  c.. !
Ông đứng ngâm ngay bốn câu:

Đương cơn lộn xộn ló đầu ra,
Người thấy, ai mà chẳng sợ va!
Cậy thế, khom lưng ngồi dưới đít
Biết đâu sắp bị chó liền tha!

 Thơ tả đúng đầu đề, nhưng mỉa mai bao nhiêu cho cái uy quyền vay mượn của viên tổng đốc mới! Lộc nghe xong mắc cở, đuổi Cử Trị về.

 Cuộc xướng hoạ làm cho ông nổi tiếng nhất thời ấy, là cuộc bút chiến với Tôn Thọ Tường.

Cử Trị cùng các bạn Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt,… đứng về phe bất hợp tác, còn Tôn ở phe hợp tác.

 Tôn sinh năm 1825, cũng ở Gia Định. Thân phụ là Tôn Thọ Đức, nguyên làm tuần vũ Thuận Khánh (Bình Thuận - Khánh Hoà). Năm 30 tuổi, thi hương hỏng, ra Huế, xin tập ấm làm quan văn, bất đồ triều đình lại bổ sang ngành võ, Tôn bất mãn, bỏ về. Đến 1862,triều đình nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông , muốn lấy lòng dân , kêu gọi sự hợp tác của sĩ phu , Tôn vì sinh kế phải hưởng ứng, được Pháp trọng dụng, cho làm tri phủ Tân Bình, dần dần lên đến chức đốc phủ sứ.

 Tôn ra hợp tác, cho mình là thức thời vụ. Thầm mong lôi cuốn bằng hữu vào một đường với mình , hay đâu các bạn từ đó đều quay mặt đi, ai cũng mỉa mai là tên bán nước.

 Tôn bị cô lập, lại bị mạt sát nặng nề, tự thấy hối hận, và bởi trót mắc vào vòng rồi, đành làm 10 bài thơ nhan đề là “Giang sơn ba tỉnh” , bào chữa cho mình, và thanh minh với dư luận.

 Mười bài này phổ biến ra, Cử Trị liền làm mười bài hoạ lại. Dưới đây xin chép từng bài xướng hoạ, để thấy rõ lập trường của hai phái “hợp tác” và “bất hợp tác”.

 Bài xướng I ( Tôn Thọ Tường )

Giang san ba tỉnh hãy còn đây,
Trời đất xui chi đến nỗi nầy?
Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo,
Mây tuôn đen kịt khói tàu bay.
Xăng văng thầm tính, thương đôi chỗ,
Khấp khởi riêng lo, biết những ngày.
Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc,
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!

  Tường khoa trương lực lượng Pháp: dây thép, tầu biển, khuyên chớ làm như con trẻ chọc vào miệng cọp hàm rồng.

 Bài hoạ ( Phan Văn Trị )

Hơn thua chưa quyết đó cùng đây,
Chẳng đã, nên ta mới thế nầy.
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy,
Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay.
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở,
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,
Lòng ta sắt đá há lung lay!

 Cử Trị tả sự tàn bạo của kẻ xâm lăng “lửa thiêu Bến Nghé, tro bay Cồn Rồng”. Nhưng mặc dầu vậy, ta cũng cứ kiên chí nuôi muông bủa lưới , có ngày  giết thỏ săn nai, ngươi đừng mượn hơi hùm , mà rung cây cho khỉ sợ ...

 Bài xướng II ( Tôn Thọ Tường )

Thày lay lại chuốc lấy danh nhơ,
Ai mượn mình lo việc bá vơ?
Trẻ dại, giếng sâu, lòng chẳng nỡ,
Đường xa, ngày tối, tuổi không chờ. (1)
Áo xiêm chán thấy xăng tay thợ,
Xe ngựa nào toan gỡ nước cờ.
Rủi rủi may may đâu đã chắc?
Miệng lằn lưỡi mối hãy tai ngơ!

(1) Ngũ Tử Tư người nước Sở, cha anh bị vua Sở giết, chạy sang nước Ngô mưu việc báo thù, có nói : “ Nhật mộ đồ viễn, đảo hành nghịch thi” nghĩa là ngày sắp tối,đường còn xa, phải nên làm việc mau gấp đảo ngược cho chóng thành công.

  Bày trò ra thì mang xấu, lo chuyện bâng quơ làm gì: ta thấy giếng sâu, không nỡ cho trẻ lao mình xuống, và đương xa ngày tối, đi sao cho kịp? Cứ xem các quan ta cố chống trả mà có gỡ được nước cờ đâu, vậy đừng nên nghe xui dại.

Bài hoạ ( Phan Văn Trị )

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ,
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ!
Người trí mảng lo danh chẳng chói,
Đứa ngu mới sợ tuổi không chờ.
Bài hoà đã sẵn trong tay thợ,
Việc đánh hơn thua giống cuộc cờ.
Chưa trả thù nhà đền nợ nước,
Dám đâu mắt lấp lại tai ngơ!

 Tôn dụng tâm lung lạc người trí thức, ấy là xấu rồi: kẻ trí phải lo trọn đạo, đứa ngu mới hành động ăn xổi ở thì, bây giờ giảng hoà là ta thua rồi, nhưng đó đã chắc được chưa, chúng ta không thể làm ngơ trước thù nhà nợ nước.

 Bài xướng III ( Tôn Thọ Tường )

Tai ngơ mắt lấp buổi tan tành,
Nghĩ việc đời thêm hổ việc mình.
Nghi ngút tro tàn nhà đạo nghĩa,
Lờ mờ bụi đóng cửa trâm anh.
Hai bên vai gánh ba giềng nặng,
Trăm tạ chuông treo một sợi mành.
Trâu ngựa dầu kêu, kêu cũng chịu,
Thân còn chẳng kể, kể chi danh!

 Cũng vì tan tành nên không ngơ được: nền lễ giáo đã mất, ta vẫn phải cứu vãn lại, nhưng việc thật khó khăn; quả chuông trăm tạ đem treo bằng sợi chỉ. Thôi thì bảo ta là trâu ngựa ta cũng chịu, ta ra cộng tác thế này còn nghĩ gì đến thân danh nữa; cốt cứu được nước mà thôi.

  Bài hoạ ( Phan Văn Trị )

Tai ngơ sao được lúc tan tành,
Luống biết trách người chẳng trách mình.
Đến thế còn khoe danh đạo nghĩa,
Như vầy cũng gọi cửa trâm anh.
Khe sâu vụng tính dung thuyền nhỏ,
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành.
Thân có, ắt danh tua phải có,
Khuyên người ái trọng cái thân danh.

   Muốn trách người phải trách mình trước. Đã cộng tác thì đừng nói đến đạo nghĩa, trâm anh, làm gì. Chúng ta đã trót vụng tính để  thuyền nhỏ lọt vào khe sâu, thì phải có gan treo chuông bằng sợi chỉ, ấy là bảo trọng thân đấy.

  Bài xướng IV ( Tôn Thọ Tường )

Kể chi danh phận lúc tan hoang,
Biển rộng trời cao nghĩ lại càng ...
Lên núi bắt hùm chưa dễ láo,
Vào sông đánh cá, há rằng oan.(1)
Người giương mắt ngạo đôi tròng bạc,
Kẻ ứa gan trung bảy lá vàng.
Chiu chít thương bầy gà mất mẹ,
Cũng là gắng gỏi, dám khoe khoang!

(1) Nhập giang nhi viết phi ngư, thuỳ kỳ tín giả: Lội xuống sông mà chối là không phải là đi kiếm cá, ai mà tin được!

 Lúc này kể gì danh phận nữa, nhưng nghĩ vì Pháp bây giờ đương mạnh thế, mà tôi nói rằng lên núi bắt hùm, chưa ắt đã là nói láo, ngặt vì trót lội sông rồi mà bảo là không phải để đi bắt cá, thì chẳng ai tin cho! Các ông
chỉ trích tôi  , thật đau đớn cho tôi: vì tôi thương gà con mất mẹ nên mới
gánh vác việc nước.

  Bài hoạ ( Phan Văn Trị )

Thân danh chẳng kể, thiệt thằng hoang!
Đốt sáp nên tro luỵ chẳng càn ...(1)
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa,
Một nhà danh giáo xáo tan hoang.(2)
Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc,
Người khó xăng văng mới gặp vàng.
Thương kẻ đồng văn nên phải nhắc,
Dễ ta đâu dám tiếng khoe khoang.

(1) Càn: khô
(2) Vần oan hoạ vần hoang, theo âm miền Nam.

 Thân danh mà không đếm xỉa đến, thật là vô liêm sỉ. Khá thương cho kẻ đốt sáp thành tro, làm điếm nhục đến gia thanh. Chỉ trông thấy ngọc đã loé mắt, không biết rằng có chịu khổ sở mới thành công . Vì ông cũng là trong mạch thư hương nên mới nói mà thôi.

 Bài xướng V ( Tôn Thọ Tường )

Khoe khoang sức giỏi cậy tài khôn,
Múa mép khua môi cũng một phồn. (1)
Tơ vấn cánh ruồi kinh trí nhện,
Gió đưa hơi cọp khiếp oai chồn.
Siêng lo há đợi cơm kề miệng,
Chậm tính nào ngờ nước đến trôn.
Hay dở chuyện đời còn lắm lối,
Múa men xin hãy chớ bôn chôn.

(1) Phồn: bọn, lũ

 Thôi đừng ba hoa nữa. Sức các ông như cánh ruồi mà định làm cho nhện sợ; như lũ chồn, ngửi thấy hơi cọp là run . Nếu biết lo thì chẳng nên đợi ai đưa cơm kề miệng cho mình; nước đến trôn lúc nào cũng không biết.

 Bài hoạ ( Phan Văn Trị )

Khoe khoang việc phải, mới rằng khôn,
Kẻ vạy người ngay há một phồn!
Hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ,
Hùm như thất thế dễ thua chồn.
Ngươi Nhan xá ngại dao kề lưỡi,
Họ Khuất nào lo nước đến trôn.
Tháy máy gặp thời ta sẽ động,
Muốn nên việc lớn chớ bôn chôn.

 Kẻ trái người phải sao lại vơ đũa cả nắm? Chim hồng tuy mất ít lông đâu có sợ chim sẻ, hùm mà thất thế há thua chồn. Nhan Cửu Khanh đời  Đường bị giặc bắt, chửi giặc,giặc đem cắt lưỡi vẫn không hề sợ. Khuất Nguyên can vua Sở, biết vua sẽ ghét mình sẽ nguy, đã quyết nhảy xuống sông Mịch La còn sợ gì nước đến trôn! Hễ cơ hội đến là ta sẽ hành động.

 Bài xướng VI ( Tôn Thọ Tường )

Hãy chớ bôn chôn việc cửa nhà,
Sau này còn ngại nỗi đàng xa.
Ma duồng cơn ngặt lung hai trẻ, (1)
Trời mỏn lòng thương xót một già.
Lái đã vững vàng cơn sóng lượn,
Thoi toan đan dệt lúc mưa sa.
Ở đời há dễ quên đời được,
Tính thiệt so hơn cũng gọi là ...

(1) Hai trẻ: nhị thụ đồng tử - bệnh nặng lắm đã vào đến mạng mỡ.

  Đường xa , còn nhiều trở ngại lắm. Nước ta ví như  người già trời  còn thương, nhưng mà hai trẻ cứ giục chết cho mau . Cơn sóng lựơn nay ta đã cầm lái vững, ta lại lo dệt áo phòng mưa nữa. Phải suy hơn thiệt,chớ đừng mai mỉa, không công bằng.

 Bài hoạ ( Phan Văn Trị )

Bôn chôn cũng bởi bận vì nhà,
Dám trách người xưa chửa tính xa?
Hăm hở hãy đang hăng sức trẻ,
Chìu lòn e cũng mỏn hơi già.
Mồi thơm cá quý câu không nhạy,
Cung yếu chim cao bắn chẳng sa?
Đáy giếng trông trời giương mắt ếch,
Làm người như vậy cũng rằng là ...

 Đâu dám trách ông nông nổi: ông hăm hở vì tuổi trẻ hăng hái, còn tôi thì không thể nào chịu luồn cúi như ông được. Ông muốn dụ chúng tôi, nhưng mồi thơm không câu được cá quý,cung yếu không bắn được chim cao. Ông không biết ngó xa trông rộng, như thế không xứng đáng là kẻ sĩ.
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Bài xướng VII ( Tôn Thọ Tường )

Cũng gọi là người ắt phải lo,
Có hay chịu khó mới nên trò.
Bạc mông mênh biển cầu toan bắc,
Xanh mịt mù trời thước rắp đo.
Nước ngược chống lên thuyền một mái,
Gác cao bó lại sách trăm pho.
Lòng này dầu hỏi mà không hổ,
Lặng xét thầm soi cũng biết cho.

   Người ta phải thực tế, không nên viễn vông, bắc cầu trên biển, lấy thước đo trời. tiếc thay tình thế ngửa nghiêng mà một mái thuyền toan chống, thôi cái lối ngồi cao xem sách, các ông nên xếp đi thì hơn . Tôi tự xét  không hổ với mình, đã có trời xét soi.

 Bài hoạ ( Phan Văn Trị )

Rằng là người trí cũng xa lo,
Nhuần nhã kinh luân mới phải trò.
Ngay vạy nảy ra cho biết mực,
Thấp cao trông thấy há rằng đo.
Xe Châu nào đợi kinh năm bộ,
Níp Tống vừa đầy sách nửa pho.
Chuốc miệng khen người nên cắc cớ :
Đạo trời ghét vạy há soi cho!

 Đã là người trí, thì phải lo xa, phải xử sự cho đúng đạo thánh hiền. Ai cong ai ngay, ai cao ai thấp, cần gì phải nói. Tôi học cũng nông nổi thôi, nhưng khuyên ông nên ở phải, đạo trời đâu có soi cho kẻ ở cong queo!

 Bài xướng VIII ( Tôn Thọ Tường )

Đã biết cho chưa, hỡi những người,
Xin đừng tiếc hận, chớ chê cười!
Ví dầu vật ấy còn roi dấu,
Bao quản thân nầy chịu dễ ngươi.
Trăng giữa ba thu mây cũng tỏ,
Hoa trong chín hạ nắng càng tươi.
Khó lòng mình biết lòng mình khó,
Lòn lỏi công trình kể mấy mươi.

 Xin đừng chê cười: các ông khinh tôi cũng chẳng ngại, miễn là nước vẫn còn. Rồi ra trăng sáng thì mây mờ; hoa tàn gặp nắng lại tươi,chỉ mình tôi
biết cho tôi có công trình luồn lỏi đã nhiều cũng vì thương nước thương dân.

 Bài hoạ ( Phan Văn Trị )

Soi cho cũng biết ấy là người,
Chẳng tiếc thân danh, luống sợ cười;
Ba cõi may dầu in lại cũ,
Đôi tròng trông đã thấy không ngươi.
Ngọc lành nhiều vết coi sao lịch,
Thợ vụng ít màu nhuộm chẳng tươi.
Đứa dại chót đời, già cũng dại,
Lựa là tuổi mới một đôi mươi!

 Ông kể cũng lạ, chẳng tiếc thân danh lại sợ chê cười! Nếu đất nước thu về được, thì chẳng ai thèm nhìn đến ông, vì ngọc lành đã nhiều vết, thợ nhuộm vụng tay. Thật là già đời còn dại.

 Bài xướng IX ( Tôn Thọ Tường )

Kể mấy mươi năm nước lễ văn,
Rắn dài, beo lớn, thế khôn ngăn;
Bốn đời, chung đội ơn nuôi dạy,
Ba tỉnh, riêng lo việc ở ăn.
Hết sức người theo trời chẳng kịp,
Hoài công chim lấp biển không bằng.
Phải sao chịu vậy thôi thì chớ,
Nhắm mắt đưa chân lỗi đạo hằng.

 Tôi cũng bốn đời gia thế, nay một mình phải lo liệu cho đời sống dân ba tỉnh, tiếc rằng việc nước khó gỡ lại. Chim tinh vệ  hoài công tha đá mà lấp biển không bằng, thôi thì tôi nhắm mắt đưa chân, lỗi đạo thì đành chịu.

 Bài hoạ ( Phan Văn Trị )

Một đôi mươi uổng tính xăng văng,
Đất lở ai mà dễ dám ngăn?
Nong nả dốc vun nền đạo nghĩa,
Xốn xang nào tưởng việc làm ăn.
Thương người vì nước ngồi không vững,
Trách kẻ cầm cân kéo chẳng bằng.
Gió mạnh mới hay cây cỏ cứng,
Dõi theo người trước giữ năm hằng.

  Đã đành ngăn sao được đất lở, nhưng mà tính quẩn làm gì, lo gì  việc làm ăn, hãy cốt giữ vững lấy đạo nghĩa. Ta những thương kẻ bôn ba lo việc nước và trách kẻ muốn kéo cân lại cho bằng mà chẳng nên. Cây cỏ tuy yếu nhưng có gió to mới biết là cứng; nên ở đúng đạo làm người thì hơn.

 Bài xướng X ( Tôn Thọ Tường )

Đạo hằng chi trước thảo cùng ngay,
Lỗi đạo sao cho đáng mặt thầy.
Đất quét đã thành bia lỗ miệng,
Chén tràn e nỗi trở bàn tay.
Nghĩa đen dạy trẻ tranh còn lấp,
Mặt trắng xem trời cánh khó bay.
Chí muốn ngày nào cho được toại?
Giang sơn ba tỉnh hãy còn đây!

  Ai chẳng biết đạo thảo ngay , song đi với kẻ thắng đã đành là xấu , nhưng để nước tràn ra ngoài chén thì còn cứu vãn sao kịp; đem lời thực bảo cho mà không nghe thì  các ông khó có cánh bay đâu được . Chí muốn  của các  ông bao giờ thành được? Mà đất có mất đâu: giang sơn hãy còn đây mà.

  Bài hoạ ( Phan Văn Trị )

Năm hằng vốn thiệt thảo cùng ngay,
Cuộc ấy ai xui khéo bận thầy.
Gặp lúc chẳng may nên ngậm miệng,
Chờ khi tháy máy sẽ ra tay.
Nổi chìm mặc thế tình dày mỏng,
Cao thấp dầu ta sức nhảy bay.
Một trận gió đưa xiêu ngã cỏ,
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây.

 Thật thế, đạo thảo ngay phần người ta giữ, ai khiến ông lo dùm? Chúng ta gặp bước không may thì ngậm miệng chờ thời cuộc xoay vần . Dân tộc lầm than nhiều ít hãy nán lòng đợi, ta có lúc sẽ đem toàn lực tranh cao thấp . Cỏ bị gió thì ngã xuống, nhưng sự hơn thua đã biết chắc là về ai?

 Bạn của Cử Trị là Thủ khoa Nghĩa (Bùi Hữu Nghĩa), thấy Cử Trị hoạ 10 bài của Tôn Thọ Tường, cũng cao hứng làm bài thơ sau đây:

Anh hùng sàu tỉnh (1) thiếu chi đây,
Đâu để giang sơn đến thế nầy.
Ngọn lửa Tam Tần (2) phừng đất cháy,
Chòm mây Ngũ Quí (3) lấp trời bay.
Hùm nương non rậm toan chờ thưở,
Cáo loạn vườn hoang thác có ngày.
Một góc cảm thương dân nước lửa,
Đền Nam trụ cả dễ lung lay!

(1) Sáu tỉnh: 3 tỉnh miền Đông: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường; 3 tỉnh miền Tây: Long Hồ, An Giang, Hà Tiên
(2) Tam Tần: thời kỳ các nước bị áp chế dưới bàn tay sắt Tần Thỉ Hoàng
(3) Ngũ Quí: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu

 Sau cuộc bút chiến hào hứng nói trên , họ Tôn không còn dám khoe  lực  lượng Pháp và coi nhân dân như trẻ nít nữa. Ông dựa vào hoàn cảnh để cãi tội : vì hoàn cảnh mà ông phải quyền biến chứ lúc nào cũng chỉ một lòng cứu nước cứu dân. Ông ngụ tình vào bài thơ sau :

 Tôn phu nhân qui Hán ( Tôn Thọ Tường )

Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông!
Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc,
Về Hán, trau tria mảnh má hồng.
Son phấn thà cam rây gió bụi,
Đá vàng chi để thẹn non sông!
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn:
Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng.

Tôn phu nhân đi lấy chồng lúc nào cũng nhớ nhà, như mình theo Tây vẫn không quên nước: bịn rịn chòm mây bạc. Tường cũng như phu nhân thà chịu đau khổ, nhưng không thẹn với non sông, vì đã làm theo nghĩa vụ: Son phấn thà cam rây gió bụi, đá vàng chi để thẹn non sông. Tuy có mất lòng anh (phái bất hợp tác) song được bụng chồng (quốc gia) vì có thể đỡ đần được cho dân khỏi khổ.

 Bài thơ này truyền ra, Cử Trị hoạ lại trả lời ngay:

Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,
Một ngả trời chiều biệt cõi Đông.
Khói toả trời Ngô chen thức bạc,
Duyên về đất Thục đượm màu hồng.
Hai vai tơ tóc bền trời đất,
Một cánh cương thường nặng núi sông.
Anh hỡi, Tôn Quyền, anh có biết,
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng!

Đại ý nói ông sắm sửa quần áo theo Tây, mặc kệ cảnh khói lửa lầm than, tìm đến chỗ màu hồng đẹp đẽ, quên rằng cương thường không thể nào bỏ được: trai ngay thờ chúa cũng như gái tiết hạnh phải thờ chồng.

Sau đó Tôn lại làm một bài ngụ ý nữa, tự ví mình như Từ Thứ bất đắc dĩ phải theo Tào , nhưng không theo thật lòng nên phải ngậm miệng , không giúp Tào một mưu chước nào:

 Từ Thứ quy Tào

Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi, (1)
Muối xác lòng ai, nãy mặn mòi.
Ở Hán hãy còn nhiều cột cả,
Về Tào chi sá một cây còi!
Bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén,
Bịn rịn trông vua biếng giở roi.
Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Nguỵ,
Thân này xin gác ngoại vòng thoi!

(1) Vua Thuấn đi cày, có con voi cảm lòng hiếu thảo của vua, ra giẫm nát đất để cày giúp

 Tự mình đâu có dám bảo mình cũng yêu nước như ai, song nước nhà còn nhiều người xứng đáng (cột cả) thì một người xoàng như mình (cây còi) có theo Tây cũng chẳng đi đến đâu. Tuy theo, nhưng vẫn nhớ nước nhớ vua. Thôi thì chẳng được đua khôn với các ông thì đành về với Tây,nhưng về thì cũng chi xin làm kẻ dại mà thôi, từ nay xin đứng ra ngoài vòng quốc sự.
  
 Cử Trị đáp lời ngay:

Quá bị trên đầu nhát búa voi,
Kinh luân đâu nữa để khoe mòi!
Xăng văng ruổi Nguỵ mây ùn đám,
Dáo dác xa Lưu, gió thổi còi.
Đất Hứa nhớ thân sa giọt tủi (1)
Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi!
Về Tào miệng ngậm như bình kín,
Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi?

(1) Đất Hứa: tỉnh Hứa Xương

  Các ông đã theo Pháp ùn ùn như mây kéo, tránh xa cái nước yếu này rồi. Tuy thỉnh thoảng cũng nhớ nước mà sa lệ,nhưng lúc ra đi sao mà tay roi đét ngựa lẹ đến thế? Ông hứa sẽ ngậm miệng không bầy mưu gì cho Pháp, nhưng lời ông liệu đáng tin đến mực nào?

 Sau đó, Tôn lại nói tâm sự mình trong một bài thơ vịnh Thuý Kiều, cho là mình vẫn không quên tổ quốc, phải ra làm việc với Pháp chỉ vì lòng muốn nâng đỡ cho dân khỏi điêu linh và kết luận rằng mọi việc tại trời xui nên cuộc biến mà mình phải khổ lòng.

 Vịnh Thuý Kiều

Mười mấy năm trời nhục rửa xong,
Sông Tiền Đường đục hoá ra trong.
Mảnh duyên bình lãng còn nong nả
Chút phận tang thương lắm ngại ngùng.
Chữ hiếu ít nhiều: trời đất biết,
Gánh tình nặng nhẹ: chị em chung.
Soi gương kim cổ thương mà trách,
Chẳng trách chi Kiều, trách hoá công.

   Cử Trị lại đứng ra mắng Thuý Kiều, sao không học Đề Oanh  dâng thơ cho vua, lại tham vàng họ Mã, mà phụ nghĩa chàng Kim, rồi đem thân cho thiên hạ mua cười:

Tài sắc chi mi, hỡi Thuý Kiều!
Cũng thương mà trách một đôi điều:
Ví dù Viên ngoại oan vu lắm,
Sao chẳng Đề Oanh sớ sách kêu?
Cái nghĩa chàng Kim tình đáng mấy,
Lượng vàng họ Mã đáng bao nhiêu!
Liêu Dương ngàn dặm xa chi đó,
Nỡ để Lâm Tri bướm dập dìu!

 Cuộc bút chiến đến đây chấm dứt , vì từ đây , Tôn “miệng ngậm như bình kín”, mặc cho sự thế xoay vần, miễn sao mình được lên xe xuống ngựa.
Đại để sự xung kích của hai phe, cũng tương tự như cuộc đấu lý của Phan Đình Phùng với Hoàng Cao Khải sau này. Hai thái độ, hai tâm sự, dù kim cổ, lịch sử âu chỉ là một cuộc tái diễn.

 Tôn Thọ Tường mất năm 1876, thọ 52 tuổi.

 Cử Trị sau về ở Cần Thơ, vẫn theo đuổi việc dạy học và bốc thuốc, mất năm 1910, thọ 81 tuổi. Một thân hữu đi điếu bài thơ:

Một đời oan chịu đã mòn hơi,
Hà huống oan oan đến chín đời.
Văn học có thừa thương những kẻ,
Công danh chẳng toại tiếc cho người.
Doanh hư tiêu trướng đều nơi mạng,
Đắc túng cùng thông tượng bỡi trời.
Uổng đấng tài ba dòng thế phiệt,
Ra tuồng lưu lạc khắp nơi nơi.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

TRẠNG QUỲNH


 Khoảng giữa thế kỷ XVIII, có trạng Quỳnh (1677 – 1748)  là một nhân vật nổi tiếng trong việc dùng thơ văn để đả kích bọn phong kiến thống trị đương thời , đả phá dị đoan và công kích mọi tệ đoan xã hội.

 Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh, quê ở làng Bột Thượng, huyện Hoằng Hoá,trấn Thanh Hoá. Quỳnh là người học giỏi và thông minh,láu lỉnh; còn trẻ tuổi đã đậu hương cống, nên thường gọi là cống Quỳnh.

   Quỳnh không đỗ trạng nguyên bao giờ , nhưng người đời  vẫn gọi  Quỳnh  là trạng, vì ông xuất khẩu thành chương, ứng đối lanh lẹ ít ai bì kịp . Ông nổi tiếng văn chương, nhưng tính hay khinh mạn và ưa nhạo báng quan trường, nên đi thi trượt mấy lần. Gặp lúc chúa Trịnh chuyên quyền , ông không màng công danh,thường đi đây đó,lấy thơ văn chọc ghẹo người đời. Ông cũng từng phụng mạng đi sứ Tàu,tài biện bác làm cho sĩ phu Trung quốc phải kính phục.

  Đến nay, nhiều câu giai thoại về ông đã được phổ biến trong dân gian.
1/
Miệng kẻ sang, đồ nhà khó :

  Thuở Quỳnh còn ít tuổi , có viên quan huyện vừa gian tham, lại vừa hống hách, dân chúng ai ai cũng căm ghét. Một lần Quỳnh trông thấy viên quan huyện đi hành hạt ghé vào quán nọ nghỉ trưa . Hắn ta ngồi bệ vệ, miệng luôn luôn bỏm bẻm nhai trầu. Quỳnh định xỏ hắn một đòn chơi, mới mon men lại ngồi chực ở trước quán, và khi viên quan ăn trầu xong,vứt bã đi, Quỳnh liền nhặt lấy giơ lên ngắm nghía, rồi bỏ vào túi. Quan huyện thấy lạ mắt, cho đòi Quỳnh lại hỏi tên tuổi, nghề nghiệp. Quỳnh xưng là học trò.

 Viên quan bảo: “Học trò gì mà lẩn thẩn thế?”
 Quỳnh thưa: “Bẩm, tôi thấy tục ngữ có câu:   

Miệng kẻ sang có gang có thép ,

nên tôi muốn xem gang thép ra sao?”

 Viên quan thấy Quỳnh có ý mỉa mình liền nạt: “Nếu là học trò thì lập tức phải đối ngay câu tục ngữ ấy, không đối được ta sẽ đánh đòn!”

 Quỳnh giả vờ sợ sệt: “Bẩm thế thì khó quá ạ!”

 Viên quan được thể càng quát già: “Khó cũng phải đối, mau!”

 Quỳnh bấy giờ mới thưa:
“Bẩm có sơ suất gì quan tha tội cho thì mới dám đọc ạ!”

 Được hắn bằng lòng, Quỳnh liền lên giọng đọc to và rành rọt từng tiếng:
- Bẩm xin đối là:

Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm.

Quan huyện thấy câu đối xỏ xiên quá, nhưng tục ngữ lại đối với tục ngữ mà chữ nào chữ ấy chọi nhau chan chát ; thành ra không bẻ vào  đâu được, đành trả tiền hàng rồi thét lính khiêng võng đi thẳng.
2/
Tú cát - Bọ hung :

Khi còn nhỏ,trạng Quỳnh đã nổi tiếng thông minh và tinh nghịch. Một hôm có khách là ông Tú Cát đến chơi nhà,ông bố sợ Quỳnh nghịch mới bắt ra hầu trà. Khách thấy ông bố khoe con thông minh, liền ra một câu đối bắt Quỳnh đối:

Trời sinh ông Tú Cát

Câu này có ý hợm hĩnh, kiêu căng. Quỳnh nghe tức mình bèn đối ngay rằng:

Đất nứt con bọ hung

Vừa hạ khí thế của ông Tú lại vừa chơi chữ rất hay. (Cát là “lành” đối với hung là “dữ” ). Tú Cát thấy Quỳnh quả có tài mẫn tiệp khác thường, nên tuy giận mười mươi mà vẫn yêu,chẳng những không mắng mà còn giúp thêm tiền cho Quỳnh ăn học.
3/
Chó khôn chớ cắn càn :

 Khi còn nhỏ, Quỳnh vì có khiếu thông minh nên ai cũng có bụng yêu mến, lại thường hay chọc ghẹo.

Một hôm nhà có giỗ, đang làm thịt lợn , ông Tú Cát đến chơi thấy Quỳnh đứng xem mổ lợn, liền chạy tới béo tai và ra cho một vế đối, bảo hễ đối được thì mới tha. Quỳnh xuýt xoa kêu đau và giục ra câu đối ngay.
Ông Tú bèn mượn hai quẻ trong bát quái đọc rằng:

Lợn cấn ăn cám tốn
( Lợn chửa ăn tốn nhiều cám;
“cấn” và “tốn” là tên hai quẻ trong bát quái )
Quỳnh không cần suy nghĩ, đối ngay :

Chó khôn chớ cắn càn
( “khôn” và “càn” là tên hai quẻ trong bát quái )

Cũng dùng tên quẻ trong bát quái mà lại có ý xược ngầm:
bảo ông Tú, này có khôn thì đừng ra câu đối càn nữa.

Ông Tú biết vậy nhưng cũng chịu là giỏi, tha ngay không béo tai Quỳnh nữa.
4/
Đề thơ khỏi trả tiền :

Thời còn trẻ,Quỳnh không để ý đến việc học hành, xếp bút nghiên lên đường ngao du sơn thuỷ. Đặc biệt là nơi nào Quỳnh ghé chơi qua, đều lưu lại những giai thoại ngộ nghĩnh.

 Ngày ấy, trên đường phiêu du,Quỳnh ghé lại một quán nước. Thấy khách có
vẻ hào hoa, cô chủ quán nhan sắc mặn mà nhanh nhẩu mời mọc:

- Rước ông vào xơi bánh ạ… Quán này bánh trái đủ thứ, ông cứ tự tiện…

 Quỳnh cảm ơn rối rít, ung dung ngồi xuống thanh toán, hết dĩa này đến dĩa khác. Nào là bánh rán, bánh dày, nào là khoai ngứa, khoai lang. Ăn hết bánh,
Quỳnh lại chiếu cố đến buồng chuối thanh tiêu rồi mấy chiếc nem treo lủng
lẳng. Quỳnh ăn xong, rung đùi, hút thuốc, rồi đứng dậy cảm tạ và đủng đỉnh
ra đi. Cô chủ giận quá, chạy theo níu áo đòi tiền. Quỳnh giả vờ ngạc nhiên:

- Chết chửa, tôi lại tưởng cô chủ có lòng tốt, lâu ngày mời tao nhân mặc khách ít dĩa bánh, nào có thấm tháp gì.

 Cũng may, cô chủ vốn thích thơ văn, cũng gượng làm vui:

- Ông tự nhận là tao nhân mặc khách, thực hay giả đấy? Nếu thực,ông phải làm một bài thơ kể hết thức ăn trong quán,tám câu vần trắc. Làm không xong, tôi la làng đấy…

Quỳnh cười hì hì:
- Được mà, cô chủ yên trí…

Thế là Quỳnh hạ bút làm một bài thơ dán ngay vào vách. Thơ như sau:

 Bán hàng nay cô đà mấy tuổi?
 Nước non còn nóng hay là nguội?
 Lủng lẳng trên treo dăm nắm nem
 Lơ thơ dưới móc một buồng chuối
 Bánh rán bánh dầy có thoa dầu
 Khoai ngứa khoai lang đều chấm muối
 Ăn uống xong rồi chưa trả tiền
 Thương nhau cho chịu một vài buổi.

Cô chủ quán khá thông minh, xem thơ biết khách trêu chọc, song tài thơ sáng chói nên đành ưng thuận… mất tiền.
5/
Thừa giấy vẽ voi :

Một năm, gặp khoa thi hương, sắp tới ngày thi, có người bạn đến chơi,khuyên ông : khoa này nên kiềm thúc tính nết , văn chương phải viết theo khuôn phép, thì mới hòng đỗ.

  Ấy cũng vì khoa trước, ông làm văn đã đắc thế lắm , nhưng bị đánh hỏng vì khi bài viết xong, còn thừa một khoảng giấy lớn,ông cao hứng vẽ hình con voi rồi đề mấy câu thơ :

Văn chương phú lục đã xong rồi,
Thừa giấy làm chi chẳng vẽ voi!
Tớ có điều này xin bảo thật: (1)
Đứa nào cười tớ, nó ăn bòi!

(1) Dị bản: Vẽ xuống vẽ lên nhằng nhịt đấy,

 Bởi vậy nên kỳ này, nghe bạn khuyên can, ông cũng lấy làm phải và xin nhất nhất vâng lời.

 Vào trường, ông giữ gìn rất cẩn thận, quả nhiên khoa ấy đỗ hương cống. Tuy vậy mà trong quyển của ông vẫn còn có những câu trào lộng , truyền tụng  mãi đến ngày nay.

   Đầu bài chiếu là:

   Nghĩ Hán dĩ công chúa, giá Thiền Vu chiếu.
   ( Làm bài chiếu về việc vua Hán gả công chúa cho chúa Hung Nô.)

  Bài ông làm có câu:
武經百戰以開圖
文無一詩而退虜

 Vũ kinh bách chiến, dĩ khai đồ
 Văn vô nhất thi, nhi thối lỗ

  - Về việc võ, trải trăm trận đánh nhau, mới mở mang được cơ nghiệp.
  - Đến lúc thái bình, thì trọng việc văn, nhưng văn không thể ngâm thơ mà đuổi được giặc.
(Vì vậy vua Hán phải đem công chúa gả cho Chúa Thiền Vu, dùng mỹ nhân kế để giảng hoà)

  Đến bài biểu, ông cố nhét cho được hai câu:
 君则古臣则古戴咸観虞舜之功
 上雍哉下雍哉倚頭赖唐尧之治

  Quân tắc cổ, thần tắc cổ, đái hàm quan Ngu Thuấn chi công
  Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lại Đường Nghiêu chi trị

- Vua theo như vua đời cổ,bầy tôi cũng theo như bầy tôi đời cổ,dân đều được đội ơn, coi như công của vua Thuấn
- Người trên hoà, người dưới hoà, dân đều được nhờ ví như đời thịnh trị của vua Nghiêu
.
  Khi yết bảng tên ông được đỗ rồi, quan trường hội nhau để kiểm điểm lại, thấy những chữ “khai đồ”,“thối lỗ”, “tắc cổ”, “ung tai”, “đái (vào) hàm quan”, “ỷ (lên) đầu lại”, mới biết là ông nhạo báng, dùng những chữ Hán có âm Việt ngữ tục tằn, cốt cho ở Hán văn thì nghĩa đứng đắn, mà đọc ra âm Việt thì lại toàn tiếng thô bỉ. Nhưng đã trót cho đỗ rồi, không thể đánh hỏng được nữa.
 Bao phen lận đận, lần này mới được đắc chí, ông cưỡi ngựa về làng, lòng mừng khấp khởi, ngâm mấy câu thơ:

 Mười năm đèn sách nhọc công nhòm,
 Đỗ suốt ba trường tiếng nổi om!
 Nhờ chút ơn vua về bái tổ,
 Nhảy lên cật ngựa chạy lom xom!
6/
Không biết thì bỏ trống :

 Rồi sau đó ông đi thi hội, mong giật bằng tiến sĩ.Vào thi, bài viết đã trôi chảy lấy làm vừa ý, chỉ còn đoạn kết ông chưa biết làm cách nào cho thật trác lạc, khác hẳn lối kết thúc tầm thường của sĩ tử.

Đang nghĩ ngợi phân vân bỗng thấy một vị giám khảo đi ngang qua, ông liền hỏi:
- Bẩm quan lớn, đoạn kết bài này ngài dạy làm thế nào là phải?

Vị giám khảo trừng mắt:
- Không biết làm thế nào thì bỏ trống!

Đến lúc hội lại chấm bài, ban giám khảo đọc thấy một bài ý tứ hàm súc, ngôn từ hoa mỹ, rất đáng cho ưu, chỉ hiềm nỗi đoạn kết lại lạc lõng vào hai câu nôm:

 Ô hô, da trâu tang mít, tự ký thành bưng bít chi công.
 Y hi, đám giỗ nhà chay, thượng ký đô thì thùng chi hiệu.

 Chẳng ai hiểu ra sao. Bèn hợp phách lại xem tác giả là ai mà kỳ quái vậy. Té ra cống Quỳnh. Vị chủ khảo cho gọi ông cống vào hỏi duyên do. Cống Quỳnh lễ phép thưa:

- Bẩm, đó là tôi theo lời dạy của quan giám khảo. Quan bảo đoạn kết không biết làm thế nào thì cứ bỏ trống, nên tôi viết hai câu về cái trống!

 Mà là trống thật. Trống, mặt bằng da trâu, tang bằng gỗ mít, đã tốn công bưng bít mới thành, để khi đám giỗ đám chay nện thì thùng ra hiệu!

 Lẽ tự nhiên, ông cống chuyến này lại hoàn ông cống!
7/
Thơ cúng thành hoàng :

 Tục truyền trong thời kỳ Quỳnh đã thi đỗ hương cống và tiếng tăm đã lừng lẫy khắp xa gần, có một lần vợ cưng của Quỳnh bị ốm nặng,nhưng không chịu thuốc thang, lại tin tưởng thầy bói. Xem quẻ xong, thầy bói quả quyết bị động thành hoàng, sắm sửa lễ vật cúng vái là khỏi. Quỳnh vốn cũng chẳng tin gì thần thánh nhưng vợ cứ khóc lóc ỉ ôi, nên Quỳnh đành phải mang hai quả trứng gà luộc ra đình làng khấn với thành hoàng để xin chữa cho vợ mình, và hứa rằng hễ vợ mình khỏi bệnh thì sẽ trả lễ thật hậu. Quỳnh đem hai trứng ra đặt lên bệ thờ thành hoàng và chắp tay trịnh trọng đọc to một bài thơ như sau:

Này hỡi thành hoàng
Chú là kẻ cả trong làng,
Tớ là người sang trong nước.
Đôi bên chức tước,
Chẳng kém gì nhau.
Bởi vợ tớ đau,
Phải ra khấn vái.
Phiên chợ thì trái,
Không mua được gì.
Có con gà di,
Nó vừa nhảy ổ.
Đem ra mà mổ,
Thì cũng thương tình.
Chú có anh linh,
Xơi hai trứng vậy!...

Rồi Quỳnh để lại hai quả trứng gà và đủng đỉnh ra về.
8/
Đề tượng bà Banh :

   Ở vùng Sơn Nam hạ có một ngôi chùa thật quái dị . Chùa không thờ  Phật, trên bệ chỉ có pho tượng đá gọi là tượng bà Banh. Tương truyền bà Banh là tà thần rất linh thiêng , ai đi ngang qua chùa mà không ngả nón sẽ bị ốm đau tức khắc. Muốn khỏi bệnh phải đem xôi,gà, rượu, thịt đến lễ tạ. Vốn thường công kích những nơi bành trướng tà đạo,nghe được chuyện ấy, Quỳnh đến chùa, lấy bút mực viết ngay trên bụng pho tượng bài thơ:

 Khen ai đẽo đá tạc nên mày
 Khéo đứng ru mà đứng mãi đây!
 Trên cổ đếm đeo trăm chuỗi hạt
 Phô trang chi hỡi, lũ quân này!

( “Đẻo đá”, “khéo đứng”, “đếm đeo” là những từ thường gặp trong thơ Hồ
 Xuân Hương )

 Đề thơ xong Quỳnh mắng nhiếc một hồi mới bỏ đi. Ít ngày sau, pho tượng
bỗng ngã xuống, nằm úp mặt trên mặt đất. Chả biết có phài là thần xấu hổ vì
lời thơ ngạo mạn của trạng Quỳnh không? Từ đó ngôi chùa hết linh thiêng.
9/
Văn tế hai bố :

  Nhạc phụ ông người dong dỏng cao, làm tổng trấn Bắc Ninh, thân phụ ông là người lùn thấp, làm tri phủ Kiến Xương; hai người tình cờ cùng tạ thế một năm, nhạc phụ mất cuối tháng chín , thân phụ mất đầu tháng mười . Khi hai linh cữu đưa về quê, ông thu xếp cho hai đám cùng đưa một ngày, và bày bàn thờ chung nhà, để tế chung vào một tuần... cho đỡ tốn kém.

Ông làm bài văn tế, xem qua đủ thấy tác giả là người ngang tàng và ngỗ ngược, có một nhân sinh quan phóng khoáng đến quá mức , ngay bậc cha mẹ cũng còn đem ra mà chế giễu không từ.

  Văn tế hai bố :


  Ông trấn Bắc Ninh. – Ông tri phủ Kiến
  Ông thấp lùn chùn. – Ông cao nghễu nghện
  Tưởng ông sống tám mươi, ông sống chín mươi cho đến một trăm. – Nào ngờ ông chết tháng chín, ông chết tháng mười, cũng về một chuyến.

    Than ôi!
  Hạc tếch lên ngàn. – Rùa bò xuống biển!
  Lẽ đâu một đám hai ma. – Song le nhất cử lưỡng tiện!
  May hai nhà cũng có bát ăn : - Chả có phen này thì biến!

  Trạng Quỳnh còn vài bài thơ nữa mà bài nào cũng có ý châm chọc :

 Con chuột

 Ông Cống (1) khoa nào chẳng thấy thi,
 Chuột thì kêu chuột, Tý làm chi?
 Bắt hơi chó sịt cong lưng chạy,
 Nghe tiếng mèo ngao rút cổ đi.
 Chỉnh nếp rá cơm tha thểnh bậy,
 Đống rơm bồ lúa ngách hang kỳ.
 Phô bày chuột lũ bay nên chạ,
 Hoạ có bầu nan hẳn sợ mi. (2)

(1) Cống: Hương cống, tức cử nhân thời Nguyễn
(2) Những người đi ghe bầu rất sợ ghe bầu, nhất là ghe đan bằng nan
   tre, nên họ thường gọi chuột bằng ông Tý


Chợ Gạo đất Kinh kỳ

Tiếng đồn chợ Gạo đất Kinh kỳ,
Quỳnh tới dạo chơi chẳng thấy chi.
Ngô bé (1) ngô to răng trắng nhẻ
Đĩ già đĩ trẻ tóc đen sì.

(1) Ngô: người Tàu
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Thiền sư PHÁP THUẬN

Năm Thiên Phúc thứ 7 [986], đời vua Lê Đại Hành, nhà Tống sai Quốc Tử Giám bác sĩ Lý Giác  mang chế sách sang phong cho vua ta làm  An Nam đô hộ Tĩnh Hải quân Tiết độ sử kinh triệu quận hầu, …


Năm sau , nhà Tống lại sai Lý Giác sang . Khi  Giác đến chùa  Sách Giang, vua sai thiền sư Pháp Thuận (1) giả làm người coi sông  ra đón. Giác rất thích nói chuyện văn thơ . Lúc ấy nhân có hai con  ngỗng  lội
trên mặt nước, Giác vui ngâm rằng:

 Nga nga lưỡng nga nga,
 Ngưỡng diện hướng thiên nha.
(Ngỗng ngỗng hai con ngỗng,
Ngữa mặt nhìn chân trời).

 Thiền sư đương cầm chèo, theo vần làm nối đưa cho Giác xem:

Bạch mao phô lục thuỷ,
Hồng trạo bãi thanh ba.
(Nước lục phô lông trắng,
Chèo hồng sóng xanh bơi).

Giác lấy làm ngạc nhiên, khi về đến sứ quán, làm thơ gửi tặng. Pháp Thuận dâng thơ lên, vua khen ý thơ, tặng cho Giác rất hậu, …

(1) Thiền sư Pháp Thuận họ Đỗ, trụ trì chùa Cổ Sơn, hương Thư ở Ái quận; thuộc thế hệ thứ 11, thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi                                          
                                   -----------------------------------

Trên đây là giai thoại văn chương khá sớm, được ghi trong chính sử.

Thực ra, Lý Giác và Pháp Thuận đều chịu ảnh hưởng bài “Vịnh nga” của Lạc Tân Vương đời Đường, làm năm 10 tuổi :

Nga nga nga
Khúc hạng hướng thiên ca
Bạch mao phù lục thuỷ
Hồng chưỡng bát thanh ba.

Lê Minh Uyên dịch:
Ngỗng ơi, hỡi ngỗng ơi
Ngẫng cổ ca vang trời
Nước lục điểm lông trắng
Chân hồng rẽ sóng bơi.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

HỌC LẠC


 Nguyễn Văn Lạc (Học Lạc) (1842-1915) người làng Mỹ Chánh, tỉnh Mỹ Tho. Thông minh, hiếu học, ông vì nhà nghèo nên thi vào ngạch học sinh, để được cấp lương học tại trường tỉnh. Do đó, học sinh Lạc sau này được gọi là Học Lạc.

 Học Lạc học rất tiến, mà thi mãi không đỗ. Gặp lúc tình thế nhiễu nhương, triều đình phải nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp năm 1862, rồi tân triều khởi xướng lên phong trào “vứt bút lông đi, giắt bút chì”, Học Lạc không chịu theo, đã bỏ làng Mỹ Chánh, về làng Thuộc Nhiêu (cũng ở Mỹ Tho), cất ba căn nhà lá dạy học và hốt thuốc.

 Học Lạc hình dạng thấp nhỏ,nước da trắng xanh,tiếng nói sang sảng như chuông , tính tình khẳng khái, làm thuốc rất hay, bói Dịch cũng giỏi, lại thêm cầm kỳ thi hoạ, đủ mùi. Ông lui về quê, là muốn tránh cảnh rối ren lúc giao thời, lấy nghề bốc thuốc vừa làm kế sinh nhai vừa làm phương độ thế, nhưng ông không thể điềm nhiên toạ thị trước sự đảo lộn của học phong và sĩ khí, nên thường lấy thơ phú ra ngụ lời mai mỉa thói đời.
  Về Hán văn của ông, còn truyền lại vài câu, tỏ ra ông không chịu nô lệ khuôn sáo, cố tìm những ý tứ mới mẻ.

 Tả cảnh chiếc ghe giương buồm chạy lẻ loi trên sông:

绿樹走双岸
紅日炤孤舟

 Lục thụ tẩu song ngạn
 Hồng nhật chiếu cô châu
(Cây xanh vun vút bờ xanh
Vừng hồng rọi xuống chiếc mành cô liêu)

Đề cửa một quán cơm:

莫未舘中無漂母
只嫌路上少王孫

 Mạc vị quán trung vô Phiếu mẫu
 Chỉ hiềm lộ thượng thiểu Vương tôn
(Chớ nói quán này không Phiếu mẫu
Chỉ hiềm khách lại ít Vương tôn)

  Ý nói quán này vốn sẵn lòng làm như bà phiếu mẫu khi xưa đem cơm cho Hàn Tín, nhưng e rằng khách bây giờ ít ai tài giỏi như Hàn Tín, để mà cho cơm không lấy tiền.

  Hai câu này rất được tán thưởng; nhiều nhà hàng cơm ở Mỹ Tho đã nhờ người viết ra để dán hai bên cửa.

  Trong thời kỳ ở Thuộc Nhiêu ông làm bài thơ sau đây :

  Chợ Thuộc Nhiêu

  Đất linh bồi đắp cuộc Ba Giồng
  Cảnh Thuộc Nhiêu nhiều khách ngộp trông
  Lộ thẳng ngựa biêu chơn ngắn bước
  Rạch cùng cá lội mến quen sông
  Trướng văn giỏi kẻ thêu rồng phượng
  Miễu võ thờ tay trí bá tòng
  Cứng cát thú quê vui tục cũ
  Thềm dâu ruộng lúa dễ cho không.

  Bấy giờ vào lúc khẩn trương của cuộc đối lập Pháp Nam.

  Ông diễn tả tâm trạng mình bằng bài thơ “gà chọi”, ngụ ý mong đồng bào nên nghĩ ơn tổ quốc, đừng tham sống mà không dám liều “một nắm xương lông” hãy yên trí rằng nếu có chết sẽ được hương khói phụng thờ:

 Vịnh đôi gà chọi

 Đôi bên chưa chắc đặng cùng không,
 Thiên hạ ngày tròn mỏi mắt trông.
 Một trận quyết đền ơn tấm mẳn (1)
 Hai ngươi chớ ngại nắm xương lông.
 Rủi may đã có người hương khói,
 Khuya sớm cho cam kẻ ẵm bồng.
 Lừng lẫy danh thơm trong mấy nước,
 Làm sao năm đức giữ cho cùng! (2)

(1) Tấm mẳn: tấm cám, thức ăn của gà – ơn tấm mẳn: ơn cơm áo.
(2) Năm đức của gà: uy vũ, can đảm, gáy sáng, thảo ăn, khéo nuôi con.

 Nhìn thấy bọn sĩ phu, cậy có năm ba cuốn sách trong bụng mà lên râu với bà con, đến khi gặp giặc thì chạy tơi bời, chỉ sợ máu huyết phải đem làm lễ bôi chuông, giống như nông nỗi con trâu trong bài:

  Vịnh con trâu

  Mài sừng cho lắm cũng là trâu,
  Ngẫm lại mà xem thật lớn đầu!
  Trong bụng lam nham ba lá sách,
  Ngoài cằm lém đém một chòm râu.
 Mắc mưu đốt đít tơi bời chạy, (1)
 Làm lễ bôi chuông nhớn nhác sầu. (2)
 Nghé ngọ già đời quen nghé ngọ,
 Năm dây đàn gảy biết chi đâu! (3)

(1) Điền Đan đốt đít trâu cho trâu chạy xông vào trận địch
(2) Đời xưa, lấy máu trâu bôi vào chuông mới đúc cho khỏi nứt
(3) Đàn gảy tai trâu

 Lại còn cái bọn ra phò tân trào, coi mới đáng ghét làm sao! Tiểu nhân đắc chí, đeo râu mang kiếm, hống hách vô sỉ, có khác gì con tôm kia :

  Vịnh con tôm

  Chẳng phải vương công, chẳng phải hầu,
  Học đòi đeo kiếm lại đeo râu.
  Khoe khoang mắt đỏ trong dòng biếc,
  Chẳng biết mình va: cứt “lộn đầu!”

  Hoặc con chó, lúc sống thì lăng xăng đuổi thỏ để cho thỏ bị bắt làm thịt, mà lúc chết chẳng được ai thương, xác bị quăng ra sông nổi lều bều, chỉ có tôm tép tiễn đưa, quạ diều săn sóc:

 Vịnh chó chết trôi

 Sống thì bắt thỏ, thỏ kêu rêu!
 Thác thả dòng sông, bụng chướng phều.
 Vằn vện xác còn phơi lững đững,
 Thối tha, danh hãy nổi lều bều!
 Tới lui, bịn rịn: bầy tôm tép,
 Đưa đón, lao xao: lũ quạ diều.
 Một trận gió dồi cùng sóng dập,
 Tan tành xương thịt biết bao nhiêu!

 Có khi ông không ngại kêu hẳn tên mà mai mỉa. Như Nguyễn Kim Chi, có tính keo kiệt và tham lam, đã làm tổng đốc Định Tường (Mỹ Tho) danh phận cao sang là thế mà còn bắt vợ đi bán bánh ở chợ, bắt lính trồng trầu ở dinh, để lấy thêm huê lợi, còn việc nước việc dân không màng gì đến, gặp những án nặng nhưng có hối lộ nhiều là kiếm cớ tha liền.

 Vịnh Nguyễn Kim Chi

  Nghĩ thương quan thượng Nguyễn Kim Chi,
  Khôn khéo không ai dám sánh bì.
  Gói bánh vợ đem bưng dưới chợ,
  Trồng trầu lính mót bán trong ty.
  Bề ngoài đầy đủ cho qua chuyện,
  Việc nước nên hư chẳng kể gì.
  Cái án hạp binh nên xé thịt,
  Đành ăn hối lộ lại tha đi!

  Hoặc như quan võ Nguyễn Công Nhàn, được thiên hạ gọi là “Hùng dũng” chỉ vì có tính nóng, hay đánh đập: lúc gặp Pháp tấn công, ông cho đóng cọc dưới sông để chặn tàu, nhưng giặc biết mưu nhổ lên hết rồi thình lình tiến đến, khiến ông hốt hoảng co chân định chạy, sau nghĩ đến vợ con lại dùng dằng, toan cho đóng cũi tự giam mình mà đầu hàng:

    Vịnh Nguyễn Công Nhàn

  Có quan hùng dũng Nguyễn Công Nhàn,
  Hùng dũng nhưng mà lại nhát gan!
  Giặc tới Bến Tranh, run lập cập,
  Tàu vô Cửa Tiểu, chạy bò càng,
  Mưu thần trước biết ngang sông chắn,
  Kế dữ sau toan ... đóng cũi hàng!
  Thất thủ muốn liều cho vẹn tiết,
  Ngặt vì con, vợ, bận chưa an!

 Học Lạc có tính ngạo đời, nên trong hương lý không mấy người ưa. Có lần,theo lệ làng phải làm một mâm xôi đem ra đình cúng thần, đáng lẽ đề vào vành mâm tên họ chức tước  là “Học sinh Nguyễn Văn Lạc” ông chỉ biên hai chữ “Thằng Lạc”, nên hương chức cho là xấc với thần linh, bắt trói vào cọc ngoài sân.

  Ông ngồi đấy, tình cờ bên cạnh có một người Tàu cũng bị bắt vì tội đánh bông vụ (tiếng Bắc gọi là đánh thò lò) nên ông tức cảnh nên thơ:

    Bị trói

   Hoá An Nam, lứ khách trú, (1)
   Trăng trói lăng nhăng nhau một lũ.
   Ngoài mặt ngỡ ngàng lạ Bắc Nam,
   Trong tai (2) cắc cớ xui đoàn tụ.
   Bợm làng chẳng vị sĩ năm kinh, (3)
   Ông Bổn không thương người bảy phủ. (4)
   Phạt tạ xong rồi, trở lại nhà:
   Hoá thì hốt thuốc, lứ bông vụ.

(1) Hoá, lứ: tôi, anh (tiếng Triều Châu)
(2) Tai nạn
(3) Sĩ năm kinh: chỉ người học trò
(4) Bảy bang Hoa kiều ở miền Nam: Quảng Đông, Triều Châu, Huệ Châu, Hải          Nam, Phúc Kiến, Tuyền Châu, Phúc Châu.

  Sau đó, làng bắt ông phải tạ lỗi với ban hương đảng. Ông liền ngâm bài thơ:

    Tạ hương đảng

  Vành mâm xôi đề “thằng Lạc”!
  Nghĩ mình ti tiện không đài các.
  Văn chương chẳng phải bợm mèo quào,
  Danh lợi không ra cái cóc rác!
  Bởi thế bơ thờ thẹn núi sông,
  Dám đâu xấc láo ngạo cô bác!
  Việc này dẫu có thấu lòng chăng,
  Trong có ông thần, ngoài cặp hạc!

   Khi về già, thấy thời thế đã đổi thay hẳn cục diện, Pháp đã nắm vững được nước ta, ông đành ôm hận, thỉnh thoảng cao hứng đi lên tiệm ăn cơm:

    Ăn cơm nhà hàng

  Dễ muốn ăn chơi thế vậy à?
  Người đời thấm thoắt bóng câu qua.
  Tháng ngày thoi trở năm càng thúc
  Tơ tóc sương bay tuổi đã già.
  Khiển hứng no nê mùi Quảng Tống,
  Tiêu sầu chếnh choáng rượu Lang Sa. (1)
  Trải xem ai nấy đều mê mệt,
  Há dễ mình ta tỉnh đặng mà!

(1) Lang Sa: Pháp

  Học Lạc mất năm 1915, thọ 73 tuổi. Bà Bảy Khánh, vợ ông Học Lạc, cũng là nhà thơ, làm bài thơ sau đây:

   Thuyền lỡ vời

Đùng đùng sóng gió khéo nương hơi,
Chiếc bá linh đinh mới lỡ vời.
Lố xố hoa trôi khoan lại thúc,
Lao xao gấm vẽ nhặt rồi lơi.
Mảnh buồm lững đững trôi trong nước,
Bánh nguyệt chơi vơi đứng giữa trời.
Chèo hạnh so le ngơi mái nhịp,
Thuyền tình thong thả dễ buông khơi.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 51 trang (506 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [48] [49] [50] [51]