Trang trong tổng số 7 trang (63 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [4] [5] [6] [7]

Ảnh đại diện

Bùi Thuỵ Đào Nguyên

Giới thiệu nhà thơ tiền chiến Nguyễn Đình Thư
Tác giả: Bùi Thuỵ Đào Nguyên



Nguyễn Đình Thư sinh ngày 1 tháng 2 năm 1917 tại làng Phước Yên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên-Huế).

Sinh trong một gia đình rất nghèo, ông được bà ngoại nuôi đến lớn, nên đặt tên là Thư, lấy theo tích đời xưa có ông Ngụy Thư khôn lớn cũng nhờ bên ngoại. Thuở nhỏ, ông học trường Queignec, Quốc Học Huế. Sau khi thi đỗ bằng thành chung, ông đi làm thư ký Kho bạc, Huế.

Tháng 11 năm 1941, ông được Hoài Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong quyển "Thi nhân Việt Nam" (1932-1941). Sau, Nguyễn Đình Thư tham gia chống Pháp và sau đó ông đã bị đối phương bắt được. Không chịu khuất phục, ông bị tra tấn rồi bị đối phương cho thiêu cháy chết vào năm nào không rõ.

Nguyễn Đình Thư mất chỉ để lại tập thơ "Hương màu", chưa xuất bản.

Trích hai ý kiến nói về sự văn nghiệp văn chương của ông:

- Hoài Thanh và Hoài Chân: Đây không phải là một nguồn thơ tân kỳ...Mặc dù (vậy), lần thứ nhất tôi đọc những vần thơ ấy, nó cứ lưu luyến hoài trong tâm trí như tiếng nói một người bạn tuy mới quen mà vẫn thân yêu từ bao giờ. Thơ Nguyễn Đình Thư không nói chuyện gì lạ...chỉ (là) những buồn thương, những vui sướng rất quen. Nhưng buồn ở đây là một mối buồn âm thầm, lặng lẽ, thấm thía vô cùng… Nhưng thi nhân dễ buồn thì cũng dễ vui. Một chút nắng mới báo tin xuân sang cũng đủ khiến người vui. Cái vui của Nguyễn Đình Thư có vẻ kín đáo, nhưng không miễn cưỡng, không gượng gạo. Người vui hồn nhiên, cái vui của cây cỏ. Về điệu thơ thì có đến bốn năm lối. Riêng trong lối lục bát thỉnh thoảng ta lại gặp những câu phảng phất giọng Kiều hay giọng ca dao lẫn với một ít phong vị mới... Mở lòng đón phong trào mới, điều ấy đã đành, nhưng cũng chớ quên tìm đến nguồn thơ hiên nhiên của nòi giống. Nguyễn Đình Thư đã có ý ấy, ít nhiều hồn xưa đã ngưng lại trong thơ Nguyễn Đình Thư.

- Nguyễn Tấn Long: Trước cao trào lãng mạn của nền thơ mới, tác giả Hương màu chưa đến đọ say sưa đắm đuối trong tình ái. Nguyễn Đình Thư chỉ phô diễn cái tâm tình muôn thưở của những chàng trai đang nao nao rung động khi đối diện với những cánh hoa đào mơn mởn xinh tươi...Đọc Nguyễn Đình Thư, ta thấy tác giả đã soi sáng lên một vùng ẩn náu của lòng trai. Nơi đây tiết ra hương vị ngọt ngào của tình yêu, nơi đây lý trí tỏ ra khách quan, để mặc cho tình cảm vương vấn hương tình...Và ở trong thơ ông, thường có những niềm sầu man mác...

Con nhà thơ Nguyễn Đình Thư là Tiến sĩ Nguyễn Quốc Vọng (Việt kiều Australia), đây là một chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực nghiên cứu và lai tạo các giống rau quả châu Á tại Australia. Gần đây, ông Vọng đã về nước Việt và thực hiện nhiều dự án cho quê hương.

Trích giới thiệu hai bài thơ của Nguyễn Đình Thư:

Đến chiều
Tôi yêu là bởi tôi yêu
Cầm tay cô hỏi hỏi nhiều làm chi?
Khi yêu không đắn đo gì
Phân phô chừ biết nói vì cớ sao.
Huống hồ yêu tự khi nào,
Hôm qua lòng thấy ngọt ngào mới hay.
Gạn gùng nông cạn phơi bày,
Họa chăng có một điều này đơn sơ:
Thuyền tình đã gặp người đưa,
Giong khơi không lẽ đôi giờ rồi thôi.
Tin nhau ai nói bằng lời
Và mai ai biết xa vời bao nhiêu?
- Một thương là sự đã liều
Thì theo cho đến xế chiều chứ sao!
(Hương màu)

Sang ngang
Lòng tôi như chiếc thuyền nan,
Tình cô như khách sang ngang một chiều.
Thu nào quá đỗi cô liêu,
Bờ hun hút nắng hiu hiu buồn...
Qua rồi thôn cách bến sương,
Phất phơ áo nhạt mất đường lau không.
Vô tình đâu biết trên sông
Có người ngang lái còn trông dõi mình.
(Hương màu)

Tham khảo:
- Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam. Nxb Văn học in lại năm 1988, tr. 359-361.
- Nguyễn Tấn Long, Thi nhân tiền chiến (quyển hạ). Nxb Sống mới, Sài Gòn, 1969.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Bùi Thuỵ Đào Nguyên

Giới thiệu nhà thơ tiền chiến Đỗ Huy Nhiệm
Tác giả: Bùi Thuỵ Đào Nguyên



Đỗ Huy Nhiệm (16/3/1915 - ?), bút danh Đỗ Phủ, Thiếu Lăng. Ông quê gốc ở Phú Yên, nhưng sinh ra ở Nam Định. Trước ông họ Hồ, sau đổi ra họ Đỗ. Thuở nhỏ, ông học ở Nam Định cho đến khi đỗ bằng Thành chung, rồi lên Hà Nội học tiếp cho đến khi thi đỗ Tú tài. Khoảng năm 1941, ông vào làm ở Sở Trước bạ Hà Nội. Tháng 10 năm 1941, ông được Hoài Thanh và Hoài Chân viết bài giới thiệu trong quyển "Thi nhân Việt Nam" (xuất bản năm 1942). Ông có thơ đăng trên các báo thời bấy giờ, như: Phụ nữ thời đàm, Tân thiếu niên, Tiến hóa, Văn học tạp chí, Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ năm... Tháng 9 năm 1968, Đỗ Huy Nhiệm lại được Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng giới thiệu trong bộ sách "Thi nhân tiền chiến", xuất bản tại Sài Gòn năm 1969.

Không rõ Đỗ Huy Nhiệm còn sống hay đã mất.

Tác phẩm của ông, có:
- Khúc ly tao (thơ, 1934)
- Thiên diễm tuyệt (thơ, 1936)
- Tiền kiếp (tập truyện ngắn, Tam Kỳ thư xã Hà Nội xuất bản, 1943)

Mặc dù được đào tạo trong môi trường tân học, nhưng Đỗ Huy Nhiệm lại chịu ảnh hưởng khá nhiều của nền văn hóa phương Đông. Trong số các nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc, ông rất say mê Đỗ Phủ, Khuất Nguyên, cho nên ông đã lấy tên và hiệu của Đỗ Phủ làm bút danh, lấy tên tập thơ (Ly tao) của Khuất Nguyên làm tên cho Khúc ly tao của mình. Không chỉ có vậy, theo Hoài Thanh và Hoài Chân, thì những vần thơ của ông còn "phảng phất giọng Đường".

Đánh giá sự nghiệp văn chương của Đỗ Huy Nhiệm, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Ngọc Lan viết đại để như sau: Thơ ông nói về thứ tình cảm muôn thủa của con người, nhưng đã có thêm “một chút xôn xao mới” (theo Thi nhân Việt Nam). Đó là những hồi ức về tuổi thơ hồn nhiên (Tuổi thơ, Xuân hoài, Âm thầm); là sự say mê, sự đồng cảm, những giận hờn nũng nịu, và cả những tình yêu đơn phương cùng nỗi sầu chi biệt (Vạn vật, Đôi ta, Thẹn, Truyện thần tiên, Bắt đền, Thẹn lời, Nhớ, say, Đêm chia biệt, Mưa, Bóng yêu đương); là hoài niệm giữa một thiếu nữ khuê phòng với một người đã trót mang một kiếp gió mây (Kiếp gió mây), giữa người khách tài hoa phiêu lãng với nàng ca kỹ trên bến Cô Tô (Phóng lãng, Thu hoài)...Tuy nhiên, thơ ông khác với lối tả tình sướt mướt lúc bấy giờ. Đó là chỉ những lời kể chuyện tâm tình nhẹ nhàng, nỗi buồn cũng dịu nhẹ, man mác, có khi đan xen giữa hồi ức và hiện tại.

Về hình thức, thơ ông “phảng phất giọng Đường thi” (theo Thi nhân Việt Nam), nhưng câu thơ không bị gò bó bởi niêm luật, cách diễn đạt đã “tự do” hơn về câu chữ. Tuy bút pháp của ông không có gì thật mới lạ, song nó có sự mượt mà, bình dị, ít triết lý và cách diễn đạt tâm lý cũng đã khá tinh tế...

Ngoài thơ, Đỗ Huy Nhiệm còn viết văn xuôi. Tập truyện Tiền kiếp của ông gồm 9 truyện ngắn, phần lớn viết phỏng theo lối truyền kỳ. Ở đó, nhờ ông chú ý mô tả cảnh sắc thiên nhiên, phần nào khai thác được tâm lý nhân vật…nên đã tạo được một không khí vừa cổ xưa, vừa hiện đại. Cách hành văn trong tập truyện này cũng tương đối giản dị, ngắn gọn (theo Từ điển Văn học [bộ mới]. Nxb Thế giới, 2004, tr. 439).

Trong quyển "Thi nhân Việt Nam", ông có ba bài thơ được tuyển giới thiệu, đó là: "Đìu hiu", "Hoa tủi" và bài "Thơ say" sau:

Thơ say

Buồn ở đâu theo tối xuống rồi,
Đã tràn u ám cả hồn tôi
Đang ngồi say khướt bên ao vắng
Tha thẩn nhớ người không nhớ tôi.

Viết vội mấy dòng kẻo ý tan
Đang khi hồn ở chốn mơ màng
Để mong ân ái vài giây phút
Giữa lúc say say tưởng cạnh nàng.

Viết được mấy dòng rặt những: em
Thế rồi khoa chén uống huyên thiên
Bởi vì mai tỉnh, giờ vui hết,
Nàng sẽ quay về ở chốn tiên.

Người ở tiên cung vốn lạnh lùng
Có bao giờ bận với yêu mong.
Mà tôi yêu lắm, tôi mong lắm,
Nàng có bao giờ biết thế không?

Chả nhẽ suốt đời trong mộng tưởng
Chỉ say mới dám ngỏ yêu nàng!
Lòng ơi! Gió đã về bên ấy
Còn đợi bao giờ nhắn ý sang?

*

Qua đã say rồi, nay lại say,
Rượu vơi, buồn vẫn lẩn đâu đây.
Nghiêng hồ tôi rót cho đầy chén
Để giữ người yêu hết trọn ngày.

Nàng chỉ thăm tôi những lúc buồn,
Khi hồ đầy rượu, buổi hoàng hôn,
Lúc hồn chuếnh choáng say say ấy
Rồi lại quay về tận cuối thôn.

Nàng về thôn nảo thôn nao ấy
Sau núi nghiêng nghiêng đá trập trùng
Những buổi chiều vàng, sau nắng lạt,
Theo chiều lại đến với yêu mong.

Chiều nay nàng đến trong ly rượu
Tôi uống vơi vơi hết cả nàng.
Tôi uống dặt dè từng hớp một,
Sợ mai nàng bận chẳng buồn sang.

Trăng đã lên cao. Rượu cạn rồi,
Cả nàng đã đẫm cả hồn tôi.
Ngày mai rượu hết nghiêng hồ rỗng
Vét chút hương còn ép sát môi.


(Đăng lần đầu trên "Tiểu thuyết thứ năm", chép theo "Thi nhân Việt Nam" bản in năm 1988 của Nxb Văn học, tr. 261)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Bùi Thuỵ Đào Nguyên

Giới thiệu nhà viết kịch, nhà thơ tiền chiến Phan Khắc Khoan
Tác giả: Bùi Thuỵ Đào Nguyên



Phan Khắc Khoan (1916-1998), bút hiệu: Chàng Chương, Hồng Chương; là nhà giáo, nhà viết kịch và là nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Ông cùng với Phạm Huy Thông, là hai người đầu tiên sáng tác ra thể loại kịch thơ ở Việt Nam, và đã có những vở diễn thành công trên sân khấu.

Ông sinh ngày 5 tháng 6 năm 1916 tại làng Yên lăng, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Mồ côi mẹ từ thuở bé, năm ông 15 tuổi, thì cha ông (Hàn Phu) bị mù. Do mẹ mất sớm, Phan Khắc Khoan phải đến ở với ông bà nội. Ông nội là một nhà khoa bảng, nổi tiếng thơ văn nhưng nhà nghèo. Ông ngoại là một quan chức, vì tham gia phong trào Văn thân chống Pháp, nên bị giáng chức; còn bác dượng ông thì tham gia phong trào Cần vương, nên cũng bị đày đi Guyane thuộc Pháp.

Thuở nhỏ, ông học trường huyện (Yên Thành), trường Vinh (Nghệ An), tốt nghiệp bằng Thành chung rồi dạy tư ở Huế. Sinh trưởng trong cảnh nghèo khổ, lại sớm tiếp thu tư tưởng của các nhà cách mạng (như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh) cùng với không khí sục sôi lúc bấy giờ (năm 1930-1931, phong trào Xô Viết Nghệ-Tĩnh nổ ra)...khiến ông bắt đầu nảy ra ý nghĩ sẽ làm chính trị bằng văn chương.

Năm 1940, vở kịch thơ Trần Can của ông ra đời. Kể từ đó, ông liên tiếp cho xuất bản hoặc cho trình diễn nhiều kịch bản mới. Ngoài viết kịch, Phan Khắc Khoan còn làm thơ, viết bài bình luận cho các báo chí đương thời, như: Phong Hóa, Hà Nội tân văn, tuần báo Quê hương, Thế giới Mới, Tri tân, Trung Bắc chủ nhật,...trong số đó có nhiều bài đã bị ngành chức năng kiểm duyệt cắt bỏ.

Tháng 7 năm 1941, ông được Hoài Thanh và Hoài Chân viết bài để giới thiệu trong quyển "Thi nhân Việt Nam", xuất bản năm 1942. Trước Cách mạng tháng Tám, ông cùng với nhạc sĩ Lê Mộng Bảo, Lê Mộng Đào, họa sĩ Phạm Viết Song thành lập một nhóm kịch. Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Phan Khắc Khoan dạy học tại quê nhà (Nghệ An). Năm 1955, ông ra Hà Nội, tiếp tục nghề dạy học. Năm 1957, ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam.

Năm 1965-1973, ông bị tạm giữ và phải chuyển lên sống ở Tuyên Quang, Lào Cai, Vĩnh Phúc vì bị nghi vấn về tư tưởng (1). Tháng 11 năm 1967, ông lại được Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng giới thiệu trong bộ "Việt Nam thi nhân tiền chiến" (quyển trung), xuất bản năm 1968 tại Sài Gòn. Năm 1973, ông được về lại Hà Nội sinh sống với gia đình.

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, Phan Khắc Khoan vào sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, bỏ hẳn việc sáng tác, chỉ còn phiên dịch một vài tập thơ văn. Ngày 13 tháng 12 năm 1998 (website của Hội nhà văn Việt Nam ghi ngày 14), Phan Khắc Khoan mất tại Hà Nội, thọ 72 tuổi.

Theo thống kê chưa đầy đủ, Phan Khắc Khoan đã để lại một số tác phẩm như sau:

Kịch thơ:
- Trần Can (Quê Hương Hà Nội xuất bản, 1940)
- Lý Chiêu Hoàng (Quê Hương Hà Nội xuất bản, 1942)
- Gươm tráng sĩ (vở đã diễn năm 1942, nhưng chưa in thành sách)
- Hiếu và tình (vở đã diễn năm 1942, nhưng chưa in thành sách)
- Nguyễn Hoàng (vở đã diễn năm 1942-1043, nhưng chưa in thành sách)
- Hoàng tử Cảnh (vở đã diễn năm 1942-1943, nhưng chưa in thành sách)
- Cô Tô đài (vở đã diễn năm 1943, nhưng chưa in thành sách)
- Phạm Thái (hay "Giấc mộng Tiêu Sơn", 1943. Kịch thơ phỏng theo tiểu thuyết "Tiêu Sơn tráng sĩ" của Khái Hưng)
- Mắt tiên nga (vở đã diễn năm 1943, nhưng chưa in thành sách)
- Quỳnh Như (1944)
- Hờn vong quốc (1945)
- Lá cờ (1945)
- Máu anh nhi (1945)
- Gương phụ nữ (1945)
- Mầm tin (1945)
- Mưu Lý Việt (vở đã diễn năm 1947, nhưng chưa in thành sách)
- Lớp học tân tiến (vở đã diễn năm 1947, nhưng chưa in thành sách)
- Hùng ca tráng khúc (vở đã diễn năm 1947, nhưng chưa in thành sách)
- Tình xuân và chiến sĩ (vở đã diễn năm 1948, nhưng chưa in thành sách)

Kịch nói:
- lý tưởng (1940)
- Một ra đi (1945)
- Tinh thần lão trượng (1945)

Thơ:
- xa (Quê Hương Hà Nội xuất bản, 1942)
- Lòng nghĩa khí (1945)
- Thanh niên Xô Viết
- Ông Xô Viềt trên bờ Vônga
- Hư vô (dịch thơ Ôma Khayam, nhà thơ người Iran. Quê Hương Hà Nội xuất bản)
- Góc phố (thơ J.Prêve, nhà thơ người Pháp).
- Những mối tình của một họa sĩ già trên quần đảo Mackizơ (kịch của nhà cách mạng Kỳ Đồng viết bằng tiếng Pháp)

Ngoài ra, ông còn nhiều tập thơ chưa xuất bản, vì theo tác giả "Thi nhân Việt Nam", thì: ngoài tập Xa xa, Phan Khắc Khoan còn làm vô số thơ. Nhân hỏi xem, tôi đã nhận được một lần mười một tập. Kèm với một lá thư đại khái nói: "đây chỉ chừng một nửa thi phẩm của tôi"...

Nói về Phan Khắc Khoan, Võ Văn Trực, tác giả quyển Những gương mặt văn chương hiện đại (Nxb Thanh Niên, 2008) và là một học trò của ông, kể lại: Thầy (Phan Khắc Khoan) thường dựng những nhân vật tráng sĩ vung thanh gươm xoay vận nước với những lời thơ hào sảng. Và những nhân vật đó cứ ám ảnh thầy hàng ngày trong lúc làm việc hay cả trong lúc rong chơi...

Phạm Đình Giang là học trò cưng của thầy Khoan, thường rủ tôi đến chơi nhà thầy. Một hôm chủ nhật, thấy nhà thầy đóng kín cửa, nhưng lại có tiếng động ở trong. Gõ cửa mãi, không có ai mở, chúng tôi tự mở cửa vào thì thấy thầy đang vừa nhảy ngựa (ngựa tưởng tượng) vừa ngâm thơ: "Thiên địa phong trần/ Hồng nhan đa truân/ Du du bỉ thương hề thùy tạo nhân".... áo quần tóc tai thầy ướt đẫm mồ hôi...

Trước Cách mạng tháng Tám, thầy có lập một đoàn kịch chuyên diễn kịch thơ ở Hà Nội, Vinh, Nam Định, Huế, Bắc Ninh... Thầy vừa là tác giả kịch bản vừa là đạo diễn vừa là diễn viên...Mỗi khi nói đến đâu thầy tự minh họa đến đấy. Thầy nhảy trên sân khấu từ góc này sang góc kia, kéo chiếc phông cánh quàng lên vai như quàng một chiếc áo bào để làm tráng sĩ xông ra sa trường. Thầy ngâm những câu thơ trong các vở kịch cũ đã viết...Có người nghĩ, thầy hay ngâm những câu thơ hùng dũng của nhân vật tráng sĩ, chắc phải là người to lớn vạm vỡ và tướng mạo phương phi lắm? nhưng không, dáng người thầy thanh mảnh và nho nhã, chẳng qua vì quá yêu nhân vật của mình nên thầy thuộc làu những lời thơ của nhân vật mà thôi...

Những năm cuối đời, chị Võ Thị Băng Thanh (vợ thầy) cùng các con cháu thường xuyên chăm sóc thầy bên giường bệnh, và cũng đã quen với những cơn mơ tráng sĩ của thầy...


Xét về tác phẩm, thì Phan Khắc Khoan nổi bật hơn cả ở loại hình kịch thơ. Kịch thơ của ông thường khai thác đề tài lịch sử, mang nhiều kịch tính căng thẳng, nhưng cũng rất lãng mạn và trữ tình. Chủ đề kịch thường xoay quanh việc cổ vũ chí khí của kẻ làm trai và trách nhiệm của họ trước thời cuộc. Theo Đặng Văn Lung trong Từ điển Văn học (bộ mới), thì: Có vở như Trần Can đã được công diễn khắp các thành thị, từ Nam chí Bắc, ở đâu cũng được hoan nghênh, góp phần khích lệ lòng yêu nước của tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ.

Ở thơ, "Xa xa" là tác phẩm nổi bật nhất của Phan Khắc Khoan, được viết khi ông mới khoảng 20 tuổi (1936). Đề cập đến thi phẩm này, trong quyển "Thi nhân Việt Nam" có đoạn viết: Hình như một cuộc tình duyên không toại đã vì tác giả khơi nguồn thơ...Cả tập Xa xa đượm một mối buồn vô hạn, một nỗi nhớ không nguôi. Tuy chỉ là nỗi lòng riêng, nhưng lời thơ nhân đó có cái buồn bát ngát, cái nhớ nhung khó hiểu của những nơi trời nước mênh mông...

Bên cạnh đó thơ ông, cũng như kịch của ông, rất giàu màu sắc chính trị, vì luôn kêu gọi tuổi trẻ đấu tranh, đòi quyền sống, đòi tự do ngôn luận; đồng thời cũng ca ngợi sức sống của dân tộc, cổ vũ tinh thần chống ngoại xâm...

Nhìn lại số tác phẩm trên, phải nhận rằng nguồn sáng tác của ông quá phong phú, nhưng cũng quá “dễ dãi”. Hoài Thanh và Hoài Chân trong "Thi nhân Việt Nam" đã nói đến điều này như sau: ...cái tính dễ dãi của Phan Khắc Khoan thực dễ sợ! Ai lại đi xe lửa hạng tư chật không một chỗ đứng, từ Huế ra Thanh, mà làm luôn một thôi năm bài thơ dài! Cho nên Phan Khắc Khoan thường không hay đi sâu vào hồn mình để tìm thấy những điều riêng biệt...

Trích giới thiệu một đoạn trong tác phẩm kịch thơ "Phạm Thái" (1943):

(Phạm Thái say gục xuống, trong mơ hiện ra một tráng sĩ vừa múa gươm vừa hát)
* Tráng sĩ:
Ta, tráng sĩ chừ gặp thời loạn lạc,
Như cá trong nước chừ ta vẫy vùng;
Bỏ bút nghiên chừ đồ vô dụng,
Một gươm, một ngựa, chừ cây cung.
Với lòng dũng cảm chừ với chí lớn;
Ta xông xáo chừ đám mông lung.
Chiếc chiến bào của ta chừ đẫm máu,
Bên tai ta chừ pháo nổ đì đùng.
Ta, tráng sĩ chừ gặp thời loạn lạc,
Như cá trong nước chừ ta vẫy vùng…
(Người tráng sĩ biến đi. Phạm Thái tỉnh dậy, nhớ đời hoạt động xưa, bỗng hăng hái và sôi nổi)
* Phạm Thái:
Đâu Phạm Thái, người nam nhi tráng sĩ?
Đâu rực rỡ ánh ngôi sao hùng vĩ?
Đâu đồi cao Tiêu lĩnh ngát trầm hương?
Đâu oai hùng chí mạnh đảng Tiên Sơn?
Đâu đâu cả?
Đâu ngọn kiếm oai linh vụt đầu rơi bay lả tả?
Ôi, ta say rồi!
Hay quanh ta mộng tỏa khắp năm trời?
Ô be chén,
Hồn thơ mộng hay lả hồn chinh chiến?
(Phạm Thái lại say lịm, trong mơ Quỳnh Như hiện ra phơ phất và huyền ảo)
* Quỳnh Như:
Ai như chàng phải chăng chàng?
Cõi mơ thiếp lại bàng hoàng trong mơ.
Phải chăng hồi trước làm thơ,
Vung lòe kiếm sắc đợi chờ hứng trăng.
Rồi tan mộng tưởng cùng hăng,
Hồn tro khói lạnh lòng băng giá chìm…
Say đi chàng cứ say đi!
Tỉnh ra khi nỗi buồn khi mộng tàn.
Say đi chàng cứ làm thơ,
Đành không thắng nỗi nước cờ bại vong
Thì long đong cứ long đong,
Chẳng qua hỗn loạn một vòng nhân sinh…
...
Thì làm thơ cứ làm thơ,
Đành không xóa nổi cuộc cờ nhân gian
Thì say uống mãi ngâm tràn,
Hồn mơ đến tận non ngàn tìm nhau...
(Chép theo "Việt Nam thi nhân tiền chiến" [quyển trung], tr. 260-261)

Trích trong tập thơ Xa Xa:

Nước chiều đã cạn sông bày cát
Nhưng chiếc đò ngang vẫn đợi chờ
Người thưa, khách vắng…buồn man mác,
Cô lái buồn trong dãy núi mờ.
*
Ai đứng trong buồn mong mỏi bạn
Trở về với những khúc ca hoan?
-Tổ chim bỏ vắng trên cành nhạn
Đã kể cho người chuyện hợp tan.
*
Cây vươn trên nước rủ bơ phờ.
Gió nhẹ vờn sương thổi vật vờ,
Chiều đuối, chiều tàn, chiều lặng lẽ,
Đò qua sông vắng lướt trong mơ.
*
Buồm ai thấp thoáng ngoài xa mịt
Ta chẳng quen người cũng ngó theo…
Ai người chẳng biết buồn ly biệt
Lúc cánh buồm giương ai nhổ neo?
*
Tôi vừa ra đó quên cầm sách
Gió đã lòn vài dở đếm trang,
-À mà trong vắng trong xa cách
Có lẽ bao nhiêu nỗi phụ phàng!
(chép theo "Thi nhân Việt Nam". tr. 276-278).

Hờn nam nhi

(trích)
…Kiếp xưa chắc phụ bao hùng khí,
Ngày nay ngơ ngác làm thi sĩ,
Ngọn trúc mơ lầm ngọn kiếm linh,
Ngày nay chí lỡ, gươm hoen rỉ.

Người xưa ném bút theo đao cung,
Cán bút ta nâng luống thẹn thùng,
Ví bằng bút phụ lời ta nguyện,
Biết kiếp nào đây sáng nghiệp hùng.

Trần Can, Phạm Thái, ôi Kinh Kha!
Bao nhiêu uất hận đày tim ta.
Gươm, bút một thời thôi để hận,
Ngàn năm sự nghiệp há tiêu ma?...
...
Đìu hiu thu đất khách,
Ngơ ngác một hồn trai.
Giữa đời đông đúc, thân cô chích,
Thiên hạ tri âm, nào những ai?

Đời xưa, mong thạnh trị,
Mà không biết Khổng khâu.
Đời nay, người mất trí,
Còn ai biết ai đâu?...

(Theo báo Thanh Niên, số 37 ra ngày 12 tháng 8 năm 1944)

1. Chép theo Từ điển Văn học ([bộ mới]. Nxb Thế giới, tr. 1390). Chưa có thông tin chi tiết. Nhưng theo một viết trên website tại địa chỉ sau đây thì rất có thể Phan Khắc Khoan bị đày vì dính líu với phong trào Nhân văn- Giai phẩm tại miền Bắc. http://www.thienky.com/x/...ions&msg=1147382719].

Tham khảo:
- Thái Văn Lung trong Từ điển Văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, 2004.
- Hoài Thanh & Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam. Nxb Văn học in lại năm 1988.
- Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung), xuất bản năm 1968 tại Sài Gòn.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 7 trang (63 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [4] [5] [6] [7]