Trang trong tổng số 7 trang (63 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Vanachi

Nho giáo và văn hóa Việt Nam
Tác giả: (Không rõ)



Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, "Nho" là một danh hiệu chỉ những người có học thức, biết lễ nghi. Chữ nho gồm bộ "nhân" ở bên trái là người và chữ "nhu" bên phải là cần ghép lại là : nhà Nho là người cần cho thiên hạ. NHO GIáO là hệ thống giáo lý của các nhà Nho nhằm mục đích tổ chức xã hội có hiệu quả. Những cơ sở của nó được hình thành từ đời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán. Chu Công Đán là con thứ Chu Văn Vương, em ruột Chu Võ Vương. Ông là cố vấn văn hóa và chính trị của nhà Chu, là chú ruột Chu Thành Vương và phụ chính của Thành Vương khi ông này lên ngôi thay cha lúc còn nhỏ tuổi. Chu Công đã đúc kết kinh nghiệm của các thị tộc Hạ, Thương trước đó mà xây dựng nên một thứ chính trị để trị nước (bộ lạc) và bình thiên hạ (liên minh bộ lạc). Đến đời Xuân Thu, xã hội loạn ly KHổNG Tử mới phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và tích cực truyền bá. Vì vậy, ông thường được xem là người sáng lập Nho giáo.

Khổng Tử tên là Khâu tự là Trọng Ni, sinh ngày 27.8 năm 551 tr.CN tại ấp Trâu, làng Xương Bình nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phu, tỉnh Sơn Đông) trong một gia đình mà ông tổ ba đời vốn thuộc dòng quý tộc sa sút từ nước Tống dời sang nước Lỗ.

Cha Khổng Khâu làm một chức quan võ ở ấp Trâu, ngoài 70 tuổi lấy Nhan thị làm vợ ba mà sinh ra ông. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha, lớn lên, phải làm lụng vất vả đế giúp mẹ, nhưng rất ham học. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho. Năm 20 tuổi sinh con đặt tên là Khổng Lý, tự là Bá Ngư.

Từ năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học. Học trò gọi ông là Khổng Tử (thầy Khổng). Từ năm 34 tuổi, trong suốt gần 20 năm, Khổng Tử dẫn học trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá tư tưởng của mình và tìm người biết dùng để thực hành. Có nơi Khổng Tử được kính trọng, nhưng nhiều nơi thầy trò bị bỏ đói, bị dọa giết, và đạo của ông thì chẳng ai dùng. Một lần vào lúc 51 tuổi, khi đã về nước Lỗ, ông được giao coi thành Trung Đô, một năm sau được thăng đến chức Đại tư khấu (coi việc hình pháp), kiêm quyền tể tướng , sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị. Nhưng rồi bị ly gián, dèm pha, ông bèn từ chức và lại một lần nữa ra đi.

Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách. Ông mất tháng 4 năm 479 tr.CN, thọ 73 tuổi.

Sách Kinh điển của Nho giáo gồm 2 bộ .

Bộ thứ nhất là Ngũ kinh gồm 5 cuốn, phần lớn có từ trước Khổng Tử; Khổng Tử đã gia công san định, hiệu đính và giải thích. Năm cuốn đó là :1. Kinh thi là sưu tập các thơ ca dân gian, có từ trước Khổng Tử trong đó thơ ca về tình yêu nam nữ khá nhiều; Khổng Tử đã gia công, san định, chọn lọc còn hơn ba trăm thiên. Khổng Tử muốn dùng Kinh Thi để giáo dục cho mọi người một tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt tư tưởng khúc chiết rõ ràng.

2. Kinh thư ghi lại những truyền thuyết và biến cố về các đời vua cổ, cũng có từ trước Khổng Tử, ông gia công, san định lại những mong đem gương những ông vua anh minh như Nghiêu, Thuấn và tàn bạo như Kiệt, Trụ làm gương cho đời sau.

3. Kinh lễ (vốn gọi là Lễ ký) ghi chép những lễ nghi thời trước; Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện duy trì và ổn định trật tự xã hội, dạy cho người "không biết cách đi đứng ở đời".

4. Kinh dịch khởi thủy vốn là một sưu tập những khái niệm âm dương, bát quái...ở dạng ký hiệu. Thời Chu, Chu Văn vương đã đặt tên và giải thích các quẻ của Bát quái (gọi là Thoán từ), lại lập ra Bát quái hậu thiên. Chu Công Đán giải thích chi tiết từng hào trong mỗi quẻ (gọi là Hào từ). Từ bộ "Chu dịch" đó, Khổng Tử đã giảng giải rộng thêm, sâu thêm thành Thoán truyện và Hào truyện và trình bày thứ tự rõ ràng hơn.

5. Tác phẩm duy nhất mà Khổng Tử biên soạn là Kinh Xuân Thu ghi chép lịch sử nước Lỗ quê hương ông. Khổng Tử theo đuổi mục đích trị nước của mình cho nên ông dụng tâm chọn lọc các sự kiện, ghi kèm theo những lời bình, thậm chí sáng tác thêm những lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa.

Đúng ra, bộ sách đang bàn không phải "ngũ" mà là lục kinh : ngoài 5 cuốn trên còn có Kinh Nhạc do Khổng Tử hiệu đính. Nhưng vì về sau Kinh Nhạc bị thất lạc, chỉ còn lại một ít được ghép chung vào Kinh Lễ thành một thiên gọi là Nhạc ký, cho nên "Lục kinh" thành ra chỉ còn Ngũ kinh.

Sau khi Khổng Tử mất, học trò tập hợp những lời dạy của thầy lại mà soạn ra cuốn Luận ngữ (các lời bàn luận). Học trò xuất sắc của Khổng Tử là Tăng Sâm (thường gọi là Tăng Tử) dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại học nói về "cái đạo của bậc đại học" . Khổng Cấp, thường gọi là Tử Tư, cháu nội của Khổng Tử, học trò Tăng Tử, viết ra Trung dung nhằm phát triển tư tưởng của Khổng Tử về cách sống dung hòa, không thiên lệch. Đến thời Chiến quốc, xã hội loạn lạc, các học phái nổi lên như nấm, có Mạnh Kha (khoảng 390 – 305 tr.CN), thường gọi là Mạnh Tử, học trò Tử Tư, là người kế tục xuất sắc tư tưởng của Khổng Tử, những lời của ông được học trò về sau biên soạn lại thành sách Mạnh Tử. Thời Hán, "Đại học" và "Trung dung" chỉ là hai thiên trong "Lễ ký", đến đời Tống, chúng được tách ra và cùng với Luận ngữ, "Mạnh Tử" gọi là Tứ thư. "Tứ thư" và "Ngũ kinh" trở thành hai bộ sách gối đầu giường của Nho gia.

Mạnh Tử đã khép lại một giai đoạn quan trọng - giai đoạn hình thành Nho giáo. Đó là Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiên Tần (trước thời Tần). Khởi đầu từ Khổng Tử và kết thúc bằng Mạnh Tử nên triết lý Nho giáo nguyên thủy cũng được gọi là tư tưởng Khổng Mạnh.

2. Nội dung cơ bản, ngọn nguồn và sự phát triển của Nho Giáo

Như đã nói, thực chất của Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để làm được điều đó, điều cốt lõi là đào tạo cho được những người cai trị kiếu mẫu - mẫu người lý tưởng đó gọi là QUÂN Tử (quân= cai trị; quân tử : người cai trị).

Để trở thành người quân tử trước hết là phải tự đào tạo, phải tu thân. Có ba tiêu chuẩn chính :

1. Đạt "đạo" : Đạo là con đường, là những mối quan hệ xã hội mà con người phải biết cách ứng xử trong cuộc sống : " Đạt đạo trong thiên hạ có 5 điều : đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo kết giao bè bạn" (Trung dung). Năm đạo đó gọi là ngũ luân (luân = thứ bậc, đạo cư xử). Trong xã hội, cách ứng xử tốt hơn cả là trung dung (dung hòa ở giữa). Khổng Tử nói : "Trung dung là đức cực đẹp vậy, ít người giữ được đức đó lâu" (Luận ngữ).

2. Đạt "đức" : Người quân tử, theo Khổng Tử , nếu có ba điều Nhân - Trí - Dũng thì gọi là đạt đức (Trung dung). Về sau, Mạnh Tử bỏ "dũng" mà thay bằng "lễ, nghĩa" thành 4 đức : nhân, nghĩa, lễ, trí ( Đến đời Hán thêm "tín" thành 5 đức gọi là ngũ thường).

3. Ngoài các tiêu chuẩn về "đạo" và "đức" , người quân tử còn phải biết thi - thư - lễ - nhạc. Khổng Tử nói rằng con người "hưng khởi trong lòng là nhờ học Thi, lập thân được là nhờ biết Lễ, thành công được là nhờ có Nhạc" (Luận ngữ). Nói cách khác, Khổng Tử đòi hỏi người cai trị phải có một vốn văn hóa toàn diện.

Tu thân rồi, bổn phận của người quân tử là phải hành đạo, phải ra làm quan, làm chính trị. Nội dung của hành đạo là tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong công việc cai trị là hai phương châm:

Phương châm thứ nhất là nhân trị. Nhân là tình người. Nhân trị là cai trị bằng tình người, cai trị bằng tình người là yêu người, là coi người như bản thân mình. Khi Phàn Trì hỏi về Nhân, Khổng Tử đáp "Yêu người" ( Luận ngữ) ; còn khi Trọng Cung hỏi thế nào là Nhân, Khổng Tử trả lời : "Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác" (Luận ngữ). Khổng Tử coi nhân là phạm trù cao nhất của luân lý, đạo đức, là gốc của lễ nhạc, ông nói : "Người không có Nhân thì lễ mà làm gì ? Người không có Nhân thì nhạc mà làm gì ?" (Luận ngữ).

Phương châm thứ hai là chính danh. Khi học trò là Tử Lộ hỏi : "Nếu vua nước Võ mời thầy giúp cai trị, thầy làm gì trước ? " thì Khổng Tử đáp : "ắt phải chính danh đã...Nếu danh không chính thì lời nói không thuận. Lời nói không thuận tất việc chẳng thành" (Luận ngữ). Chính danh tức là sự vật phải ứng với tên gọi, mỗi người phải làm đúng với chức phận của mình . Chính danh trong cai trị, như lời Khổng Tử nói với Tề Cảnh Công là phải làm sao để "vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con" (Luận ngữ).

Nho giáo có nguồn gốc từ đâu ? Câu hỏi này xưa nay ít người đặt ra bởi lẽ câu trả lời dường như quá hiển nhiên : Nho giáo bắt nguồn từ trung Hoa.

Đúng ra, Nho giáo là đứa con tinh thần được ra đời và nuôi dưỡng bởi hai dòng sữa : truyền thống văn hóa du mục phương Bắc và truyền thống văn hóa nông nghiệp phương Nam.

Chất du mục phương Bắc mà Nho giáo nguyên thủy đã hấp thụ thể hiện ra nổi bật ở các điểm sau :

Thứ nhất là tham vọng "bình thiên hạ". Coi trọng cái quốc tế và coi nhẹ cái quốc gia, chính là một trong những nét đặc trưng của truyền thống văn hóa gốc du mục, bản thân Khổng Tử đã trên một lần rời nước Lỗ quê hương đến các nước để tìm minh chủ. Tư tưởng bá quyền, coi khinh các dân tộc nơi miền biên viễn cũng chi phối ông rất rõ rệt : "Các nước Di, Dịch dù có vua cũng không bằng Hoa Hạ không vua" (Luận ngữ) .

Quan niệm về một xã hội trật tự ngăn nắp , có tôn ti trên dưới rõ ràng, thể hiện qua thuyết chính danh cũng là một sản phẩm của truyền thống văn hóa gốc du mục phương Bắc với nếp sống chặt chẽ kỷ cương được đảm bảo bằng sức mạnh.

Còn chất nông nghiệp phương Nam mà Nho giáo nguyên thuỷ đã tiếp thu thể hiện nổi bật ở các điểm sau :

1. Việc đề cao chữ "Nhân" và nguyên lý "Nhân trị" có nguồn gốc từ lối sống trọng tình của người nông nghiệp phương Nam. Có lần Tử Lộ hỏi về cái mạnh, Khổng Tử đã trả lời rất rõ : "Hỏi về cái mạnh của phương Nam ư ? Hay là cái mạnh của phương Bắc ư ?... Khoan hòa mềm mại để dạy người không báo thù kẻ vô đạo - ấy là cái mạnh của phương Nam, người quân tử ở vào phía ấy. Xông pha gươm giáo, dầu chết không nản, ấy là cái mạnh của phương Bắc – kẻ mạnh ở vào phía ấy" (Trung dung). Chính do chọn lối sống trọng tình phương Nam cho nên khi nghe ông quan huyện Điệp kể chuyện một người trong huyện mình ngay thẳng tới mức tố cáo cha về tội ăn trộm cừu thì Khổng Tử nói lại ngay : "Cánh chúng tôi thì không thế. Cha giấu tội cho con, con giấu tội cho cha, ngay thẳng là ở trong đó" (Luận ngữ).

2. Việc coi trọng dân có nguồn gốc từ tinh thần "dân chủ" của văn hóa nông nghiệp phương Nam. Khổng Tử nói : "Dân là chủ của thần, vì thế thánh nhân xưa lo xong việc dân mới lo đến việc thần" (Xuân Thu). Tử Lộ hỏi về phép trị dân, Khổng Tử đáp : "Phải khó nhọc vì dân" (Luận ngữ). Tử Cống hỏi về cách cai trị, Khổng Tử nói : Lương thực đủ, binh lực mạnh, dân tin, trong ba điều ấy thì "dân tin" là quan trọng nhất (Luận ngữ). Mạnh Tử còn nói rõ hơn : "Dân là quý, thứ đến đất nước, vua thì xem nhẹ" (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh". Năm mối đạo "ngũ luân" luôn được Nho giáo nguyên thủy lý giải trong tinh thần một thứ quan hệ hai chiều bình đẳng, tôn trọng con người : Quân minh thần trung (vua sáng suốt, tôi trung thành), Phụ từ tử hiếu (cha hiền từ , con hiếu thảo), Phu nghĩa phụ kính (chồng có nghĩa, vợ kính trọng); Huynh lương đệ đễ (anh tốt, em nhường), Bằng hữu hữu tín (bạn bè tin cậy nhau) ; Khi Tử Lộ hỏi về việc thờ vua, Khổng Tử đáp : "Không nên lừa gạt vua, nhưng không ngại xúc phạm vua" (Luận ngữ).

3. Nho giáo nguyên thủy rất coi trọng văn hóa, đặc biệt là văn hóa tinh thần (thi, thư, lễ, nhạc...). tình yêu nam nữ mà kinh Thi nói đến nhiều chính là biểu hiện của tình người, là cái gốc của chữ nhân, cũng là cái gốc của mọi sự. " Đạo quân tử khai mào từ chuyện vợ chồng, tới lúc cùng tội thì bàn đến chuyện trời đất" (Trung dung). Khổng Tử có lần nói "Kinh Thi có thể khiến người ta phấn chấn, có thể khiến người ta quan sát phong tục, có thể khiến người ta hợp quần, có thể khiến người ta phúng thích chính trị đương thời. Gần thì biết đạo thờ cha, xa thì biết đạo thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông cỏ cây" (Luận ngữ). Về nhạc, ông nói : "Khi người ta hiểu thấu được nhạc để dưỡng tâm trí thì những đức nhã nhặn, thành thực sẽ phát triển dễ dàng. . . Cách hay nhất để cải thiện phong tục là . . . xét cho kỹ những bản nhạc trong nước". Việc trọng văn hơn võ cũng có nguồn gốc từ phương Nam nông nghiệp (khác với truyền thống du mục trọng võ hơn văn).

Việc đồng thời dựa vào hai truyền thống văn hóa đối lập nhau - du mục và nông nghiệp - trong một hoàn cảnh xã hội đầy biến động, khiến cho tư tưởng Khổng Mạnh không tránh khỏi có những giằng co, nhiều khi chứa đựng đầy mâu thuẫn.

Mâu thuẫn rõ nhất là trong khi chịu ảnh hưởng của truyền thống dân chủ nông nghiệp coi trọng dân, Khổng Tử vẫn không thoát khỏi lối nghĩ miệt thị dân của kẻ có sức mạnh: "Dân chúng, có thể khiến họ theo, chứ không thể giảng cho họ hiểu được" (Luận ngữ). Ông tỏ sự khinh bỉ họ : "Sở dĩ người quân tử không muốn ở chung với đám hạ lưu vì bao nhiêu tội ác trong thiên hạ dồn cả về đó " (Luận ngữ). Ông muốn dân chủ nhưng cũng không thoát khỏi tính cách du mục trọng nam khinh nữ "Chỉ hạng đàn bà và tiểu nhân là khó dạy. Gần thì họ nhờn, xa thì họ oán" (Luận ngữ), cũng như tư tưởng bá quyền coi thường nước nhỏ.

Khổng Tử chống lại chính sách "pháp trị" của truyền thống du mục nhưng ban đầu ông đã tỏ ra rất lúng túng giữa "lễ trị" và "nhân trị". Khổng Tử nói nhiều đến Lễ trị, vận động các nước chư hầu duy trì cái lễ của nhà Tây chu: "Ta học lễ nhà Chu, hiện đang ứng dụng" (Trung dung). Tuy nhiên, dần dần Khổng Tử có phần bớt bảo thủ hơn. Ông đi đã từ chữ "lễ" cứng nhắc đến chữ "nhân" đôn hậu.

Tuy đầy mâu thuẫn và lúng túng, nhưng rõ ràng là về tư tưởng trong hai truyền thống, Khổng Tử và Nho giáo nguyên thủy đã thiên về truyền thống nông nghiệp phương Nam hơn.

Chính chất nông nghiệp phương Nam này là nguyên nhân gây nên tấn Bi Kịch lớn nhất của Nho giáo : Cái Nho giáo mà Khổng Tử tốn bao công lao gây dựng, vừa có thể nói là rất thành công, lại vừa có thể nói là đã thất bại.

Thất bại, bởi lẽ trong khi các bậc đế vương với truyền thống trọng võ phương Bắc quen cầm quyền theo lối pháp trị và chuyên chế thì Khổng Tử lại chịu ảnh hưởng của truyền thống trọng tình (trọng văn) phương Nam mà khuyên họ nên cầm quyền theo lối nhân trị. Chính vì đi ngược lại xu thế chung như vậy cho nên ngay từ khi còn sinh thời, Khổng Tử luôn muốn làm quan nhưng hầu như chẳng được dùng. Về già, Khổng Tử đã trên một lần tiên đoán về sự suy tàn của đạo mình : "Chim phượng chẳng đến, bức đồ chẳng hiện trên sông Hoàng Hà, ta hết hy vọng rồi !" (Luận ngữ) "Ta đã suy lắm rồi, từ lâu không còn mộng thấy Chu Công" (Luận ngữ); "Thiên hạ không có đạo đã lâu rồi, không ai biết theo ta". Khi sắp mất, nghe đồn có người bắt được con kỳ lân bị què chân trái, Khổng Tứ nước mắt giàn giụa mà nói : "Đạo của ta đến lúc sắp tàn rồi!"

Năm 246 tr. CN, vua Tần là Doanh Chính dùng vũ lực mà thống nhất thiên hạ, lên ngôi hoàng đế (xưa là Tần Thủy Hoàng đế), áp dụng một chính sách cai trị bằng pháp luật độc đoán, chuyên quyền vào bậc nhất, nó đối lập hoàn toàn với chủ trương cai trị bằng tình người dân chủ, bình đẳng của Nho gia. Mâu thuẫn đó là nguyên nhân tất yếu dẫn đến việc nhà Tần tiêu diệt Nho giáo với những hành động tàn bạo đốt sách, chôn Nho nổi tiếng.

Chế độ độc tài của Tần Thủy Hoàng bị phần đông trí thức đương thời, nhất là các môn đệ của Khổng Tử phản đối. Nghe theo lời tâu của thừa tướng Lý Tư, một người theo phái pháp gia, bạn học của Hán Phi, Tần Thủy Hoàng đã cho đốt hết mọi thứ sách vở của nhà Tần. Người nào dám bàn luận về Thi, Thư thì chém bêu đầu ngoài chợ, lấy đời xưa mà chê đời nay thì giết cả họ. Kẻ nào biết mà không tố giác thì chịu cùng tội với phạm nhân. Trong 30 ngày mà không đốt sách thì thích chữ vào mặt cho đi xây và canh giữ Trường Thành. Thất vọng với bạo chúa, có những người được Thủy Hoàng trọng đãi cũng bỏ trốn đi, Thủy Hoàng sai tra xét các nhà Nho, lọc ra 460 người phạm cấm mà đem chôn sống tất cả ở Hàm Dương. Con cả Thủy Hoàng là thái tử Phu Tô can gián liền bị Thủy Hoàng nổi giận đưa lên miền Bắc làm quan (Tư Mã Thiên, Sử ký) .

Chính vì quá chuyên chế độc tài mà chỉ 5 năm sau khi Thủy Hoàng chết, nhà Tần đã sụp đổ; nhà Hán lên thay (năm 202 tr.CN), Hán Cao Tổ Lưu Bang lúc đầu cũng ỷ vào vũ lực coi thường trí thức, văn hóa. Có lần ông nói với Lục Giả : "Ta ngồi trên lưng ngựa mà được thiên hạ, cần gì phải học Thi, Thư". Nhưng rồi Hán Cao Tổ cũng biết rút kinh nghiệm của triều Tần, ông nghe theo lời khuyên của Lục Giả, thủ tiêu các hình phạt hà khắc, giảm nhẹ sưu thuế và trọng dụng trí thức dể bảo vệ ngai vàng.

Hán Vũ Đế (140-87 tr.CN ) là một ông vua sáng suốt đã thực hiện nhiều cải cách quan trọng nhằm tập trung quyền lực vào chính quyền trung ương. Ông đã theo lời khuyên của Đổng Trọng Thư, ra lệnh bãi bỏ các học thuyết khác, lần đầu tiên đưa Nho giáo lên địa vị quốc giáo, dùng nó để làm công cụ để thống nhất đất nước về tư tưởng. Từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống và công cụ tinh thần để bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa suốt hai nghìn năm lịch sử. Không những thế, nó còn được truyền bá khắp các nước miền Đông á; Khổng Tử được tôn lên bậc thánh; trên thế giới, tên tuổi ông không ai là không biết. Nhìn vào những sự kiện hiển nhiên này, ai lại chẳng nói rằng Nho giáo đã rất thành công ! W. Durant viết : "Rốt cuộc đạo Khổng thắng . . . Kinh đã mạnh hơn kiếm"

Thực ra, đây là một sự kiện rất tế nhị. Nó mang tính hai mặt. Xét về hình thức thì đúng là Nho giáo thắng, nhưng trên thực tế thì chính là đạo Khổng thua. Nguyên nhân của cả việc thắng lẫn việc thua đều là ở chất nông nghiệp phương Nam và nho giáo nguyên thủy đã tiếp thu !.

Tại sao nhà Hán đã không chọn các phái khác trong số "trăm nhà" mà lại chọn đúng Nho giáo ? Chính là vì Nho giáo có cái mà các học phái thừa hưởng truyền thống Bắc phương đều thiếu : đó là đường lối nhân trị (cai trị bằng tình cảm và coi trọng dân chủ). Chọn Nho giáo, nhà Hán sẽ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân - những người bấy nay rên xiết bởi chiến tranh và chế độ pháp trị bạo tàn của nhà Tần.

Nhưng lối sống theo tình cảm và dân chủ chỉ thích hợp cho những phạm vi nhỏ hẹp của các làng xã nông nghiệp, khi mọi người đều quen biết nhau, làm sao mà áp dụng được cho một đất nước Trung Hoa rộng lớn ? Để giải quyết mâu thuẫn này, nhà Hán đã áp dụng hai biện pháp.

Một mặt, nhà Hán chỉ đề cao Nho giáo một cách hình thức còn trên thực tế họ vẫn cai trị theo lối pháp gia. Họ chủ trương dương đức, âm pháp hay như sau này có người đặt tên là ngoại Nho, nội Pháp. Đây là một chính sách hai mặt với mục đích mị dân, lấy "Nho" và "nhân trị" làm cái bình phong để che đậy lối cai trị bằng luật pháp hà khắc.

Mặt khác, ngay cả cái Nho giáo hình thức ấy, nhà Hán cũng không giữ nguyên mà đã tiến hành cải tạo, biến đổi nó một cách cơ bản. Người giương ngọn cờ cải cách Nho giáo thời Hán này là Đổng Trọng Thư (170-104 tr. CN). Mục đích những cải cách của Đổng và các môn đệ của ông sau này thực chất đều nhằm vào việc loại trừ bớt chất "nông nghiệp phương nam" trong Nho giáo.

Đổng Trọng Thư không dám tấn công thẳng vào chữ "nhân" và chủ trương "nhân trị" bởi lẽ đây là cốt lõi của học thuyết Khổng Tử, chính nhờ nó mà Nho giáo được chọn làm công cụ mị dân. Nhưng Đổng đã lờ đi, ông hạn chế nhắc đến "nhân" và "nhân trị"; thay vào đó, ông nói đến "lễ trị" và đặc biệt đề cao Trời (thiên mệnh) : Mọi việc trên thế gian đều do ý chí của Trời quyết định, cho nên mỗi khi trái ý, Trời trừng phạt con người bằng cách giáng những tai họa như hạn hán, dịch bệnh, nhật thực... Đề cao Trời để rồi thống nhất quyền vua (vương quyền) với quyền Trời (thần quyền). Vua thống trị theo mệnh Trời, do Trời giao phó. Đó thật là cả một sách lược khôn ngoan, tác dụng của nó còn hơn cả lễ trị và pháp trị.

Việc tiếp theo là loại bỏ cái hạt nhân dân chủ. Thay cho quan niệm của Nho giáo nguyên thủy về Ngũ luân với các quan hệ hai chiều bình đẳng, Đổng Trọng Thư quy tất cả về ba giềng mối chủ yếu và đề ra thuyết "Tam cương" với quan hệ một chiều duy nhất chỉ đòi hỏi trách nhiệm của kẻ dưới đối với người trên : tôi phải trung với vua, con phải hiếu với cha, vợ phải tiết hạnh với chồng. Nó là cơ sở cho việc diễn đạt quan hệ vua tôi bằng công thức hết sức phi nhân bản : Quân xử thần tử thần bất tử bất trung (Vua bảo tôi chết, tôi không chết là tôi bất trung); tương tự là quan hệ cha con : Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu (Cha bảo con chết, con không chết là con bất hiếu); còn vợ đối với chồng thì có trách nhiệm Phu xướng phụ tùy, mở rộng ra là trách nhiệm của phụ nữ đối với giới đàn ông nói chung qua công thức "tam tòng" : Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) .

Từ đời Hán trở về sau, vai trò của văn hóa cũng bị thu hẹp, nó chỉ giới hạn trong khuôn khổ những gì có lợi cho vương quyền. Kinh Thi được giải thích theo lối cao quý, tao nhã, nam nữ bị ngăn cách (nam nữ thụ thụ bất thân), đề cao nam, hạ thấp nữ (dương thiện tâm ác, nam tôn nữ ti); con hát bị khinh rẻ là "xướng ca vô loài".

Như vậy, Nho giáo nguyên thủy của Khổng - Mạnh, đúng như họ Khổng dự đoán, đã hoàn toàn thất bại. Khổng Tử đã không hiểu được rằng, hút nhụy từ văn minh nông nghiệp, Nho giáo đầu tính nhân bản của ông chỉ thích hợp được với quy mô làng xã. Để phục vụ được cho vương quyền trong phạm vi quốc gia cần có một thứ triết thuyết tổng hợp được chất pháp luật tôn ti của văn minh du mục để cai trị và chất tình cảm của văn minh nông nghiệp để lấy lòng dân, con đường thích hợp hơn cả là du mục hóa Nho giáo. Nhiệm vụ này Hán Nho đã thực hiện một cách xuất sắc bằng việc đề cao thần quyền (Trời) và thứ bậc tôn ti (Tam cương).

Đó mới là cái Nho giáo mà từ Hán đến các triều đại phong kiến sau này ra sức đề cao. Đến Tống Nho , Nho giáo lại từ hoàn thiện thêm bằng cách bổ sung những điểm mạnh của Phật giáo (yếu tố tâm lý, tâm linh) và Đạo giáo (yếu tố siêu hình) để phục vụ cho việc đào tạo quan lại.

3. Quá trình thâm nhập, phát triển và những đặc điểm của Nho Giáo Việt Nam

Nho giáo ở dạng Hán Nho được một số quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp tích cực truyền bá từ đầu công nguyên, song vì đây là thứ văn hóa do kẻ xâm lược áp đặt cho nên, ngoài một số người Việt được bổ làm quan trong bộ máy cai trị, có thể nói rằng suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam .

Đến thời Lý, với sự kiện Lý Thái Tổ cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử (l070) , mới có thể xem là Nho giáo dược tiếp nhận chính thức. Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho (nhà Lý tương ứng với nhà Tống Trung Hoa) chứ không phải Hán Nho. Đường Nho, cũng không phải Minh Nho, Thanh Nho.

Đời Trần có Chu Văn An đỗ Thái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học, đào tạo được khá đông học trò. Các nhà Nho thời kỳ này ra sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, cho đến gần cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh (1418 - 1408) , các nhà Nho đương đầu là Nguyễn Trãi tập hợp dưới ngọn cờ của Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn. Sự lớn mạnh của Nho giáo Việt Nam (điều kiện chủ quan) cùng với nhu cầu cải cách quản lý đất nước (yêu cầu khách quan) đã dẫn đến việc triều Lê chủ động đưa Nho giáo thành quốc giáo : sự phát triển của Nho giáo chuyển sang giai đoạn thứ ba - giai đoạn Nho giáo độc tôn. Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của triều đình : Thời Lê sơ thì Nho giáo thịnh, chí sĩ đua nhau đi thi để ra làm việc nước. Thời Lê - Mạc thì Nho giáo suy, nhiều nhà Nho xuất sắc (như Nguyễn Bỉnh Khiêm) lui về ở ẩn. Nhà Nguyễn lên cầm quyền, địa vị Nho giáo một lần nữa được khăng định để rồi mất hẳn khi phải đối mặt với sự tấn công của văn hóa phương Tây.

Trong quá trình tiếp nhận Nho giáo, giữa văn hóa việt Nam và Nho giáo đã bộc lộ những nét tương đồng và dị biệt.

Những cái tương đồng đã được chú trọng phát huy :Nét tương đồng lớn nhất là việc trọng tình người. Vì trọng tình vốn là truyền thống lâu đời của văn hóa Việt Nam cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt Nam đã tâm đắc với chữ "nhân" hơn cả. Nhân là lòng thương người : Tấm thành đã thấu đến trời - Bán mình là Hiếu, cứu người là Nhân (Truyện Kiều). "Nhân" gắn liền với "Nghĩa" : Nguyễn Trãi mở đầu bài Cáo Bình Ngô bất hủ bằng câu Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Đối với người bình dân, "nhân" còn đồng nghĩa với "tình" : các từ nhân tình, nhân ngãi (biến âm của nhân nghĩa), nhân duyên trong tiếng Việt là nói về tình yêu trai gái. Ca dao Việt Nam có câu rất dí dỏm : Chữ Trung thì để phần cha - Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình !

Nét tương đồng lớn thứ hai là xu hướng ưa ổn định. Truyền thống văn hóa nông nghiệp luôn chỉ mong muốn một cuộc sống ổn định, mục đích của Nho giáo nguyên thủy cũng là tạo nên một xã hội ổn định. Tuy nhiên, ở Trung Hoa, các triều đại phong kiến chỉ dùng Nho giáo để giữ yên ngai vàng ( đối nội), còn đối ngoại thì luôn chủ trương bành trướng, xâm lăng (phát triển) . ở Việt Nam, nhu cầu duy trì sự ổn định không chỉ có ở dân mà ở các triều đình, không chỉ trong đối nội mà cả trong đối ngoại. Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam từng phải thực hiện đều mang tính tự vệ, với phong kiến Trung Hoa cũng thế mà với người Chiêm Thành cũng thế .

Để duy trì sự ổn định, làng xã Việt Nam tạo nên sự phân biệt dân chính cư - dân ngụ cư , cộng đồng hóa lĩnh vực hôn nhân, sử dụng hữu hiệu bộ máy dư luận, tất cả nhằm tạo ra sự lệ thuộc của cá nhân vào tập thể cộng đồng. Tương tự, muốn duy trì sự ổn định của quốc gia, cần tạo ra sự phụ thuộc của bộ máy quan lại vào nhà cầm quyền : để đạt được điều đó, Nhà nước Nho giáo đã dùng hai biện pháp :

a. Biện pháp kinh tế là "nhẹ lương nặng bổng" : Quan lại xưa sống không phải bằng lương (lương chỉ có tính chất tượng trưng) mà chủ yếu bằng bổng và lộc. Cuộc sống của quan lại được bao cấp theo lối ban ơn.b. Biện pháp tinh thần là "trọng đức khinh tài " : Khai thác truyền thống của văn hóa nông nghiệp coi trọng đức hơn tài (mà "đức" là khái niệm rất mù mờ, do dư luận đánh giá), nhà nước Nho giáo buộc quan lại không thể hành động mà không tính đến dư luậnNét tương đồng lớn thứ ba là xu hướng trọng văn. Trọng văn là truyền thống của văn hóa nông nghiệp . Chữ, người Việt so sánh với vàng : Một kho vàng không bằng một nang chữ, việc học chữ, người Việt so sánh với việc nhà nông : Chẳng cấy lấy đâu có thóc, chẳng học lấy đâu biết chữ. Chính vì chịu ảnh hưởng của văn hóa nông nghiệp phương Nam nên Nho giáo rất trọng kẻ sĩ, trọng văn, trọng văn hóa (văn hóa du mục vốn trọng võ). Hán Nho đã tìm cách hạn chế văn hóa, xã hội Trung Hoa sau này có trọng quan văn, nhưng nhìn chung thì cũng chỉ ngang hàng quan võ; còn Việt Nam thì trọng văn hơn hẳn võ : Việt Nam chiến tranh liên miên, thế nhưng người Việt ít ai biết đến các kỳ thi võ mà chỉ ham học chữ, thi văn. Nhà cầm quyền Việt Nam nhìn thấy ở Nho giáo một công cụ cai trị, còn người bình dân thì nhìn thấy ở Nho giáo một công cụ văn hóa, một con đường làm nên nghiệp lớn : Chẳng tham ruộng cả ao liền - Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

Những cái KHáC BIệT có lợi, Nho giáo có mà Việt Nam không thì ta tận dụng khai thác .

Trước hết, Nhà nước quân chủ Việt Nam, đặc biệt là các triều Lê và Nguyễn, đã học tập rất nhiều ở cách tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật của người Trung Hoa. Thật ra, cái này không phải là sản phẩm của Nho giáo mà chủ yếu là của truyền thống văn hóa, gốc du mục (nhất là pháp luật) .

Thứ hai, hệ thống thi cử của Nho giáo để tuyển chọn người tài cho bộ máy cai trị được xây dựng trên nguyên lý trọng văn đã được Nhà nước phong kiến Việt Nam vận dụng ngay từ đầu triều Lý. Từ kỳ thi đầu tiên (năm l075) đến kỳ thi cuối cùng của lịch sử khoa cử phong kiến (năm 1919), trong vòng 844 năm có tất cả là 185 khoa thi, với 2.875 người đỗ, trong đó có 56 trạng nguyên.

Thứ ba, khi mà chữ cổ (nếu đúng là nó có) đã mai một và mất hẳn, thì người Việt đã sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thức trong giao dịch. Trong tâm thức người Việt, chữ Hán và Nho giáo không tách rời nhau (chữ Hán được gọi là chữ Nho) và được đồng nhất với cái thiêng liêng nhất – "chữ thánh hiền". Thấy tờ giấy có chữ dưới đất, người dân không dám bước qua. Trên cơ sơ chữ Hán, người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm (chữ của người Nam) dùng trong sáng tác văn chương. Thời Tây Sơn, Quang Trung Nguyễn Huệ đã mở rộng ra, sử dụng chữ Nôm cả trong lĩnh vực hành chính và giáo dục.Lại có những KHáC BIệT, Việt Nam có mà Nho giáo không thì ta bổ khuyết vào

Trước hết, ở Nho giáo, tư tưởng "trung quân" đóng vai trò rất quan trọng, còn tư tưởng yêu nước thì không được đề cập đến (đó là đặc điểm của truyền thống văn hóa gốc du mục : đề cao vai trò cá nhân của thủ lĩnh và coi nhẹ quốc gia, hướng tới phạm vi quốc tế). Trong khi đó thì ở Việt Nam, tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc lại là một truyền thống rất mạnh (bởi lẽ đặc điểm của văn hóa nông nghiệp là coi trọng hai đơn vị - làng và nước). Người Việt Nam hấp thu tư tưởng trung quân Nho giáo trên cơ sơ tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có, khiến cho cái trung quân đó bị biến đổi. Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa vua với đất nước, dân tộc thì đất nước, dân tộc là cái quyết định. Lê Hoàn thay nhà Đinh; Lý Công uẩn thay nhà Lê, Trần Cảnh thay nhà Lý... khi triều đại cũ không còn đủ năng lực lãnh đạo đất nước nên đều được quân dân ủng hộ. Nguyễn Trãi theo Lê Lợi mà không theo con cháu nhà Trần; Ngô Thì Nhậm theo Tây Sơn mà không theo nhà Lê tàn tạ; các nhà nho yêu nước cuối tk.XIX từ Trương Định trở đi không theo triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc mà tiến hành khởi nghĩa chống giặc (và chống triều đình!) đều vì đã đặt nước trên vua.

Thứ hai là truyền thống dân chủ của văn hóa nông nghiệp, Nho giáo nguyên thủy có tiếp thu yếu tố này, nhưng đến Hán Nho đã bị loại trừ hẳn. Chính nhờ tính dân chủ truyền thống ấy mà khi các yếu tố mang tính du mục của Nho giáo thâm nhập vào Việt Nam, chúng đã được "làm mềm" đi, không đến mức quá ư hà khắc.

Thứ ba là tâm lý khinh rẻ nghề buôn .Trong Nho giáo cũng có tư tưởng xem nhẹ nghề buôn, nhưng đó là sản phẩm của quan điểm coi trọng "đạo" và "đạo đức": "Người quân tử lo không đạt đạo chứ không lo nghèo (Luận ngữ). Khổng Tử khuyến khích làm giàu nếu nó không trái với lễ : "Phú quý mà có có thể cầu được thì dù làm kẻ cầm roi đánh xe hầu người, ta cũng làm" (Luận ngữ).

Nguồn: http://www.nhanmonquan.ne...tin/showthread.php?t=3155
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vanachi

Thơ Đường
Tác giả: Trần Trọng San



QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN CỦA THƠ ĐƯỜNG

Ðời Tống, Nghiêm Vũ, tác giả sách Thương Lan thi thoại, chia thơ Ðường làm năm thể là: Ðường sơ thể, Ðại lịch thể, Nguyên hòa thể và Vãn Ðường thể.

Ðời Minh, Cao Bỉnh, tác giả sách Ðường thi phẩm vận,sửa đổi đôi chút cách phân định của họ Nghiêm, chia thơ Ðường làm bốn giai đoạnlà: Sơ Ðường, Thịnh Ðường, Trung Ðường và Vãn Ðường
(Lục Khản Như và Phùng Nguyên Quân chia toàn bộ Ðường Thi làm hai thời đại lớn: từ Sơ Dường đến thời Thiên Bảo gọi là thời đại Lý Bạch, từ sau thời Thiên Bảo đến thời Vãn Ðường gọi là thời đại Ðỗ Phủ. (Trung Quốc thi sử, quyển Trung, Cổ văn thư lục, Hongkong, tái bản 1964).

Tô Thuyết Lâm tái dụng ý kiến của Hồ Thích, tác giả sách Bạch thoại văn học sử, chia thơ Ðường làm năm thời kì:

1) Thời kì kế thừa tác phong cổ điển của các đời Tề, Lương;
2) Thời kì long thịnh của văn học lãng mạn.
3) Thời kì đản sinh của văn học tả thực;
4) Thời kì phát đạt của văn học duy mỹ;
5) Thời kì suy đồi của thơ Ðường.)

Các luận giả đời sau phần nhiều đều theo cách phân chia của họ Cao, chỉ có ý kiến khác về niên đại cho từng thời kì.

(Cao Bính xếp Liễu Tông Nguyên, Hàn Dũ, Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị, Lý Hạ, Lư Ðồng, Mạnh Giao, Giả Ðảo vào thời Vãn Ðường. Hậu nhân thì xếp các nhà thơ này vào thời Trung Ðường)

Sơ Ðường bao quát thời gian từ năm đầu niên hiệu Vũ Ðức, đời Ðường Cao Tổ (618) đến năm đầu niên hiệu Khai Nguyên, đời Ðường Huyền Tông (713), gần một trăm năm. Thơ Ðường bắt đầu phát triển; hình thức và nội dung dần dần dần hình thành và sung thực. Cái di phong thời Lục triều tuy còn vương sót, nhưng rồi lần lần phai lạt, nhường chổ cho một phong khí mới, sẽ tạo nên sự hưng thịnh của thời Thịnh Ðường.

Thịnh Ðường bao quát thời gian từ năm đầu niên hiệu Khai Nguyên (713) đến năm đầu niên hiệu Ðại Lịch, đời Ðường Ðại Tông (766) chừng năm chục năm. Tình tự cuồng liệt, ý cảnh bao la, thể chế thuần thục, nghệ thuật kì diệu. Thơ Ðường đạt đến cực điểm xán lạn huy hoàng.

Trung Ðường bao quát thời gian từ năm đầu niên hiệu Ðại Lịch (766) đến năm thứ 9 niên hiệu Thái Hòa, đời Ðường Văn Tông (835), chừng 70 năm. Ðó là thời kì chuyển biến của thơ Ðường. Với thể chế hoàn toàn thành tựu, nội dung và kỹ xảo được chú trọng nhiều hơn cho được thêm thâm khắc, tinh tiến.

Vãn Ðường bao quát thời gian từ năm đầu Khai Thành, đời Ðường Văn Tông (836) đến năm thứ 2 niên hiệu Thiên Hựu, đời Ðường Chiêu Tuyên Ðế (905) chừng 70 năm. Thơ Ðường kết thúc ở đây. Một thể tài văn học khác được sáng chế trong thời trước, nay được lưu ý, tôn trọng hơn, để rồi sẽ phát đạt, hưng thịnh trong thời đại sau: đó tà từ.

Thời Sơ Ðường (618 – 713)

Trong gần một trăm năm của thời kỳ này. Trung Quốc sống trong cảnh thái bình, an lạc. Có một vài cuộc rối loạn do sự chấp chính của nữ nhân (Vũ hậu, Vi hậu, Thái Bình công chúa), Nhưng những vụ biến động này chỉ giới hạn trong chốn cung đình hay ở một vài địa phương và cũng chóng bình định. Vì vậy thơ làm trong thời kì này phần nhiều là những bài ca tụng cảnh đất nước thanh bình, tán dương thịnh đức của triều đại, có văn từ hoa mỹ diễm lệ, thừa tập di phong của thời Lục Triều. Phong khí này lan tràn cả trong những tác phẩm ngoài loại ứng chế. Mãi đến Trần Tử Ngang, mới mở đầu một phong trào chống đối, gọi là Phản động phái.

Ðầu thời Sơ Ðường, phát khởi hai khuynh hướng thi ca, mà rồi đây ta sẽ thấy bành trướng mạnh trong thời Thịnh Ðường: Biên tái và Ðiền viên. Biên tái là loại thơ tả cănh sắc biên thùy và tâm tình của người lính thú. Những bài đầu tiên thuộc loại này như Tòng Quân Hành của Ngu Thế Nam. Thuật Hoài của Ngụy Trung, đều khơi nguồn cảm hứng từ những cuộc chinh chiến vào khoảngcuối đời Tùy. Ðiền viên là loại thơ tả cuọc sống nông thôn đạm bạc, chất phác cùng những lạc thú thiên nhiên của nhàn nhân dật sĩ. Thủy tổ của loại thơ này là Ðào Uyên Minh đời Tấn, Thời Sơ Ðường, Vương Tích nối gót họ Ðào, làm ra nhiều bài như Quá Tửu gia, Dã vọng … có lời chân phác tự nhiên, không điêu trác hoa mỹ.

Nổi trội nhất trong số những nhà thơ diễm thể của thời kỳ này là Sơ Ðường tứ kiệt: Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân và Lạc tân Vương.Thơ của các nhà này tuy đã sát với sinh hoạt thực tế, nhưng vẫn còn có vẽ phù diễm, Ðỗ Phủ nhận định:
Vương Dương Lư Lạc đương thời thể,
Khinh bạc văn chương thẩn vị hưu.
Nhĩ tào thân dữ danh câu diệt,
Bất phế giang hà vạn cổ lưu
(Hý vi lục tuyệ t cú)

Vương, Dương, Dư, Lạc thể đương thời,
Văn chương khinh bạc cười không ngơi.
Các người thân với danh đều mất;
Còn mãi, giang hà muôn thửa trôi.

Sau Tứ Kiệt, hai nhà thơ có uy quyền trên thi đàn là Thẩm Thuyên Kỳ và Tống Chi Vấn "Từ thời Kiến Anh đời Ngụy cho đến thời Giang Tả (Ðông Tấn), luật thơ biến thiên nhiều lần, Thẩm Ước, Dữu Tín dùng âm vận phụ thêm, làmcho đối ngẫu tinh mật. Ðến Thẫm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vân, thơ càng mỹ lệ, tránh các thanh bệnh, đặt câu, làm bài như cẩm tú thành văn. Học giả suy tôn, gọi là Thẩm Tống." (Ðường thư văn nghệ truyện). Hai nhà này được coi là có công đầu trong việc hoàn thành thể luật thi. "Thơ ngũ ngôn đến Thẩm Tống, mới có thể gọi là luật." (Vương Thế Trinh).

Cùng nổi tiếng đương thời là văn chương tứ hữu (bốn bạn văn chương): Tô Vị Ðạo, Lý Kiều, Thôi Dung và Ðỗ Thẩm Ngôn. Lý Kiều được Ðường Huyền Tông khen là "Chân tài tử", nổi danh với Tô Vị Ðạo; người đời xưng là Tô Lý, liên tưởng đến cặp Tô Vũ, Lý Lăng đời Hán. Ðỗ Thẩm Ngôn là tổ phụ của Ðỗ Phủ; tính tình và tác phẩm đều có ảnh hưởng đến vị thi thánh sau này. Rồi đến Ngô trung tứ sĩ (bốn người học trò đất Ngô) là: Hạ Tri Chương, Bao Dung, Trương Húc và Trương Nhược Hư. Bài: "Xuân Giang hoa nguyệt dạ" của Trương Nhược Hư và bài "Bạch đầu ông vịnh" của Lưu Hy Di là hai bài trường thiên đặc sắc của thời Sơ Ðường.
Tất cả những bài thơ kể trên không ít thì nhiều đều kế tục di phong phù mỹ của thời Lục triều, nên được xếp vào phái thơ gọi là Ỷ mỹ phái.

Những nhà thơ chống lại quan niệm của phái Ỷ mỹ được xếp vào phái thơ gọi là Phản Ðộng phái. Chủ trương của phái này là cải biến tác phong các đời Tê Lương, khôi phục phong cách đời Hán Ngụy. Lãnh tụ là Trần Tử Ngang. Trong bài tựa thiên Tu trúc của Ðông Phương Cầu, ông viết: "Cái tệ của văn chương kéo dài đã trăm năm rồi. Các đời Tấn Tống tuy không truyền dược phong cốt đời Hán Ngụy, nhưng văn hiến còn có chổ chứng minh được. Lúc nhàn rỗi tôi thường xem thơ làm trong các đời Tề Lương, thấy rằng vẽ mỹ lệ thì nhiều mà hứng ký thác thì ít, cho nên thường thở than. Trộm nghĩ đến cố nhân, tôi thường sợ phong khí chậm chạp, suy đồi, phong nhã không dấy lên được, vì thế trong lòng lo lắng không yên". Trần Tử Ngang rồi Trương Cửu Linh làm những bài thơ có nhan đề là "Cảm Ngộ", chú trọng đến ý cảnh hơn là văn từ.

Thời Sơ Ðường, ngoài hai phái thơ nghiêm chỉnh trên, còn có những nhà chuyên làm thơ bạch thoại có tính cách khôi hài, thông tục, gọi là "thơ đả du". Nổi tiếng nhất là Vương Phạm Chí và các vị tăng Hàn San, Phong Can, Thập Ðắc. Tuy phổ biến dể dàng, các bài thơ bạch thoại không được người đời coi trọng.

Thời Thịnh Ðường (713- 766)

Có thể gọi thời Thịnh Ðường là thời Ðường Minh Hoàng, vì có liên hệ mất thiết với vị vua này. Cuộc khởi loạn của An Lộc Sơn (năm 755) là cái mốc phân chia thời này ra làm hai giai đoạn: thái bình và tán loạn.

Trước loạn An Lộc Sơn, là thời những bài thơ chứa đầy tình, nhạc và rượu. Cũng có những bài thơ tả tình quan ái và niềm khuê oán. Nhưng đó là tình cảm hào hùng của người chinh phu tuy biết "từ xưa chinh chiến mấy ai về" nhưng vẫn quyết "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao"; đó là nổi nhớ nhung, sầu muộn của người cô phụ "lúc ngoảnh lại trông màu dương liễu", tuy có tê tái nhưng không bi thảm. Từ cuộc loạnấy về sau, thi ca phản ánh một xã hội điêu tàn, thống khổ. Chiến địa không còn là cảnh hùng tráng đầy thi vị, mà là nơi ma than, quỉ khóc, xương trắng tả tơi. Những người lính thú bạc đầu nơi quan ải, những thiếu nữ thành ra cô phụ sau tối tân hôn, những ngườichồng phải gửi vợ nơi quê người, đất khách, và những người cha tủi hổ vì bất lực trước cảnh con thơ chết đói. Các bài như Tam Lại, Tam Biệt của Ðỗ Phủ cực tả cảnh chiến tranh tàn khốc, xã hội tối tăm, nhân dân đồ thán trong thời kì này.

Thơ thời Thịnh Ðường có thể xếp thành ba phái chính: Phái Biên Tái, phái Ðiền Viên và phái Xã Hội.

Phái Biên tái có nguồn gốc xa xôi là Hoành súy khúc từ thời Lương. Ðến thời này, loại thơ Biên tái tăng tiến về cả hai mặt lượng và phẩm. Có những người chỉ cảm động về tình chinh phu, cô phụ, tưởng tượng ra cảnh quan ải biên thùy, rồi làm thơ. Ðó là trường hợp những bài như: Lương Châu Từ của Vương Hàn. Xuất Tái của Vương Chi Hoán, Vương Xương Linh, Tái Hạ Khúc, Tái Thượng Khúc của Lý Bạch …Nhưng cũng có những nhà thơ thực sống trong chốn nhung mạc, từng trãi miền sông núi biên cương, như Cao Thích, Sầm Than …Chinh Phụ Ngâm Khúc của Ðặng Trần Côn mượn rất nhiều ý và lời trong thơ biên tái thời Thịnh Ðường.

Phái Ðiền Viên bắt nguồn từ thơ Ðào Uyên Minh thời Tấn. Vườn thông, giậu cúc và vò rượu của quan tể huyện Bành Trạch được nhiều văn nhân thi sĩ đời Ðường coi là ý nghĩ cao cả trong cuộc đời, là cảm hứng bất tận của thi ca. Trong thời kì này, phái Diền viên có những tác giả hữu danh như nhà ẩn sĩ phong lưu: Mạnh Hạo Nhiên, vị thi Phật Vương Duy với những bài thơ đầy điệu nhạc, ý họa, và vị Thi Tiên Lý bạch phóng khoáng hồn nhiên.

Lý Bạch là nhà thơ vĩ đại nhất thời Thịnh Ðường, trước loạn Thiên Bảo. Ý cảnh trong thơ ông cực kỳ bao la, rộng rãi. Tác phong gồm đủ mọi tính cách: hùng tráng, phiêu dật, trầm uất, cuồng phóng, diễm lệ, thanh u … Lời thơ buông thả tự nhiên, không có gò bó bởi cách luật, không điêu trác về kỹ xảo. Người ta yêu thơ Lý Bạch không những vì tác phẩm mà còn vì cuộc đời: tính khinh thế ngạo vật, tình nồng nhiệt đậm đà, và cái chết ôm trăng tuy khó tin nhưng chứa chan thi vị. Lý Bạch có hoài bão của một vị hiệp khách băn khoăn cứu khốn phò nguy, lại vừa có khát vọng của một đạo gia muốn siêu trần thoát tục. Tính chất nữa tiên nữa tục ấy chính là đặc điểm của thơ họ Lý. Thời Vãn Ðường, Bì Nhật Hưu nói rằng: "Từ khi nhà Ðường lập nghiệp tới giờ, ngữ ngôn ra ngoài trời đất, tư tưởng vượt xa quỉ thần, đọc xong thì thần ruổi tám cực, nghĩ rồi thì lòng ôm bốn bể; lỗi lạc dị thường, không phải là lời của thế gian, thì có thơ của Lý Bạch."

Phái Xã Hội phát sinh do sự thúc bách của hoàncảnh hồi hậu bán thời Thịnh Ðường. Cuộc loạn Thiên-Bảo làm cho những người có cao vọng thần tiên cũng phải băn khoăn về trần tục, và những ẩn sĩ Chung Nam thắc mắc về những chuyện đời. Ðại biểu của phái Xã hội là thi thánh Ðỗ Phủ, tề danh vời thi tiên Lý Bạch. Thơ Hàn Dũ có câu: "Lý Ðỗ văn chương tại, Quang diễm vạn trượng trường" (Văn chương Lý Ðỗ còn, Ánh sáng dài muôn trượng). Lý Ðõ là hai bạn thân, nhưng tác phong hoàn toàn khác nhau. Lý Bạch măc cho cảm hứng phát xuất tự nhiên, còn Ðỗ Phủ thì dụng công điêu luyện. Thơ của họ Lý có tình cảm lãng mạn của một tài tử an mệnh, lạc thiên; thơ họ Ðỗ mang đậm tính chất hiện thực, phô bày sinh hoạt thực tế của nhân loại, diễn tả tâm tư thâm mật của con người. Thơ Lý Bạch khiến ngưới ta nhẹ nhàng "phơi phới như mọc cánh, lên tiên"; thơ Ðỗ Phủ đầy vẽ đầy đủ thảm trạng xã hội, khiến người ta không khỏi bùi ngùi, ngao ngán. Lý Bạch nói lên niềm khát vọng siêu thoát, Ðỗ Phủ bày ra mối hệ lụy nhân sinh. Lý Bạch xa ta: muốn theo, không được; Ðỗ Phủ gần ta: muốn dứt, không xong. Với tính cách nhân bản ấy, thơ Ðỗ Phủ càng đọc càng thấm thía, khi tuổi tác càng cao, kinh lịch càng nhiều. Trái lại, thơ Lý Bạch chỉ như một hớp rượu cay, say người nhưng chóng tỉnh, và khi tỉnh rồi, thì chỉ còn thoang thoảng hương vị thoáng qua. Nghệ thuật tác thi của Ðỗ Phủ rất tinh vi, xảo quyệt. Ông dùng hết mọi thể thơ, mà không thể nào không giỏi. Nhất là về lối thất ngôn luật thi, thì thi tài họ Ðỗ thật là không tiền, khoáng hậu. Học vấn rộng, kinh lịch nhiều, kỹ thuật tinh xảo, tình cảm cường liệt, tất cả những yếu tố ấy đặt ông lên địa vị "thi thánh" như lời suy tôn của Vương Thế Trinh đời Minh, và khiến ông xứng danh "tình thánh" như Lương Khải Siêu đã dâng tặng. Nguyên Chẩn thời Trung Ðường nói rằng: "Hết được mọi thể chế hôm nay, gồm được những cái độc chuyên của mọi người… Từ khi có thi nhân đến giờ, không ai bằng Tử Mỹ". Trong những thi phẩm Trung Quốc được ngoại nhân phiên dịch, thơ Ðỗ Phủ chiếm đa số; thậm chí có cả kẻ ngụy tạo Ðỗ thi.

Bài Hoàng Hạc lâu, được coi là thiên cổ tuyệt xướng, là tác phẩm của Thôi Hiệu, người đồng thời với Lý Bạch.

Thời Trung Ðường (766 -835)

Sau khi loạn An Lộc Sơn, Sử Tư Minh đã bình, tình hình vẫn còn phân loạn. Phiên trân cát cứ, Hồi-ngột, Thổ-phồn quấy nhiễu, triều đìhn thối nát, loạn quan lộng quyền, đó là những nguyên nhân khiến xã hội bất an, nhân dân cực khổ. Tình trạng thi ca kém hẳn thời trước. Các nhà thơ chỉ quanh quẩn trong phạm vi cũ, không có gì mới mẻ đáng làm vinh diệu cho thi đàn, Nổi bật hơn cả là Bạch Cư Dị.
Trong thời Ðại-Lịch (766-779), đời Ðường Ðại-tông, có mười thi sĩ gọi là Ðại-Lịch thập tài tử: Lư Luân, Cát Trung Phu, Hán Hoằng, Tiền Khởi, Tư Không Thự, Miêu Phát, Thôi Ðồng, Cảnh Vi, Hạ Hầu Thẩm và Lý Ðoan. Nổi tiếng hơn cả là Lư Luân, Tư Không Thự và Lý Ðoan với những bài thơ tống biệt làm theo thể ngũ ngôn luật thi.
Ngoài ra Lý Ích, Cố Huống cũng là những nhà thơ nổi danh đương thời.
Ðến thời Nguyên Hòa (806 820) đời Ðường Hiển Tông, và thời Trường Khánh (812 824) đời Ðường Mục Tông, xuất hiện thi hào Bạch Cư Dị thuộc phái thơ Xã hội của Ðỗ Phủ, chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh. Trong tờ Dữ Nguyên Cửu thư, Bạch Cư Dị có nhận định sau: "Trong khoảng hai trăm năm nhà Đường hưng khởi, thi nhân nhiều không kể xiết. Những tác phẩm đáng nêu ra là 20 bài thơ Cảm ngộ của Trần Tử Ngang và 15 bài thơ Cảm hứng của Bào Phòng. Người đời xưng Lý, Ðỗ là thi hào. Tác phẩm của họ Lý thực là tài, thực là khéo, người ta không theo kịp; nhưng tìm những chổ phong, nhã, tỷ, hứng, thì trong mười phần không có được một phần. Thơ họ Ðỗ rất nhiều, đáng lưu luyến có hơn môt ngàn bài, thông quán cổ kim, tường tận cách luật, còn hơn họ Lý. Nhưng kiếm những bài thơ như Tân An lại, Thạch Hào lại, Ðông Quan lại, Tái lư tử, Lưu hao môn, và những câu như: "Chu môn tửu nhục xú, Lộ hữu đống tử cốt", thì trong mười phần không có được hơn ba, bốn phần. Họ Ðỗ còn như thế, huống hồ những người không bằng ông ?". Bạch Cư Dị muốn trở về với những tác phong phúng dụ, ý nghĩa khuyến gián mà Nho gia thường gán cho Kinh Thi, và vì chủ đích ấy, ông thích làm những bài dùng chữ thông tục, dễ hiểu, có thể gọi là thơ bạch thoại của đương thời. Với những bài Tân nhạc-phủ và Tần trung ngâm, Bạch Cư Dị là lãnh tụ của phái thơ Xã hội thời Trung Ðường. Ngoài những bài thuộc loại phúng dụ đó ra, những bài thuộc các loại nhàn thích, cảm thương và tạp lục của ông cũng có nhiều bài có giá trị. Nhưng trái với ý muốn của tác giả, phổ biến nhất và nổi tiếng nhất lại là những bài thơ trường thiên trữ tình: Trường Hận Ca tả mối diễm tình bi thảm của Ðường Minh Hoàng với Dương Quí Phi, và Tỳ Bà Hành nói lên tâm sự người thương phụ ở bến Tầm Dương.

Cùng chủ trương sáng tác và tề dang với Bạch Cư Dị, là Nguyên Chẩn. Người đương thời gọi hai ông là Nguyên Bạch, và những bài thơ bình dị của hai nhà này là Nguyên Hòa thể.

Lưu Vũ Tích là bạn thơ của Nguyên Bạch, nổi tiếng về những bài hoài cổ từ điệu uyển chuyển, thanh tân.

Phái Ðiền viên có các đại biểu là Vi Ứng Vật, Lưu Trường Khanh và Liễu Tông Nguyên, với những tác phẩm nhã đạm nhàn viễn, thanh dật chịu ảnh hưởng của Ðào Uyên Minh.

Thời Trung Ðường mở thêm cảnh giới thi ca khác: đó là Quái Ðản phái. Các nhà thơ phái này ưa chuộng sự kỳ dị, hiểm tích trong việc đặt câu, dùng chữ, gieo vần. Lãnh tụ phái Quái đản này là Hàn Dũ, cũng chính là nhà đại văn hào phản đối biền lệ, vận động phục cổ. Châu tuần các vì sao Bắc Ðẩu này, có Mạnh Giao "Khổ ngâm", Giả Ðảo "Thôi xao" và Lý Hạ được tiếng "Quỉ tài".

Cuối cùng phải nhắc đến một bài thơ nhiều người truyền tụng: Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế, Tiết Phụ Ngâm của Trương Tịch, Ðề Tích Sở Kiến Xứ của Thôi Hộ và Kim Lũ Y của Ðỗ Thu Nương. Ðỗ Thu Nương là một nữ lưu nhân vật, nổi danh tài sắc một thời: "Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô" (Tỳ Bà Hành).

Thời Vãn Ðường (836 – 905)

Tình trạng, chính trị, kinh tế, xã hội càng ngày càng suy đồi. Quan lại tham nhũng, thuế má nặng nề, thưởng phạt bất công,những nguyên nhân ấy đưa đến loạnVương Tiên Chi (874) rồi loạn Hoàng Sào hơn trong 10 năm, làm sụp đổi nhà Ðường. Lịch sử tái diễn cảnh hổn độn khoảngcuối đời Tùy, văn học trở lại duy mỹ lúc Ðường Sơ. Trước kia có phái Ỷ mỹ, bây giờ có phái Chi Phấn, tràn ngập phong khí hoa diễm lãng mạn.

Ba nhà thơ nổi trội nhất thời này là: Lý Thương Ẩn, Ðỗ Mục và Ôn Ðình Quân.

Lý Thương Ẩn là tác giả những bài thơ tượng trưng, tả những nối tình u uẩn, có nhan đề là "Vô Ðề". Ông rất tài tình trong khi sử dụng thể thơ thất ngôn luật thi, khiến ta liên tưởng đến Ðỗ Phủ thời Thịnh Ðường.

Ðỗ Mục thì sở trường về thể thất ngôn tuyệt cú, tề danh với Lý Thương Ẩn, kết thành cặp Lý Ðỗ của thời Vãn Ðường. Người đời gọi ông là Tiểu Ðỗ, để phân biệt với Ðỗ Phủ là Lão Ðỗ.

Ôn Ðình Quân cũng nổi tiếng ngang với Lý Thương Ẩn; người đời gọi là Ôn Lý. Ông là vị "Khai sơn đại sư" của lối từ trường đoản cú; chính nhờ từ ông mà từ mới tách khỏi thi để trở thành một thể riêng biệt.

Phái thơ này có những tác giả khác như: Hàn Ác, Ngô Dung, Bì Nhật Hưu, Lục Qui Mông ….nhưng tác phẩm ít và không mấy giá trị.

Ngoài ra,có Tư Không Ðồ, Trịnh Cốc, Hứa Hồn, Lý Quần Ngọc, Triệu Hỗ, Chu Khánh Dư, Tào Ðường, Trần Ðào Vi Trang, là tác giả của một số bài đáng kể.

Nhà thơ Xã hội Vi Trang nổi tiếng về bài Tần Phụ Ngâm, dài 1600 chữ, tả cuộc binh loạn Hoàng Sào.Tiếp theo là Ôn Ðình Quân, ông là từ gia vĩ đại của thời Ðường.

Nhà thơ thần tiên Tào Ðường với những bài Thiên Thai, đem lại cho thi ca thời này một sắc thái mới.

Thời Vãn Ðường có hai nữ thi nhân là Ngư Huyền Cơ và Tiết Ðào. Ngư Huyền Cơ trước làm danh kỹ sau làm đạo sĩ. Tiết Ðào rất quen thuộc với chúng ta, với hình ảnh "lá gió, cành chim"

Về thơ Bạch thoại, thời này có mấy nhà nổi tiếng là La Ẩn, Ðỗ Tuân Hạc và Hồ Tăng.

Hết thời Vãn Ðường, thi tạm coi là kết thúc, nhường chổ cho thể từ trường đoản cú, phát triển trong thời Ngũ Ðại rồi hưng thịnh trong đời Tống.


CÁC THỂ THƠ TRONG ÐƯỜNG THI

Ðường Thi Tam Bách Thủ (Ba trăm bài thơ Ðường) là cuốn hợp tuyển gồm những được cho là tiêu biểu của thi ca đời Ðường. Ta có thể căn cứ vào sự phân loại trong sách này, lấy thể thơ làm tiêu chuẩn, chia thơ Ðường ra làm sáu loại sau: ngũ ngôn cổ thi, thất ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật thi, thất ngôn luật thi, ngũ ngôn tuyệt cú, thất ngôn tuyệt cú. Trong mỗi loại, ở phần dưới, là những bài nhạc-phủ làm theo thể thơ thuộc loại ấy.

Cổ Thể Hay Cổ Phong

Thể thơ này không có luật lệ nhất định. Không hạn định số câu. Cách gieo vần rất rộng rãi, uyển chuyển. Có thể dùng độc vận (một vần), liên vận (nhiều vần) hay không hiệp vận. Vận chính là các vận thuộc cùng một vận bộ. Vận thông là các vận thuộc hai vận bộ khác nhau, có âm thanh tương tự. Vận chuyển là những vận có âm vốn không giống nhau. Ngoài ra, thể này không phải theo niêm, luật, cũng không bắt buộc phải có đối ngẫu.

Những bài thơ làm theo thể này gọi là cổ thi, bắt đầu xuất hiện vào đời Hán. Có ngũ ngôn cổ thi và thất ngôn cổ thi; trong đó có thể xen những câu dài hoặc ngắn hơn. Trước kia người ta cho rằng thể ngũ ngôn cổ thi khởi đầu từ các bài Hà Lương tặng đáp của Tô Vũ và Lý Lăng. Thực ra những bài này là ngụy tác của người đời sau. Một thuyết khác cho rằng Cổ thi thập cửu thủ (Mười chín bài cổ thi) do Mai Thặng đời Hán Vũ Đế làm ra những bài cổ thi đầu tiên. Hiện nay người ta công nhận thuyết ấy, nhưng nghi ngờ những bài này đều không phải là của Mai Thặng, mà có lẽ là tác phẩm của nhiều người. Còn thể thất ngôn cổ thi, cho đến nay người ta vẫn cho rằng khởi đầu từ bài thơ Bách Lương làm theo lối liên cú đời Hán Vũ Đế. Sử chép rằng năm thứ 3 niên hiệu Nguyên Phong (108 trước Công nguyên), vua Hán Vũ Đế xây đài Bách Lương, rồi xuống chiếu cho quần thần làm thơ thất ngôn, hễ ai làm được thì được lên ngồi trên đài này.

Cận Thể Hay Kim Thể

Người đời Ðường gọi lối thơ tuyệt cú và lối thơ luật là cận thể hay kim thể, để phân biệt cổ thể hay cổ phong nói trên. Thơ cận thể thật ra đã xuất hiện trong đời Lục Triều, sau công trình biện biệt tứ thanh của nhóm Thẩm Ướt (Thẩm Ước là tác giả sách Tứ thanh phổ, người thời Vĩnh Minh (483-493), đời Tề), và việc phân định vận của nhóm Lục Pháp Ngôn (Lục Pháp Ngôn là tác giả sách Thiết vận, người đời Tùy Văn Đế (581-640).). Nhưng đến đời Ðường, mới có sự phân biệt rõ rệt thơ cổ với thơ cận thể.

Luật thi

Tiền Mộc Yêm, tác giả sách Ðường Ẩm Thẩm Thể nói rằng: "Luật đây là sáu luật, là luật hòa hợp âm thanh. Luật thơ cũng giống như kỷ luật dụng binh, pháp luật hình án, nghiêm ngặt chặt chẽ, không được vi phạm". Có thể giải thích thêm về thể cách của thi như sau:

a) Trong một câu, bằng trắc cần phải điều tiết;
b) Trong khoảng hai câu liền nhau, sự đối ngẫu cần phải khéo;
c) Trong một bài, âm thanh cần phải chọn sao cho có sự cao thấp, bổng trầm.
Tóm lại, ba điều kiện cần thiết của luật thi là niêm, luật và đối.

Về đối ngẫu, Lưu Hiệp đời Lục Triều, tác giả sách Văn Tâm Ðiêu Long, đã phân biệt bốn cách là: Ngôn đối, Sự đối, Chính đối và Phản đối. Ngôn đối là đối bằng lời suông. Sự đối là đối bằng điển cố. Hai câu mỗi câu trình bày một sự việc nhưng nói lên cùng một ý, là chính đối. Nếu hai sự việc đó trái ngược nhau, thì gọi là phản đối. Sự đối và phản đối khó làm hơn và có giá trị hơn là ngôn đối và chính đối.

Ðến thời Sơ Ðường, Thượng Quan Nghi phân biệt sáu cách đối là:

1) Chính danh đối, như thiên địa đối với nhật nguyệt;

2) Ðồng loại đối, như hoa diệp đối với thảo mao;

3) Liên châu đối, như tiêu tiêu đối với hách hách;

4) Song thanh đối, như hoàng hòe đối với lục liễu;

5) Ðiệp vận đối, như bàng hoàng đối với phóng khoáng;

6) Song nghĩ đối, như xuân thụ đối với thu trì

theo sách Thi uyển loại cách

Một bài luật thi hoàn chỉnh dùng vào việc ứng chế, ứng thí, có thể định nghĩa là một bài thơ tám câu hoăc năm chữ ngũ ngôn luật thi hoặc bảy chữ thất ngôn luật thi, phải theo những qui tắc nhất định về niêm, luật; bốn câu 3,4 và 5,6 phải đối nhau từng đôi một.

Tuy nhiên, người ta thấy rằng ngoại trừ khi ứng chế hoặc ứng thí, người đời Ðường thường dùng thể luật thi một cách uyển chuyển, rộng rãi.

Ngoài những bài có bốn câu giữa đối nhau, cũng có những bài hoặc hoặc tám câu toàn đối, hoặc sáu câu, hoặc hai câu đối nhau, không nhất định.

Về niêm, cũng có những bài không giữ đúng lệ (thất niêm).
Về luật, sự sử dụng "ảo cú" làm cho quy tắc bớt chặt chẽ, câu thơ có âm điệu biến đổi bất thường. Ảo cú là câu thơ trong đó có chữ đáng bằng đổi thành trắc, hay đáng trắc đổi ra bằng, không theo cách thường. Thí dụ:

Ngã ký sầu tâm dữ minh nguyệt,
Tùy quân trực đáo Dạ Lang tây.
(Lý Bạch)
Lòng sầu ta gởi cùng trăng sáng,
Theo gót người đi đến Dạ Lang.

Ánh giai bích thảo tự xuân sắc,
Cách diệp hoàng ly không hảo âm.
(Ðỗ Phủ)
Soi thềm, cỏ biếc còn tươi thắm;
Cánh lá, oanh vàng vẫn hót hay.

Về vận, bài luật thi bắt buộc phải dùng vận chính (không được dùng vận thông, vận chuyển), căn cứ vào cuốn qui định vận bộ do triều đình ban hành. Ðời Ðường Huyền Tông có cuốn "Vận Anh", cải biên theo cuốn "Thiết Vận" của Lục Pháp Ngôn đời Tùy, rồi cuốn "Ðường Vận" của Tôn Miễn, bổ khuyết sách trên.

Về việc dàn ý, bài luật thi vốn có bố cục như sau: các câu 1, 2 là khởi (khai), các câu 3, 4 là thừa, các câu 5, 6 là chuyển, các câu 7, 8 là hợp (hạp). Ngoài các câu đầu và kết ra, trong những câu giữa, muốn nói gì cũng được, không có lệ nhất định. Chỉ trong những khoa thi về sau, bài luật thi mới có bố cục chật hẹp (phá, thừa, thực, luận, kết).

Khoảng đời Thanh, Kim Thánh Thán phê bình luật thi đời Ðường, có đề xướng cách "phân giải" như sau:

8 câu chia làm 2 giải: 4 câu đầu gọi là tiền giải, 4 câu sau gọi là hậu giải. "Hai câu 3, 4 chuyên thừa cho hai câu 1, 2, mà các câu 1, 2 thì có dụng ý cao trội hơn và còn nghiêm ngặt hơn, so với các câu 3, 4; hai câu 5, 6 chuyển xuống thành hai câu 7, 8, mà các câu 7, 8 thì hàm sâu xa hơn và còn mật thiết hơn, so với các câu 5, 6. Ðâu có thể lấy hai chữ "khởi", "kết" mà bôi bỏ đi hết bao nhiêu tâm huyết của cổ nhân!" (Kim Thánh Thán tuyển phê Ðỗ thi)

Tuyệt cú

Trong dân ca đời Lục Triều, đã thấy những bài bốn câu năm chữ hoặc bảy chữ. Các nhà thơ mới phỏng theo đó mà làm ra những bài bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn. Ðến đời Ðường, lối thơ bốn câu này rất thịnh hành và được gọi là "tuyệt cú". Sau khi có luật thi, lối tuyệt cú vô hình trung đồng hóa trong thể thơ này. Vì thế người ta thường ngộ nhận tuyệt cú là bài thơ do sự cắt bài luật thi mà thành. "Tứ nghĩa là bốn; tuyệt nghĩa là dứt, ngắt. Lối này gọi thế vì thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài thơ bát cú mà thành". (Dương Quảng Hàm, Văn học Việt-Nam). Do đó thơ tuyệt cú cũng phải tuân theo nhưng quy tắc về niêm, luật, vận như luật thi, và cũng có hai thể ngũ ngôn và thất ngôn.

Chính vì sự mơ hồ trong vấn đề nguồn gốc của lối thơ tuyệt cú mà phát sinh ra một cách cắt nghĩa khác về chữ "tuyệt": "Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một địa vị đặc biệt. Chỉ trong bốn câu mà thiển thâm, ẩn hiện, chính kỳ, phục khởi đủ cả, cho nên gọi là tuyệt." (Bùi Kỷ, Quốc văn cụ thể).

Trong một bài tuyệt cú, câu 1 là khởi, câu 2 là thừa, câu 3 là chuyển, câu 4 là hợp. Bài Khuê oán của Vương Xương Linh là thí dụ điển hình của bố cục thơ này.

Khi làm thơ tuyệt cú, các nhà thơ đời Ðường cũng có thái độ như khi làm luật thi, nghĩa là không chịu sự câu thúc chặt chẽ của quy tắc.

Tóm lại, lối thơ cận thể với trật tự cẩn nghiêm, tề chỉnh, nói lên ảnh hưởng của Nho giáo, là một thành công lớn của người đời Ðường và là một bước tiến quan trọng của thi ca Trung Quốc.

Nhạc Phủ

Nhạc phủ là một loại thơ làm theo nhiều thể khác nhau và có công dụng trong ca nhạc. Ðời Ðường, nhạc phủ gồm có những bài thơ cổ phong, luật thi và nhất là tuyệt cú. Vương Thế Trinh đời Thanh nói rằng: "Thơ tuyệt cú của ba trăm năm đời Ðường chính là nhạc phủ của ba trăm năm đời Ðường".

Những bài thơ dùng trong ca nhạc đã có từ lâu, từ thời của Kinh thi và có thể trước nữa. Nhưng chỉ từ đời Hán Vũ Đế, danh từ "nhạc phủ" mới được dùng để chỉ thể thơ. Ðời Hán Huệ-đế, nhà vua thiết lập một cơ quan gọi là Nhạc phủ lệnh. Ðến đời Hán Vũ Đế (140- 86 trước Công nguyên), Nhạc phủ có qui mô mở rộng hơn, với Lý Diên Niên làm chức Hiệp luật đô úy. Từ đó trở đi, Nhạc phủ được dùng để chỉ loại thơ có thể hợp nhạc, và trở nên một thể thơ. Cuối đời Ðông Hán, vào thời Kiến An (196-220), ba cha con họ Tào (Tào Tháo, Tào Phi Tào Thực) làm ra nhiều bài nhạc phủ cổ áo, bi tráng, nổi tiếng một thời. Ðến thời Nam Bắc triều, các điệu nhạc mới của ngoại quốc du nhập nhiều. Nhạc phủ xưa không còn hợp với âm luật mới nữa; nhưng vẫn còn nhiều nhà thơ dựa theo những bài nhạc phủ cũ để làm ra những bài mới, tuy gọi là nhạc phủ, song thực ra không còn được dùng trong ca nhạc.

Xét về nhạc phủ đời Ðường, ta thấy có thể chia ra làm bốn loại sau:

1) Những bài ca giao miếu, giống như Tụng trong Kinh Thi, không có giá trị về mặt văn chương. Thí dụ: bài Phong Thái sơn nhạc của Trương Thuyết.

2) Những bài thơ làm theo đề mục cũ của nhạc phủ, tuy có hay về mặt văn chương, nhưng không còn được dùng trong ca nhạc. Thí dụ: các bài Tương tiến tửu, Quan san nguyệt của Lý Bạch.

3) Những bài tân nhạc phủ có ý phúng dụ giống phong cách đời xưa, cũng không thể hợp nhạc. Thí dụ: 50 bài Tân nhạc phủ của Bạch Cư Dị.

4) Những bài thơ nổi tiếng được các linh quan của Lê viên phổ nhạc. Loại này có giá trị nhất, vì đích thực là nhạc phủ, lại vừa là kiệt tác xét về mặt văn chương. Ðó là những bài thơ tuyệt cú của Vương Chi Hoán, Vương Xương Linh, Vương Hàn, Cao Thích, Vương Duy …


NGUYÊN NHÂN SỰ HƯNG THỊNH CỦA THƠ ĐƯỜNG

Tất cả các nhà phê bình văn học đều công nhận rằng đời Đường (618 – 907) là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Bộ Toàn Đường Thi ấn hành năm 1707 gồm 900 quyển, hợp thành 30 tập, chép 48.900 bài thơ của hơn 2.200 thi nhân đời Đường (Đời Tống, Kế Hữu Công sọan bộ Đường Thi kỷ sự, gồm 81 quyển, chép thơ của 1.150 tác giả. Đời Minh, Cao Bính soạn bộ Đường thi phẩm vựng, gồm 90 quyển, chép hơn 5.700 bài thơ của 620 tác giả, sau lại bổ sung hơn 900 bài của 61 tác giả, làm thành 10 quyển thập di. Năm thứ 44, niên hiệu Khang Hy, đời Thanh (1705), vua Thánh Tổ dùng bộ Đường ấn thống thiêm làm căn bản, đem Toàn Đường thi tập chứa trong nội phủ ra, sai soạn thành bộ Toàn Đường thi ấn hành vào năm 1707). Nếu đem số thơ này so với tổng số thơ làm ra trong bảy,tám trăm năm của tám đời (Đông Hán,, Ngụy, Tấn, Tề, Lương, Trần, Tùy), thì thấy nhiều gấp mấy lần. Nhưng đó chỉ là xét về lượng. Thực ra trong lịch sử thi ca Trung Quốc, thơ đời Đường sở dĩ được người ta chú ý đến nhất, yêu chuộng nhất, chính là vì thời ấy đã xuất hiện những nhà thơ vĩ đại, có khuynh hướng sáng tác khác nhau, và nghệ thuật đạt đến mức thuần thục, hoàn hảo, khiến cho thơ của những đời kế tiếp chỉ là những bài mô phỏng, những thi sĩ đời sau chỉ là những đệ tử truyền thuật, và hễ nói đến thơ Tàu,người ta hầu như chỉ nói đến thơ Đường.

Về thi ca, Đường là thời đại nổi trội đặc biệt, có thể nói là không tiền khoáng hậu. Nhưng cái gì đã tạo nên sự hưng thịnh của Đường Thi, đó là một vấn đề khó biện giải thỏa đáng. Vì thế mà các luận giả đành phải liệt kê ra một số sự kiện, coi đó là những nhân tố góp phần tạo lập nên sự hưng thịnh này.

1. Lòng trọng văn của vua chúa

Hầu hết các vua nhà Đường đều yêu chuộng thơ văn. Đường Thái Tông khi còn là Tần Vương, đã mở Văn học quán, làm nơi hội họp các văn nhân. Khi lên ngôi, lại thiết kế Hoàng văn quán, thâu thập hơn 20 vạn cuốn sách, rồi cùng nghiên cứu, thảo luận với 18 quan Bác sĩ, trong đó có Đỗ Như Hối, Phòng Huyền Linh, Khổng Dĩnh Đạt, Ngu Thế Nam. Sách Tân Đường thư chép rằng, Thái Tông thường làm những bài cung thể diễm thi, rồi sai Ngu Thế Nam họa. Ngu Thế Nam bèn tâu can rằng: "Tác phẩm của bệ hạ rất hay, nhưng thể không nhã chính. Hể bề trên ưa thích cái gì, thì kẽ dưới sẽ yêu thích nhiều hơn. Thần e rằng những bài thơ này một khi đã lưu truyền rồi, thiên hạ sẽ hùa theo mà làm".

Những sách như Cổ Kim thi thoại, Tiểu thuyết cựu văn, Toàn Đường thi có chép một số giai thoại chứng tỏ Đường Thái Tông là một người rất yêu thơ. Khi Vũ hậu lâm triều, cũng từng xuống chiếu sưu tầm các sách thất lạc, để phát triển văn học. Đời Đường Trung Tông, vào ngày rằm tháng giêng hằng năm, nhà vua tổ chức ngày hội văn rất long trọng, quần thần đều phải dâng thơ chúc tụng. Đường Huyền Tông là một nhà thơ có tài, rất sủng bái Lý Bạch. Bạch Cư Dị được Hiến Tông phong làm chức học sĩ nhờ có bài thơ phúng giáng. Nguyên Chẩn được Mục Tông bổ làm Từ bộ lang trung cũng chỉ vì mấy bài ca. Văn Tông rất thích thơ ngũ ngôn, có đặt ra mười hai quan thi học sĩ. Tóm lại trong đời Đường, thi ca vì được vua chúa yêu chuộng, đã trở nên bậc thang đưa lên chổ vinh hoa, phú quí. Do đó, từ kinh thành cho đến đồng nội, núi rừng, người ta đua nhau đọc thơ, làm thơ, gây nên một phong trào thi ca bồng bột, mãnh liệt. Bị lôi cuốn trong trào lưu ấy, có người làm thơ vì mục đích giàu sang, nhưng cũng có người vì thực lòng yêu thơ; và chính tự nơi những người này, đã xuất hiện những thi nhân lỗi lạc.

2. Việc dùng thơ trong khoa cử

Đầu đời Đường, khoa thi tiến sĩ vẫn giữ thể thức của đời Tùy, chỉ hỏi về sách (kế hoạch). Đến năm thứ 2, niên hiệu Vĩnh Long (681), đời Đường Cao Tông, quan Khảo công viên ngoại lang Lưu Tư Lập tâu rằng:

- "Các tiến sĩ chỉ đọc các sách cũ, chứ không có thực tài".

Vua bèn xuống chiếu, sửa đổi thể thức ra bài thi trong khoa thi tiến sĩ: thí sinh phải làm hai bài tạp văn (thi, phú) để tỏ ra thông hiểu âm luật, rồi sau mới thi sách. Thơ đã được vua chúa yêu thích, từ đây lại được dùng trong khoa cử. Người có tài thơ rất dễ có dịp tiến thân, lại có danh dự cao hơn những người chiếm ngôi cao bằng những đường lối khác. Từ thời Khai Nguyên, đời Đường Huyền Tông trở đi, khoa thi tiến sĩ được tôn trọng đặc biệt. Các danh sĩ phần nhiều trúng tuyển khoa này. Các quan công khanh nào mà không xuất thân tiến sĩ, đều không được xem là tôn quí. Xem thế có thể nói rằng đa số quan lại đời Đường đều là những người làm thơ, nếu không muốn nói là thi sĩ. Tuy nhiên cũng nên biết rằng hai thi hào Lý Bạch, Đỗ Phủ đều không đậu khoa thi này.

3. Sự hoàn thành các thể thơ mới
Trong văn học Trung Quốc, người ta phân biệt thi với phú. Những bài Kinh Thi mới gọi là thi, còn những bài trong Sở từ (trong đó có Ly tao) thì thuộc lãnh vực phú. Chí Ngu, tác giả sách Văn chương lưu biệt luận cho rằng tất cả những thể thơ có từ ba đến chín chữ đều bắt nguồn từ Kinh Thi. Nhưng thực ra tứ ngôn (4 chữ) mới là thể thơ chính của Kinh Thi. Đến đời Hán, mới xuất hiện thể ngũ ngôn và thất ngôn cổ phong. Đời Đường là thời kì hoàn thành một thể mới gọi là cận thể hay kim thể, phân biệt với cổ phong hay cổ thể nói trên bằng cách luật nghiêm ngặt, chặt chẽ. Thơ cận thể hoàn chỉnh ở đời Đường, tiếp tục thịnh hành trong các thời đại sau. Mãi đến hồi đầu thế kỷ này, với sự du nhập của văn hóa Tây phương và sự thay thế văn ngôn bằng bạch thoại, thì thể thơ này mới suy tàn, nhường chổ cho một thể thơ mới khác mà người Tàu gọi là tân thể thi.

4. Sự phát triển của sinh hoạt trí thức và nghệ thuật

Về mặt tư tưởng, đặc điểm của đời Đường là sự tịnh thịnh của ba giáo thuyết Nho, Đạo và Phật. Tình trạng này có ảnh hưởng đối với khuynh hướng sáng tác của thi nhân và đem lại hứng vị dị biệt cho tác phẩm.

Nho giáo được tôn sùng từ thời nhà Hán với Đổng Trọng Thư, nay lại càng hưng thịnh. Năm 619, Đường Cao Tổ lập miếu thờ Chu Công, Khổng Tử ở Quốc Tử học. Đường Thái Tông mở Văn học quán, cùng với 18 học sĩ trong đó có Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, thảo luận về nghĩa kinh. Phong Khổng Tử làm tiên thánh, Nhan Tử làm tiên sư. Năm 647, lạ xuống chiếu cho Tả Khâu Minh, Bốc Tử Hạ … cả thảy 21 người được phối hưởng tại miếu Tuyên Ni; sai Khổng Dĩnh Đạt cùng một số nhà Nho soạn bộ Ngữ kinh chính nghĩa, gồm 170 quyển. Đó là bộ sách dùng trong khoa cử nhà Đường và Đời Tống. Loại thơ phúng thích xã hội như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị đã thấm nhuần cái tinh thần bao biếm cũng nhu7 tư tưởng tích cực của Khổng Tử.

Trong các đời Tần Hán. Đạo gia có ảnh hưởng lớn. Đến đời Đường, hầu như trở thành quốc giáo. Năm 620, Đường Cao Tổ (Lý Uyên) tin thuyết của Cát Thiện, người Tấn Châu, tôn Lão Tử (Lý Nhĩ) làm tổ và lập miếu thờ. Năm 666, Cao tông truy tôn Lão Tử làm Huyền Nguyên Hoàng đế. Năm 741, Huyền Tông giáng chiếu lập miếu thờ Lão Tử ở hai kinh và các châu. Năm 743, truy tôn Lão Tử làm Đại Thánh Tổ Huyền Nguyên Hoàng đế. Vua lại tự chú thích Đạo Đức Kinh, coi là sách đứng đầu các kinh. Phong Trang Tử làm Nam Hoa chân nhân, và gọi tác phẩm của các nhà này là chân kinh. Sùng huyền quán được thiết lập, là nơi học sinh khảo cứu chân kinh để ứng thí. Đạo sĩ rất được tôn trọng, thụât luyện đan rất thịnh hành. Nhiều vương hầu, công chúa, quan chức,văn nhân là đệ tử của Đạo gia. Nhiều vua chết vì dùng đan dược, như Thái Tông, Hiến Tông (phát bệnh cuồng nộ, bị hoạn quan giết), Vũ Tông, Tuyên Tông. Số công chúa,các vương chết vì phục dược có đến mấy trăm người. Các văn nhân như Lư Chiếu Lân, Lý Kỳ, Lý Bạch, Sử Quang Huy, Bạch Cư Dị, Lục Qui Mông đều ưa thích đan dược. Cả đến Hàn Dũ bình sinh bài xích Lão Trang, mà cuối đời cũng vì dùng thuốc Đạo gia mà vong thân. Ảnh hưởng của Đạo giáo với thi ca rất lớn lao. Những bài thơ thần tiên của Lý Bạch, tự nhiên cùa Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên và duy mỹ của Lý Thương Ẩn là những tác phẩm tiêu biểu của loại thơ có màu sắc Đạo gia. Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ thời Đông Hán, và rất hoạt động trong thời Nam Bắc triều, nhưng đến đời Đường mới thật thịnh đạt. Trong thời Trinh Quán, Huyền Trang rời Trường An, theo đường bộ du hành tại Ấn Độ trong 14 năm (630 – 644), đi qua 128 nước, đem về 650 bộ kinh, rồi cùng các đệ tử phiên dịch. Đường Thái Tông đích thân làm bài Tam Tạng thánh giáo tự để tỏ lòng sủng ái. Đời Đường Cao Tông, Nghĩa Tỉnh vượt biển Nam Hải sang Ấn Độ, đi qua hơn 30 nước, đem về hơn 400 bộ kinh. Đời Hiến Tông, vua thân tự đón xương Phật để cầu phúc; vì can ngăn việc này, Hàn Dũ bị biếm. Đến đời Văn Tông, trong nước có đến hơn bốn vạn ngôi chùa và hơn bảy chục vạn tăng ni. Chỉ có đời Vũ Tông là đạo Phật bị bài xích. Năm 845, vua hạ chiếu hủy tượng, phá chùa. Nhưng đến các đời vua sau, Phật giáo lại hưng khởi. Tóm lại ở đời Đường, Phật giáo nhờ sự tôn sùng của vua chúa và công trình dịch kinh của chư tăng, đã lan rộng, thấm sâu trong các tầng lớp nhân dân. Trong số các thi nhân nổi tiếng Giả Đảo đã từng làm tăng, Vương Duy là nhân vật quan trọng trong Nam phái thiền tông. Tuy không có ảnh hưởng nhiều như Nho và Đạo, Phật giáo cũng đem lại cho thi ca đời Đường những sắc thái và ý tưởng đặc biệt.

Về hội họa, đời Đường có ba họa phái lớn với ba nhà nổi tiếng là: Vương Duy, Ngô Đạo Tử và Lý Tư Huấn. Vương Duy chuyên vẽ tranh sơn thủy, mở đầu cho phái họa Nam Tông. Trong cuốn học họa bí quyết, ông viết: "Trong đạo họa, phép về thủy mặc hơn hết. Hình ảnh trong gương tăng màu sắc nhân vật; hình ảnh dưới trăng là bức trăng thủy mặc. Hình ảnh sông núi dưới bóng trăng là địa lý trong thiên văn; hình ảnh trăng sao trên mặt nước là thiên văn trong địa lý". Dưới ngọn bút của Vương Duy, thi và họa hòa đồng với nhau, phô bày vẽ đẹp: "Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi (Trong thơ có họa, trong họa có thơ). Ngô Đạo Tử và Lý Tư Huấn có khuynh hướng hội họa trái ngược nhau.

Truyện chép rằng, khi ở đất Thục lánh nạn An Lộc Sơn, Đường Huyền Tông có sai Ngô, Lý ve về phong cảnh xứ này. Ngô Đạo Tử ngồi trong điện Đại Đồng, chỉ trong một ngày đã vẽ xong cảnh vật miền sông Gia Lăng dài ba trăm dặm, vì chỉ chú ý đến những điểm nào gợi hứng nhất. Trái lại Lý Tư Huấn chủ trương mô phỏng thiên nhiên, đã để ra hàng tháng trời vẽ tỉ mỉ, cặn kẽ từng tảng đá, gợn sóng, ngọn cỏ lá cây. Cả hai bức tranh dâng lên, đều được Huyền Tông khen ngợi. Ngô Đạo Tử được người đời gọi là Họa Thánh; Lý Tư Huấn là tổ của họa phái Bắc Tông. Từ thời ấy trở đi, các họa sĩ Trung Quốc không nhiều thì ít, đều là môn đệ của hai nhà này.

Cùng với các ngành hội họa, nghề làm đồ sứ rất tiến bộ trong đời Đường. Cách trình bày rất mỹ thuật với đặc điểm là dùng ba màu: nền trắng, hình vẽ màu vàng hay lục.

Nghề in cũng rất cải tiến. Đời Hán người ta đã khắc kinh truyện trên những tấm bia. Người đời Đường nhân đó mới có ý nghĩa khắc chữ lên mặt đá, rồi bôi mực mà in: chữ trắng nổi bậc trên nền đen. Đến thời Đại Lịch, đời Đường Đại Tông (770), người ta dùng gổ thay đá để in Tứ Thư, Ngũ kinh, Phương pháp ấn loát này rất thông dụng trong các đời Đường Tống.

5. Sự thịnh vượng của tình trạng, chính trị, kinh tế xã hội:

Sách Cựu Đường thư chép rằng, năm thứ 8 niên hiệu Trinh Quán (634) trong tiệc yến tại cung Vị Ương, có Hiệt Lợi khả hãn của Đột Quyết múa và tù trưởng Nam Việt là Phùng Trí Đới vịnh thơ, Đường Cao Tổ cười nói: "Hồ Việt một nhà từ xưa chưa từng có cảnh tượng này".

Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) biết dùng các hiền thần như Phùng Huyền Linh, Đỗ Như Hối,Ngụy Trưng và các võ tướng như Lý Tĩnh, Lý Tích làm cho đời Đường thành một thời đại hưng thịnh cả về văn trị lẫn võ công. Thi hành chế độ phủ binh, tạo nên một quân lục hùng hậu, khiến cương thổ mở rộng, uy thanh lan tràn đến nhiều nước khác. Quốc thế thịnh hơn cả đời Hán: ngoại quốc gọi người Tàu là "Đường nhân" (người Đường). Chế độ quân điền và phép tô dung địêu được ban hành, khiến cho nông nghiệp mở mang, công thương nghiệp phát triển. Trường an và Lạc Dương là hai trung tâm trọng yếu về thương mại và công nghệ. Xét chung thì như vậy; thực ra thì chỉ có thời Khai Nguyên, đời Đường Huyền Tông, là hoàn toàn thịnh trị, như thơ Đỗ Phủ nói: "Ức tích Khai Nguyên toàn thịnh nhật" (Nhớ ngày toàn thịnh thời Khai Nguyên). Sau đó từ loạn An Lộc Sơn trở đi, tình hình xã hội tiếp tục suy đồi. Tác phẩm của các nhà thơ xã hội như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị phản ánh rất rõ thực trạng này.

Nguồn: http://www.nhanmonquan.ne...tin/showthread.php?t=2613
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

hoalucbinh

Phong trào thơ mới 1932 – 1945
Tác giả: (Không rõ)



Phong trào thơ mới là một trào lưu thi ca lớn của thời kì văn học hiện đại phát triển từ năm 1932 đến năm 1945. Trước đây, trên thi đàn chủ yếu là thơ cũ với thể “ thất ngôn bát cú” Đường luật thịnh hành. Thể thơ thất ngôn bát cú với sự quy định quá chặt chẽ của niêm luật rất khó để có thể diễn tả ý tưởng và những tình cảm mới nên trở thành một thể thơ gò bó không thích hợp với lớp công chúng mới. Lúc này trong đời sống xã hội đã xuất hiện một lớp công chúng mới gồm chủ yếu là học sinh, sinh viên, viên chức họ được rèn luyện trong nề nếp của nhà trường mới nên thị hiếu và tâm lí cũng có nhiều điểm khác với thế hệ cũ kể cả trong vấn đề tiếp nhận văn học. Phong trào thơ mới chính là trào lưu thi ca giàu sức sang tạo, mờ ra một hướng  mới đưa thi ca từ thời cận đại trờ về vớ thời kì hiện tại. Mở đầu là sự tranh luận giữa giữa tơ mới và thơ cũ. Đại biểu của phái cũ cho rằng thơ mới không phải là thơ ca chân chính, thiếu những quy tắc ổn định. Nhưng rồi cái mới đã thắng cái cũ nhất là trên thi đàn xuất hiện những tài năng mới: Thế Lữ với “Nhớ rừng”, “Tiếng sáo thiên thai” hay “ Cây đàn muộn điệu” đã chinh phục được người đọc. Và tiếp theo là những sáng tác của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử…đã tạo nên sự thắng thế hoàn toàn cho thơ mới.

Vào những năm 1934 – 1935, không còn ai luận bàn về cái mới, cái cũ  vì thơ mới đã có những đóng góp quan trọng, chỉ trong khoảng 10 năm, thơ mới đã chinh phục được lòng người đọc, đã tạo nên một trào lưu thi ca mới với hang loạt tác phẩm tiêu biểu, mỗi người mỗi vẻ có phong cách sang tạo riêng. Có thể kể những nhà thơ mới tiêu biểu nhất như:Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Vũ Hoàng Chương, Tế Hanh. Ngoài ra còn có thể đến nhiều tác giả khác như: Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, Hồ Dzếch…

Có thể nói thơ mới đã tạo ra một sức sang tạo lớn trong thơ ca thơi kì hiện đại với hàng trăm bài thơ hay. Có nhũng nhà thơ chỉ có một hai bài thơ như Vũ Đình Liên với “Ông đồ”, Thâm Tâm với “Tống biêt hành” và Nguyễn Nhược Pháp với bài “Chùa Hương”; có những nhà thơ có những bài thơ hay tập trung thành từng tập thơ như Huy Cận với “ Lửa thiêng”, Xuân Diệu với “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”. Thơ mới là thơ lãng mạn, có nghĩa là thoát li cuộc sống, các nhà thơ đều ít viết về cuộc đời hiện tại.Thế Lữ ca ngợi vẻ đẹp của thế giới tiên cảnh, vẻ đẹp của sự lí tưởng  không dễ có ở tong cuộc đời. Ông viết:

Tôi chì là một khách tình si
Ham vẻ đẹp có muôn hình muôn vẻ
Mượn lấy bút nàng li tao tôi vẽ
Và mượn cây dàn ngàn phím tôi ca.
                   ( Cây đàn muôn điệu ).

Nhà thơ Xuân Diệu cũng bày tỏ quan điểm sáng tác của mình:

Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
Để linh hồn ràng buộc với muôn dây
Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến.
                              ( Cảm xúc ).

Ở một trường hợp khác, Xuân Diệu nói:

Tôi là con chim đến từ núi lạ
Ngửa cổ hót chơi…
Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín
Khúc huy hoòang không giúp nở bông hoa.

Rõ ràng quan điểm trên là quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Nhà thơ Lưu Trọng Lư luôn đắm say trong tình và mộng, ông tìm thấy trong thơ cũng như trong tình yêu niềm vui và hạnh phúc nhưng thật mỏng manh:

Thơ cũng như tình nàng vậy
Mộng, mộng mà thôi, mộng hững hờ.

Đề xuật quan điểm lãng mạn trong thi ca nhưng rồi thực tế các nhà thơ luôn gặp phải những cảnh ngộ thực của cuộc đời làm cho ai oán xót đau, không thể cứ mơ mộng mãi ở mây gió. Chính Xuân Diệu đã nhận ra thực sự cảnh ngộ của mình:

Nỗi đời cơ cực đang vơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ.

Và tác giả nhận ra cảnh ngộ thật tù túng của mình: “Chúng ta nay trong cuộc thế ao tù”.

Hàn Mặc Tử cũng là một nhà thơ lãng mạn, nhưng rồi cảnh ngộ của cuộc sống làm ông nhận ra những xót xa của nó:

Trời hỡi làm sao cho khỏi đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn

Với quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” tưởng rằng các nhà thơ luôn đề cao vai trò của thơ nhưng nhiều lúc biến thơ thành một phương tiện để phục vụ tình yêu và không phải bao giờ cũng có sự tiếp nhận trân trọng. Nhà thơ Đinh Hùng trong bài”Kĩ nữ” viết:

Em đài các long cùng thoa son phấn
Hai bàn chân kêu ngạo giẫm lên thơ

Mặc dầu quan điểm sang tác có một số mặt hạn chế, thoát li, lãng mạn nhưng thơ mới thật sự là một trào lưu thơ ca có những đóng góp quan trọng trong thơ ca của thời kì hiện đại. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét: “Đừng lấy một người sánh với một người. Hãy lấy thời đại sánh với thời đại. Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu …”. Thơ mới được sự hưởng ứng rộng rãi của bạn đọc vì đã đáp ứng đúng tâm lí của thời đại, tâm lí của lớp công chúng mới. Nói như nhà thơ Lưu Trọng Lư: “Các cụ ưa chuộng những màu đỏ choét, ta lại yêu những màu xanh nhạt. Các cụ bâng khuân vì tiếng trùng trong đêm, ta lại nao nao lòng vì tiếng gà gáy đúng ngọ. Nhình một gái xinh xắn ngây thơ,các cụ coi như đã là một điều tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với thơ ta thì trăm hình vạn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…”

Nhìn chung phong trào thơ mới đã thể hiện những ưu điểm lớn, trước hết về khát vọng tự do cá nhân, rồi tình yêu quê hương nồng thắm, sự giải phóng của cái tôi, giải phóng bản ngã. Các nhà thơ trong phong trào thơ mới là những người trí thức khao khát tự do cá nhân. Sóng trong cảnh đời tù túng họ muốn được giải phóng, giải thoát. Nhà thơ Huy Thông mơ ước trở thành một cánh chim bay trên bầu trời cao rộng:

Tôi muốn làm con chim để cùng gió
Bay lên cao mơn trớn sợi mây hồng
Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng
Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng.

Trong bài thơ “Nhớ rừng”, Thế Lữ hình ảnh con hổ bị giam trong vườn bách thú. Tác giả nói lên những nỗi nhớ, những kỷ niệm về chốn rừng xanh sau một thời oanh liệt:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới
Đâu những bình minh cay xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng
Đây những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết  mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật
Than ôi!
Thời oanh liệt nay còn đâu.

Các nhà thơ trong phong trào thơ mới cũng bộc lộ một tình yêu nước kín đáo. Nhà thơ Huy Thông trong bài “Con voi già” cũng bày tỏ tình cảm trân trọng với hình ảnh con voi già một thời nhiều  chiến tích. Đó là hình ảnh cụ Phan Bội Châu một thời tung hoành trên trường đấu tranh chính trị và nay tưởng nhớ lại với một tấm lòng cảm phục. Nhà thơ Chế Lan Viên qua tập “Điêu tàn” nói về sự suy vong của nhà nước Chàm, và qua đó bộc lộ kín đáo nỗi lòng với quê hương đất nước.

Một trong những phẩm chất quan trọng của thơ mới chính là tình yêu quê hương. Quê hương – hai tiếng thân thiết ấy gắn bó và trỏ nên thiêng liêng trong lòng mỗi người. Tình yêu quê hương là tình cảm quan trọng góp phần tạo nên nhân cách ở mỗi người, ở đậy là nơi chôn nhau cắt rốn, ở đấy có cha mẹ và những người thân yêu. Các nhà thơ như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Trần Tuấn Khải,…đã đem vào thơ những hình ảnh đẹp của quê hương. Và trong phong trào thơ mới, nhiều bài thơ hay viết về quê hương. Các nhà thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân… đều là những tác giả chuyên viết về làng quê, họ khai thác nhiều vẻ đẹp của quê hương và cả những vất vả gian truân của cuộc sống sau lũy tre xanh. Các bài thơ “Quê hương” của Tế hanh, “Chợ Tết” của Đoàn Văn Cừ,  “Tràng giang” của Hy Cận, “Dây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, “Chân quê” hay “Mưa xuân” của Nguyễn Bính đều là những bài thơ xuất sắc miêu tả về quê hương trong phong trào thơ mới. Nhà thơ miêu tả được tình yêu quê hương đất nước trong bài “Tràng giang” của Huy cận. Tế Hanh đã miêu tả cành một làng quê ở vủng biển với những hình ảnh rất đẹp, những người lao động được miêu tả khỏe khoắn man nhiều chất thơ:

Dân chài lưới làn da ngâm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

Hình ảnh quê hương được miêu tả cả phần hồn cả những hoạt động cụ thể, hăng say trong lao động:

Chiếc thuyền nhẹ hăng say như tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt Trường Giang
Cánh buồm trương to như mãnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.

Đặc biệt là Nguyễn Bính – một nhà thơ có tài năng đã miêu tả thành công văn hóa của làng quê  với những sinh hoạt, lễ hội, hội hè… Ngừoi già lên chùa, trai gai trẫy hội, đặc biệt là trong không khí của ngày xuân. Thơ Nguyễn Bính mang hồn thơ đậm đà. Lúc này trong xã hội có xu hướng chạy theo lối ăn chơi, đua chen của đời sống thành thị và quên đi bản sắc của dân tộc. Trở về với quê hương, ca ngợi truyền thống quê hương cũng chính là trở về với cội nguồn. Trong thơ Nguyễn Bính nổi lên vẻ đẹp của những cô gái quê có một tâm hồn đẹp, nhiều mơ ước trong yêu đương nhưng lại gặp phải nhũng cảnh ngang trái, lỡ làng trong chuyện tình duyên hay bị tình phụ. Hình ảnh cô gái bên khung cửi qua bài “ Mưa xuân”  gợi rất nhiều thương cảm ở người đọc. Nguyễn Bính có ý thức trong sáng tạo nghệ thuật. Hai câu thơ:

Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê.

Hai câu thơ trên của Nguyễn Bính bộc lộ một phương châm sáng tác là phải biết tôn trọng truyền thống, bản sắc của dân tộc. Xu hướng ngoại lai, thành thị hóa, mất gốc là hiện tượng  cần tránh trong sáng tạo nghệ thuật.

Thơ mới là thơ ca tìm đến sự giải phóng bản ngã, giải phóng cá nhân. Trong nhiều thế kỉ, thơ ca ít nói tới cái tôi cá thể. Các nhà thơ bị ràng buộc trong những quy tắc chung ít dám khẳng định bản sắc của mình mà bản chất thơ ca là sự bộc lộ cảm xúc riêng tư trước cuộc đời. Có thể nói phong trào thơ mới đã góp phần giải phóng cái tôi, đây là một hiện tượng mang ý nghĩa xã hội rộng rãi. Trong thời kì này, nhiều cuốn tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn như “Nửa chừng xuân”, “Đoạn tuyệt” của Nhất Linh đều tiến công cào lễ giáo hà khắc của đại gia đình phong kiến. Các nhân vậtnhư bà Án, bà Trần, ông Phủ, ông Huyện thường là đối tượng trực tiếp của sự phê phán. Lớp thanh niên trẻ trong gia đình đó muốn thoất khỏi sự phụ thuộc vào cha mẹ để có quyền suy nghĩ và chủ động trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Các nhà thơ mới đã tìm cách tự khẳng định  và tạo cho mình một thế giới tinh thần riêng. Có nhà thơ bộc lộ nhiều trăn trở, những đau khổ trước cuộc đời như Huy Cận, Chế Lan Viên; có nhà thơ nói lên niềm khao khát được sống, được hưởng hạnh phúc, được giao cảm với đời và đặc biệt là tình yêu đôi lứa như nhà thơ Xuân Diệu.

Nhà thơ Chế Lan Viên nói lên những nỗi xót xa:

Trời xanh ơi hỡi xanh không nói
Hồn tôi muốn hiểu chẳng cùng cho

Tác giả có lúc ví mình như con đường, nhưng con đường này chịu đựng nhiều vò xé của xe cộ mà không hề cảm thông:

Là một con đường lòng tôi đau khổ
Im lặng xé mình theo muôn xe cộ
Đường nào đâu vòa hẳn giữa lòng xe
Xe nào đâu theo mãi lối đường đi.

Và có những lúc bế tắc nhất, tác giả như cảm thấy rơi vào cảm giác hư vô:

Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau.

Các nhà thơ bộc lộ niềm đau khổ của mình và tình trạng bi kịch  vì không tìm được lối thoát:

Tôi là con nai bị chiều giăng lưới
Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối.

Qua bài  “Hy mã Lạp Sơn”, Xuân Diệu có những ý thơ vùa khẳng định lại vừa phủ định mình:

Ta là một là riêng là thứ nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta.

Nhưng rồi chính ở nơi cao xa, nhà thơ lại cảm thấy cô dơn:

Ta bỏ đời mà đời cũng bỏ ta.

Cái tôi phong trào thơ mới có hai mặt biểu hiện, mặt tích cực là giải phóng cá nhân kjhông tìm được chỗ dứng trong cuộc đời cũ, nhiều lúc rơi vào cực đoan hoặc chán chường. Sau cách mạng Tháng Tám cái tôi mới được thật sự giải phóng, nhà thơ hòa hợp với cuộc đời chung.

Các nhà thơ mới là những người trí thức nghèo cũng phải chịu đựng nhiều nỗi vất vả trong cuộc sống và họ cũng có nhiều cảm thương với những người lao động vất vả. Vũ Đình Liên là một nhà thơ biểu hiện rõ sự cảm thương với những người lao động vất vả, ông tự xem mình là “thi sĩ của những người thân tàn ma dại”:

Rồi tất cả bầy rách rưới đui mù
Từ ông già cho tới đứa trẻ thơ
Dứt tiếng hát đều kêu lên cảm khái
Anh là thi sĩ của những người thân tàn ma dại.

Vũ Đình Liên đã sáng tạo được một bài thơ bất hủ, một trong những bài thơ hay nhất của phong trào thơ mới: “Ông đồ”. Ông đồ tượng trung cho người trí thức phong kiến, lạc lỏng và thất thế với thời buổi mới:

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay.

Năm nay hoa đào nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ.

Một trong những hình ảnh được một số nhà thơ mới quan tâm miêu tả  với tấm lòng cảm thương là những cô gái giang hồ. Bài thơ “Lời kĩ nữ” của Xuân Diệu” vừa bộc lộ tình thương đối với số phận cơ cực của những cô gái giang hồ và ít nhiều tác giả cũng tự liên hệ tới mình:

Lòng kĩ nữ cũng sầu như biển lớn
Chớ để riêng em phải gặp lòng em.

Tình cảm nhân đạo trong thơ mới tuy chưa bộc lộ sâu sắc sự cảm thương theo quan điểm cách mạng nhưng cũng đã tạo được nhiều giá trị trong thơ. Các nhà thơ xót thương những người nghèo khổ trong đời và một phần cũng biểu hiện sự cảm thương bản thân mình. Họ là những người trí thức với nhiều khao khát và mơ ước nhưng đã bị cuộc đời đẩy vào hoàn cảnh tù túng không lối thoát, họ không thể tự mình tìm được lối ra.

Tình cảm thiên nhiên trong thơ mới thì hết sức chân thật. Thiên nhiên là đề tài vô cùng quan trọng góp phần đem lại cái đẹp cho sáng tác thơ ca và cũng là nơi để nhà thơ gửi gấm tâm tình của mình. Nhiều bức tranh thiên nhiên đẹp trong thơ của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà…Tuy nhiên bước sang đầu thế kỉ XX, việc miêu tả thiên nhiên không có xu hướng rơi vào tình trạng ước lệ, miêu tả cảnh vật theo những quy ước mà dựa vào đời sống thực. Có lần nhà thơ Tố Hữu đã nhận xét: “Thiên nhiên Việt Nam không có tuyết và hạc nhưng trong thơ lại có nhiều hạc và tuyết”. Thơ mới đã có những thay đổi rất cơ bản trong việc miêu tả thiên nhiên. Thiên nhiên được miêu tả chân thực, cái đẹp của cảnh vật trong đời đã được phát hiện và đưa vào sáng tác thi ca:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
                 ( Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử).

Nhà thơ Bích Khuê cũng đã viết:

Vĩ Dạ thôn, Vĩ Dạ thôn
Biết anh cần trúc không buồn mà say

Trong “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu, tác giả miêu tả một cách chân thực không khí giao mùa khi trời đất vào thu:

Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Xuân Diệu đã miêu tả rất tỉ mĩ, vận dụng nhiều cảm giác khác hẳn với lối miêu tả trước kia trong thơ cũ. Thiên nhiên trong thơ moới cũng rất thơ mộng, được tạo nên bằng trí tưởng tượng. Chỉ riêng vầng trăng, ánh trăng trong thơ của Hàn Mặc Tử đã dược miêu tả rất gợi cảm từ ánh trăng xanh trong vườn khuya của tình yêu đôi lứa đến một không gian huyền ảo ngập ánh trăng:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

Cảnh vật nông thôn cũng dược miêu tả rất đẹp trong thơ của Nguyễn Bính Anh Thơ, có mưa xuân và lớp lớp hoa rụng. Trong thơ của Nguyễn Bính:

Bửa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy.

Rồi hình ảnh làng quê trong thơ Anh Thơ:

Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng
Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua.

Miêu tả thiên nhiên các nhà thơ trong nhiều trường hợp như hòa nhập với cảnh vật, nhân hóa thiên nhiên, tạo cho thiên nhiên một sức sống sinh động:

Gió thơm phơ phất bay vô ý
Đem đụng cành mai với nhánh đào.
                                 ( Xuân Diêu )

hay như ngọn gió xuân trong thơ Hàn Mặc Tử:

Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí bóng xuân sang.

Bên cạnh những ưu điểm, phong trào thơ mới có nhiều hạn chế.
Thơ mới chủ yếu là thơ lãng mạn, thoát li cuộc đời, nhà phê bình Hoải Thanh nhận xét: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu tronbg trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên; ta đắm say cùng với Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ”. Nói tóm lại, mọi trạng thái thoát li cuối cùng vẫn trở về với cuộc đời thực.

Thơ mới thoát li nên không nói nhiều về cuộc sống. Còn ít những bức tranh sinh hoạt chân thật về đời thường. Đề tài trong thơ mới phần lớn nói về tình yêu. Một số nhà thơ qua việc miêu tả tình yêu đã nói lên được  khát vọng giải phóng cá nhân, tuy nhiên không khí thơ chìm ngập trong yêu đương. Nhà thơ tình số một trong phong trào thơ mới cũng phải thảng thốt kêu lên: “Giọng em đầy rẫy trong văn chương, không khí trêu những chàng với nàng, không khí khéo thở thì đến chết ngạt mất”.

Miêu tả tình yêu, Xuân Diệu là người tả được nhiều trạng thái yêu đương nhất, cảm xúc say mê nhưng thanh cao. Tuy nhiên cũng có nhiều nhà thơ say đắm trong tình yêu đam mê và bệnh hoạn như một số bài thơ cảu Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng.

Vũ Hoàng Chương viết:

Hãy  buông lại gần đây làn tóc rối
Sát gần đây gần nữa cặp mội điên
Rồi anh sẽ dìu em trên cánh khói
Đưa hồn say về tận cuối trời quên.

Ngay từ thời dó, nhà phê bình Hoài Thanh cũng đã nhận xét: “ con thuyền say kia chính là linh hồn và cuộc đời của thi nhân, rút lại hi vọng cao nhất của người là quên – quên hết thảy trong  những  thú lượm giọng của khách làng chơi”.

Thơ mới có những đóng góp về nghệ thuật, một trong những đóng góp quan trọng của thơ mới là đưa thơ ca về với thời kì hiện đại, phù hợp với cách cảm và cách nghĩ của con người hôm nay. Giữa Trần Tuấn Khải, Tản Đà với Xuân Diệu, Huy Cận có một khoảng cách khá xa về hình thức biểu hiện. Một bên là thơ theo thi pháp cổ, một bên là theo thi pháp hiện đại. Ngày nay, đọc nhiều bài thơ của Xuân Diệu, chúng ta cảm thấy tiếng nói ấy rất gần gũi. Thơ mới đã khai thác nhạc điệu một cách có hiệu quả, đặc biệt là thanh bằng. Có những câu thơ nhạc điệu phù hợp với nội dung tạo nên những sợi cảm đặc biệt:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.
                                   ( Xuân Diệu )

hay:

Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông.
                                ( Bích Khuê )

câu thơ của Bích Khuê được Hoài Thanh nhận xét là câu thơ hay vào bậc nhất của thơ mới. Nhạc điệu một số bài tạo nên âm hưởng đặc biệt như trong bài “Đêm mưa” của Huy Cận:

Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tay nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn
Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẽ loi.
Rơi rơi…dìu dịu rơi rơi
Như muôn giọt lệ nối lời vu vơ.

Tuy nhiên thơ mới trong nhiều trường hợp đã đi vào củ nghĩa hình thức chạy theo nhạc điệu theo một lối kết cấu cầu kì có những bài thơ dài hoàn toàn chỉ dùng thanh bằng:

Cây đàn yêu dương làm bằng thơ
Cây đàn yêu dương run trong mơ
Hồn về trên môi kêu em ơi
Thuyền hồn không đi lên chơi vơi
                                 ( Bích Khê )

Trong bài thơ “Sương rơi”, Nguyễn Vĩ đã sử dụng những câu thơ hai từ để nói lên tiếng sương rơi, mưa rơi, lá rơi:

Gió mưa
Tơi tả
Từng giọt
Thánh thoát
Từng giọt
Tơi bời
Mưa rơi
Gió rơi
Lá rơi
Em ơi

Thế Lữ tỏ ra rất tài hoa khi ông viết bài “Hoài tình” và mỗi câu thơ mang một dấu trong ngôn ngữ tiếng Việt:

Trời buốn làm gì trời rầu rầu
Anh yeu em xong em đi đâu
Lắng tiếng suối thấy tiếng khóc
Một bụng một dạ một nặng nhọc
Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi
Nghĩ  mãi gõ mãi lỗi vẫn lỗi
Thương thay cho em căm thay anh
Tình hoài càng ngày càng tày tình.

Một số nhà thơ sử dụng hình họa  làm cơ sở dể cấu trúc một số bài thơ: hình tam giác, hình quả trám, những hướng này nói chung đi vào bế tắc.

Mặc dầu có những hạn chế nhưng thơ mới vẫn là một trào lưu thi ca có những đóng góp quan trọng cho thơ ca thời kì hiện đại. Sau cách mạng Tháng Tám, hầu hết các nhà thơ mới đã đến với cách mạng  và lại có những đóng góp quan trọng trên chặng đường thơ ca cách mạng. Họ lại chín lại với thực tế mới. Và một số nhà thơ tiêu biểu như Xuân Diệu, huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử … có thể xem là tài năng thi ca thế kỉ XX. Tác phẩm của họ có giá trị bền vững với thời gian.

Bài này là mình sưu tầm được, đăng lên cho bạn đọc tham khảo, mình không rõ tác giả là ai.
Con người sinh ra là để được lớn khôn cũng như loài chim trời sinh ra là để được bay cao.
hoalucbinh
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vanachi

Tản mạn về phú
Tác giả: nhunguyen @thuvienvietnam.com



Chém cha cái khó, chém cha cái khó.
Khôn khéo mấy ai, xấu xa một nó.
Lục cực bày hàng sáu, rành rành kinh huấn chẳng sai
Vạn tội lấy làm đầu, ấy ấy ngạn ngôn hẳn có...

Hàn Nho Phong Vị Phú - Nguyễn Công Trứ.

Phú là gì ?

Theo Tự Ðiển Thiều Chữ:

賦 Phú (15n): Giãi bày, trình bày sự tình vào trong câu thơ gọi là thể phú. Làm thơ cũng gọi là phú thi 賦詩, một lối văn đối nhau có vần gọi là phú.

Như vậy, Phú là một loại văn có vần, là sự tiếp nối giữa thơ và văn xuôi...

Phú so với thơ luật có những chổ trường đoản khác nhau. Trong bài phú, câu phú có thể dài hoặc ngắn hơn câu thơ (thông thường là dài hơn...), cho phép tác giả diễn tả ý tứ một cách đầy đủ và minh bạch hơn so với thơ luật thường ý đọng và ngắn gọn...Do đó, chúng ta không lấy làm lạ rằng bài phú nào cũng dài gấp mấy lần so với một bài thơ thông thường.

Bàn về niêm luật, thì thơ có quy luật nhất định như lục bát, đường luật v.v...Một bài thơ, tuỳ thể loại, bài thơ đó nhất định phải theo thể luật của loại thơ đó, rất là nghiêm chỉnh...Riêng về phú, cách bố cục và thanh luật, không quá khắc khe như thơ...tự vì như đã nói ở trên: phú là sự phối hợp của thơ và văn xuôi.! Tuy nhiên, toàn thể câu đặt đều buộc theo phép đối (trong khi ở bài thơ đường luật chỉ cần đối có 4 câu giữa mà thôi) hầu như là từng cặp một. Do đó, tác giả của một bài phú, phải thật là dày công phu trong việc cấu từ sao cho thích hợp trong lối đối ngẫu..., rất là mất nhiều thời gian, không phải là một cảm hứng nhất thời mà tác giả có thể làm xong một bài phú như một bài thơ được.

Từ đó, mà chúng ta biết rằng phú không quảng bá bằng thơ...Ai cũng có thể làm thơ được, nếu nắm vững niêm luật, nhưng đối với phú thì không như thế...niêm luật của phú không quan trọng bằng phép biền ngẫu của phú. (phép biền ngẫu hay phép đối gần như cùng nghĩa...)

Trong văn chương, còn có Văn tế cũng là một thể của Phú thi, có thể nói là anh em với nhau, bài Phú thi có thể dài ngắn tuỳ theo ý tác giả, nhưng bài Văn tế thì cần phải có chừng mực, bố cục rõ ràng minh bạch...

Cách đặt câu trong Phú và Văn Tế:

Cái mà ta gọi là câu bây giờ, trong phú (hay văn tế) gọi là liên, và ở đây tiếng “ câu “ dùng để chỉ một thành phần của một liên, theo lối trình bày của Học giả Ưu Thiên Bùi Kỷ (Quốc Văn Cụ Thể) thì như sau:

Có 4 lối đặt câu hay 4 thứ liên:

• Bát tự gồm 2 vế, mỗi vế 4 chữ:

Thí dụ:
Tình dưới viên mao,// phận trong giáp trụ

• Song quan gồm 2 vế, mỗi vế trên (>) 4 chữ

Thí dụ:
Cho hay sinh là ký mà tử là qui // mới biết mệnh ấy yểu mà danh ấy thọ.

• Cách cú gồm 2 vế, mỗi vế 2 câu:

Thí dụ:
Dấn thân cho nước / son sắt một lòng //
Nối nghĩa cùng thầy / tuyết sương mấy độ.

• Hạc tất gồm 2 vế, mỗi vế 3 câu trở lên (>)

Thí dụ: Hồn tráng sĩ biết đâu miền minh mạc / mịt mù gió lốc / thổi dấu tha hương //
Mặt chinh phu khôn vẽ nét gian nan / lập loè lửa trơi / soi chừng cổ độ.

Chúng ta...có quyền chọn lựa một trong 4 lối đặt câu trên, hay tài hoa hơn là dùng hết cả 4 lối này, hay dùng xen kẽ, tự vì Phú thi (hay Văn tế) không khe khắt số câu như thơ...Miễn sao đạt yêu cầu cách cấu từ và phép biền ngẫu làm nền là đã thành tựu một bài Phú thi...

Cách bố cục trong Phú:

Ðường phú thì lệ luật phải phân minh như đã trình bày, còn Phú lưu thủy thì cứ đọc xuôi là được...

Một bài Ðường phú gồm có 6 phần:

• Lung bao quát ý toàn bài sẽ suy diễn.
• Biện Nguyên là nói nguyên ủy, gốc tích cho rõ ý đầu bài
• Thích thực là giải thích cho hết ý nghĩa
• Phu Diễn bày tỏ thêm cho rộng
• Nghị luận là bàn bạc
• Kết là tóm tắt lại ý đầu bài.

Vần trong phú

Có nhiều cách gieo vần như sau:
a) Độc vận: Toàn bài, từ đầu chí cuối chỉ dùng một vần.

Thí dụ: bài “ Tụng Tây Hồ Phú “ của Nguyễn Huy Lượng

Độc vận: Hồ

Phú: Lạ thay cảnh Tây Hồ!
Lạ thay cảnh Tây Hồ!
Trộm nhớ cõi đất chia chin cõi
Nghe rằng đây đá mọc một gò...

b) Liên vận: Bài phú có nhiều vần liên tiếp. Mổi đoạn chuyễn tiếp là một vần mới...

c) Hạn vận: Bài phú bắt buộc phải theo đúng thứ tự các chữ trong một câu cho sẵn để làm vần cho đủ, không được gieo vần khác vào.

Thí dụ: bài Lương Ngọc Danh Sơn Phú
Lấy vần câu lương ngọc tất danh sơn

d) Phóng vận: Vần nào cũng được.

Thí dụ: bài Hồ Gươm Phú của Tú Mỡ (Nguyễn Trọng Luật)
Bài phú có nhiều đoạn, mỗi đoạn có nhiều liên, mỗi liên có hai vế đối nhau. Vần phải gieo vào cuối vế thứ nhì, tức là vần ở cuối liên.

Luật Bằng Trắc:

a) Những chữ ở cuối mỗi vế phải theo luật bằng trắc là: Chữ cuối ở vế trên trắc thì chữ cuối ở vế dưới bằng hay ngược lại. Ví dụ:
- Chèo quế bơi trăng (B); Buồn mây giong gió (T).
- Sớm ngọn Tương kia (B); Chiêu hang Vũ nọ (T).
- Vùng vẫy Giang Hồ (B); Tiêu dao Ngô Sỡ (T).
- Đi cho biêt đây (B); Đi cho biết đó (T).
b) Trong một vế có nhiều đoạn nhỏ thì chữ cuối của mỗi đoạn nhỏ ở trước, gọi là chữ đậu câu, phải nghịch thanh với chữ cuối cùng của vế ấy. Nghĩa là chữ cuối của vế là bằng thì các chữ đậu câu (chữ cuối của các đoạn nhỏ) trong vế ấy phải là trắc hay ngược lại.

Thí dụ: tương tự như đoạn trên

Một bài phú rất hay của Phạm Thái là bài “ Chiến Tụng Tây Hồ Phú “ thời vãn Lê, phép biền ngẫu thật là tuyệt diệu, cú từ rất là chỉnh...chúng ta có thể lấy đó làm mẫu mực!

Ngán nhỉ tụng Tây hồ!
Ngán nhỉ tụng Tây hồ!

Vốn trước đã lỡ bầm hoang hoác vũng
Có lẽ đâu mọc đá nhấp nhô gò

Người rằng nơi Long Tử khoét làm vùng, bởi được bùa quý chúa Huyền trao, vậy cáo trắng bách bởi vào đại trạch.
Kẻ bảo ấy Cao Vương đào chặn mạch, vì mảng tiếng chuông thầy Khổng nện, nên trâu vàng theo dấu đến tràng đô....


Riêng bố cục của Văn Tế thì ngắn hơn, gồm 4 phần:

• Lung bao quát ý toàn bài
• Ðức tính kể công trạng và đức hạnh của người quá vãng.
• Ðiếu văn than viếng.
• Kết tình riêng của người viếng, cũng là lời vỗ về cầu chúc.

Bài Văn Tế Chiến Sĩ Trận Vong của Nguyễn Văn Thành, đời Nguyễn, rất hay...

Xót thay!

Tình dưới viên mao
Phận trong giới trụ
Ba nghìn hợp con em đất Bái, cung tên gnang dọc chí nam nhi
Hai trăm vây bờ cõi non Kỳ, cơm áo nặng dày ơn cựu chủ

Dấn thân cho nước, son sắt một lòng
Nối nghĩa cùng thầy, tuyết sương mấy độ....

Do đó, đọc một bài phú (hoặc văn tế) như là có nhạc trong đó, lúc trầm lúc bổng, lúc thiết tha khi thì ai oán, có lúc hùng tráng khảng khái, khi thì thâm trầm khoan thai.v.v..., tùy theo tựa đề của tác giả nêu ra.

Như bài Hàn Nho Phong Vị Phú - Nguyễn Công Trứ:

Chém cha cái khó, chém cha cái khó.
Khôn khéo mấy ai, xấu xa một nó.
Lục cực bày hàng sáu, rành rành kinh huấn chẳng sai
Vạn tội lấy làm đầu, ấy ấy ngạn ngôn hẳn có...

Hay bài Văn Tế Chiến Sĩ Trận Vong - Nguyễn Văn Thành:

Hồn tráng sĩ biết đâu miền minh mạc
Mit mù gió lốc thổi dâú tha hương
Mặt chinh phu khôn vẽ nét gian nan
Lập loè lửa trơ soi chừng cổ độ...


hoặc là:

Có một người, khổ dạng trăm anh, nết na chương phủ
Hơi miệng sửa, tuổi còn giọt máu: nét hào hoa chừng ná Tân, Dương
Chòm tóc xanh, vừa chấm ngang vai: nhời khí khái thì thầm Y, Phó...

Tài Tử Ða Cùng Phú của Cao Bá Quát.

Ðọc bài Hàn Nho Phong Vị Phú của Nguyễn Công Trứ ta thấy cười ra nước mắt, bài Phú văn tế chiến sĩ trận vong của Nguyễn văn Thành ta thấy thống thiết trầm hùng, bài Tài Tử Ða Cùng Phú của Cao Bá Quát thì lâm ly ai oán... Phải nhìn nhận rằng đọc một bài Phú (hay bài Thơ hoặc một bài Văn xuôi...) ít nhiều chúng ta có thể hiểu được phần nào cái Tâm chí của tác giả.Muốn được như vậy, tác giả phải dùng chữ đặt câu rất luyện.

Không có thể nào thử thách tài sử dụng ngôn ngữ của một tác giả bằng thể phú thi này, nó tương đương với thể thơ bằng văn xuôi hiện đại.

Nguồn: http://www.thuvienvietnam.com/ftopicp-27316.html
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vanachi

Nguồn gốc của phú!
Tác giả: nhunguyen @thuvienvietnam.com



Trước khi chúng ta tìm hiểu nguồn gốc văn hoá của một dân tộc, Lịch sử bao giờ cũng là điểm khởi đầu để truy nguyên... Xin phép các bạn đôi dòng khái lược!

Ngược dòng lịch sử, chúng ta phải nhìn nhận rằng nền Văn Học Việt Nam ảnh hưởng Trung Hoa rất là sâu sắc trong các giai đoạn Bắc thuộc (Trung Hoa đô hộ), từ ngôn ngữ chữ viết đến văn chương...Khởi đầu từ năm 111 trước Công nguyên đến năm 939, hơn 1000 năm lệ thuộc...Chúng ta học chữ Hán chẳng qua là giao thiệp tiếp xúc hàng ngày trong suốt thời gian bị đô hộ, đa phần các quan lại Trung Hoa tham tàn, nhũng lạm,chỉ biết vơ vét của cải và vàng bạc...Nhưng cũng có một thiểu số giúp đở dân Việt Nam, do đó chúng ta chỉ học hỏi được trong 3 thời kỳ: một là của Sỹ Nhiếp, hai là Tích Quang, Nhâm Diên và sau cùng là Triệu Ðà…

Cái học từ thời bắc thuộc trở đi cho đến thời Ngô Quyền chỉ là học...để giao tiếp truyền thông với người Tàu, không phải là cái học sâu sắc về mặt văn học.Do đó, chúng ta thật sự không có một tác phẩm Văn Học đồ sộ nào ngõ hầu biểu tượng tính đặc thù của một dân tộc nói chi là so sánh với nền Văn Học Trung Quốc thời bấy giờ. Và hơn nữa, địa hình của Việt Nam chỉ đến Hà Tỉnh là hết (không tới 1/3 diện tích Việt Nam ngày nay) dân số không có là bao, so với một đại quốc hùng cường là Trung Quốc...

Bắt đầu từ thời Ngô Quyền,với chiến công hiển hách qua trận Bạch Ðằng Giang, bắt sống Thái tử Hoằng Tháo của triều đình Nam Hán vào năm 939... đã chấm dứt nền đô hộ của Trung Hoa, tuyên bố nền Ðộc Lập Tự Chủ cuả dân tộc Việt Nam...

Trải qua bao kinh qua,bao thăng trầm,bao biến đổi  trong biết bao lần quật khởi chống cường quyền lấn át từ phương Bắc, dân tộc Việt Nam vẫn trường tồn với 4000 năm Văn hiến trải dài khắp mọi nẻo đường đất nước quê hương. Quá trình giữ nước và dựng nước của Tổ Tiên Việt Nam là một bản anh hùng ca bất tận trong nhân dáng Việt Nam.


Chúng ta đọc sử Việt... không khỏi ngậm ngùi cho kiếp nạn của Tổ Tiên, nhưng người viết cũng yêu cầu các bạn chớ quá bi quan về vấn đề 1000 năm bị đô hộ...Tự vì, xét lại các giai đoạn lịch sử Trung Quốc từ thời Chiến Quốc đến triều Thanh thì dân tộc Hán cũng bị đô hộ hơn 1000 năm bởi các sắc dân mà Trung Hoa cho là Man Ri Mọi Rợ từ phương Bắc:

• Rợ Sơn Nhung (Thiên An, Hà Bắc).
• Bạch Ðịch (Diên An, Thiểm Tây)
• Tây Nhung (Cam Túc, Thiểm Tây)
...nhiều vô kể,

Trong đời Xuân Thu 728-481 trước Tây Lịch, nhà Chu suy nhược, hơn 1000 chư hầu tự do phóng túng đánh chiếm lẩn nhau, một số chư hầu hoàn toàn mất lãnh địa cát cứ vào trong tay các rợ phương Bắc này thành nước Linh Chi (Sơn Nhung), Cô Trúc (Tây Nhung)...

Chư hầu cường mạnh chỉ có 12 nước, thường lấy cớ “ tôn Chu diệt rợ “để sai khiến thiên hạ làm minh chủ...

Nghĩa là,một số dân Tàu đả bị dân rợ phương Bắc đô hộ và thống trị một thời gian không ngắn trong giai đoạn Xuân Thu

Trong đời Chiến Quốc 403 – 256 trước Tây lịch, 7 nước đánh nhau liên miên lịch sử vì bất đồng chính kiến và quyền lợi, hết sức là loạn lạc, dân tình khốn khổ, chết vì đói chết vì bệnh dịch lại thêm cái đám Rợ phương Bắc, thường xuyên quấy phá.

Loạn lạc triền miên, dân rợ phương Bắc vẫn tràn trề nhiễu loạn, hễ triều đại vua chúa nào yếu là chúng không bỏ cơ hội từ thời Lục Triều, Ngủ Ðại cho đến cận kim.

Nổi tiếng nhất là rợ Khiết Ðan thời Ngủ Ðại và nhà Ðường, và thành lập một quốc gia tự trị trên lãnh thổ của con cháu Hoàng Ðế và Thần Nông gọi là Liêu Quốc...Liêu và Tây Hạ cứ tiếp tục nhủng lạm triều Tống hết sức mình...Liệu diệt bởi Ðại Kim thuộc bộ lạc Nữ Chân), thì triều Tống thêm phần ô nhục, vua Tống Hiếu Tông phải gọi Kim Chủ Ung là chú (là em của cha) và cứ hàng năm mà đóng tiền đóng bạc lẫn yêu sách. Triều Tống mạt thật là nhục nhả trong suốt 1115 – 1234 của nước Kim.

Hốt Tất Liệt lên ngôi thiên tử tạo nên nhà Nguyên 1279-1368 chăm nom dân Ðại Hán...

Kế là bộ lạc Nữ Chân sống lại lấy tên mới là Mãn Thanh, tràn vào Sơn Hải Quan, vượt Trường Thành...đem cái bím tóc tặng cho dân Hán từ đầu thế kỷ 17 (1660) cho đến giữa thế kỷ 20.

Nhưng, tất cả những sắc dân làm chủ cương vực Trung Hoa trong những thời đại đó: tất cả đều bị Hán Hóa, chỉ riêng Lạc Việt chúng ta bị chiếm đóng đô hộ cả 1000 năm vẫn...thản nhiên không phai nét một nụ cười, một miếng ăn, một tập tục.

Đó là niềm tự hào Bất Khuất của Tổ Tiên Lạc Việt!



Đồng trụ chí kim đài dĩ lục

Đằng giang tự cổ huyết do hồng



(cột đồng đến nay đã rêu xanh

sông Bặch đằng từ xưa máu còn đỏ )


Từ thời Ngô Quyền cho đến cuối đời nhà Tiền Lê (939 – 1009), nền Văn Học Việt Nam cũng vẫn chưa khởi sắc (nói gì là Phú), tự vì tình thế nhiểu nhương, dân tình loạn lạc, các vị vua chúa lên ngự vì phải tập trung quyền lực vào công việc chỉnh đốn nội an, dẹp loan bốn phương qua các cuộc tranh chấp quyền lực lẫn nhau...

Mãi cho đến cuối triều đại Tiền Lê,Lê Long Ðỉnh là một vị vua hoang dâm vô đạo, vô cùng tàn ác...không làm một điều gì chấn chỉnh hữu ích cho quốc gia trong trong cương vị của một vị Thiên Tử, nhưng lại làm một điều “ phi thường “ cho nền Văn Học Việt Nam.

Năm 1006, Lê Long Ðỉnh cử em là Long Xưởng với Chưởng thư ký Hoàng thanh Nhả đem bạch tê (tê giác trắng...?) sang cống nhà Tống và xin Tứ Thư Ngũ Kinh (Dịch, Thi, Thư,, Lễ, Xuân Thu, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Chu Lễ) và Kinh Ðịa Tạng (kinh Phật chữ Phạn gọi là Xripitaka).Vua Tống ưng thuận....Tiếc rằng, bộ Nhạc kinh bị thiêu hũy trong ngọn lửa Tần Thĩ Hoàng...(Trung Quốc và Việt Nam chịu chung số phận thất thoát này!).



Hầu như trên thế giới, mọi nền văn học ít nhiều đều ảnh hưởng đến một trong 4 nền văn minh vĩ đại nhất của nhân loại  (Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp và Ai Cập ) qua sự bang giao, cương vực gần gủi, trao đổi và thẩm định sao cho  thích nghi nhu cầu nhân sinh của dân tộc đó  mà tiến hoá hình thành bản sắc riêng rẻ qua những nền văn minh tối cổ. Việt Nam cũng không  vụợt ngoài sự tiếp cận và ảnh hưởng các  nền văn minh nhân loại.


Nguồn gốc của Phú :

Trong Văn Học Việt Nam, phú là một hình thức văn học đặc biệt có nhiều giá trị đáng để chúng ta lưu ý và quan tâm.

Theo Việt Nam Cổ Văn Học Sử của Nguyễn Ðổng Chi:

Phú Việt Nam gồm có phú chữ Hán và phú chữ Nôm.

Phú chữ Hán:

Phú chữ Hán của Việt Nam rập khuôn mẫu theo phú Trung Quốc...Như vậy, trước tiên chúng ta hãy tìm hiễu phú Trung Quốc như thế nào...

Phú rất thịnh hành vào thời nhà Hán, là một loại văn có vần, là sự liên kết giữa thơ và văn xuôi.
Thi sĩ Ban Cố thời Ðông Hán cho rằng phú là một dòng của Cổ thi: Phú giả cổ thi chi lưu

詩 thi (13n) - Tự Ðiển Thiều Chữu

1: Thơ, văn có vần gọi là thơ.
2: Kinh thi.

Chữ “ thi “ dùng để chỉ chung cho các loại văn vần, bao gồm cả dân ca.

Phú bắt nguồn từ dân ca vì trong lời ca điệu hát của dân gian gọi là thể “ phong “. đây là cái mầm của phú. “ Phong “ dần dần biến thành “ Nhã “ và “ Nhã “ lại biến chuyễn dần thành “ Ly Tao “ (tức là điệu Sở Từ - là lời hát trong dân gian của người nước Sỡ). Trong Sỡ Từ có tả cảnh, tả tình, có phô trương, có đối thoại, lời lẽ kiều diễm, bóng bẫy...để người ta ngâm lên được, nên có vần có điệu gần như thơ. Đó là mầm mống tạo hình thức cho bố cục của Phú sau này.

Riêng về phần Nội dung thì là “ trực trần kỳ sự “ (nói thẳng điều mình muốn nói), thường là tả tâm sự và cảnh vật.

Người đầu tiên sở trường về Phú là Khuất Nguyên (340 trước CN) và Tống Ngọc (sau KN), cả hai đều là người nước Sở...


Thí dụ như:

Trích đoạn một phần của “ Thiên Ly Tao “ (Buồn Ly Biệt) của Khuất Nguyên.

Tứ ngọc cầu dĩ thừa ê hề, khạp ai phong dư thượng chinh
Triệu phát nhẫn ư Thương Ngô hề, tịch dư chí hồ Huyền Phố...

…Thời ái ái kỳ tương bãi hề, kết u lan nhi diên trữ
Thế hổn trọc nhi bất phân hề, ỷ Xương Hạp nhi vọng dư...

Nguyễn Hiến Lê trong Cổ Văn Trung Quốc, dịch nghĩa như sau:

Ta cưỡi con Ngọc Cầu, hoặc con Phượng Hoàng hề, vụt theo trận gió mà lên trời
Buổi sáng ta ra đi ở Thương Ngô hề, chiều ta tới Huyền Phố...

…Thời đại nào u ám như đã sẩm tối hề, ta kết những bông lan u nhả mà đứng lâu
Ðời hổn trọc, mà không biết phân biệt hề, thích che cái đẹp của người mà ghen ghét...


***Khuất Nguyên thời Chiến Quốc, người nước Sỡ, với những bài Thiệp Giang Phú, Hoài Sa Phú...nổi tiếng đã mở ra một kỷ nguyên văn học mới lạ đi song hành với Thi ca cổ phong thời bấy giờ...Thiên Ly Tao gồm có 370 câu vừa Thơ vừa Phú...diễn đạt lời than thở thống thiết của Khuất Nguyên trong thời đại lịch sử nhiễu nhương, mỗi câu mổi từ là tiếng thở dài đến ứa lệ trong suốt 370 câu và 2400 chữ... đã được xếp vào một trong những bộ kỳ thư có giá trị tuyệt đối trong văn học Trung Quốc..

Kết ý: Phú Trung Hoa bắt nguồn từ Sở Từ

Phú Trung Quốc bắt nguồn từ đó...Sau khi bình định đất nước, nhà Hán trong thời Hán Vũ Ðế rất là yêu chuộng thể loại thi ca này. Các thi sĩ thời bấy giờ như Ban Cố, Tư Mã Tương Như,Chu Mãi Thần, Lưu An, Ðông Phương Sóc v.v…rất nổi tiếng, và được vua Hán ưu đãi...

Thí dụ như:

Đời Hán thì có:

Ban Cố với bài Lưỡng Ðô Phú,
Tư Mã Tương Như với bài Tử Hư Phú trong lối tán tụng, phô trương.
Ðiếu Khuất Nguyên phú của Giả Nghị diễn đạt tình cảm thương tiếc.
Cam Tuyền Phú của Dương Hùng miêu tả hoa cỏ tươi tốt...


Ðời Nguỵ Tấn: thơ Ngũ Ngôn hình thành cùng với những bài phú trữ tình, đại biểu là Tả Tư với bài Tam Ðô Phú...

Ðời Ðường, phú rất thịnh hành cũng như thơ và cũng bắt buộc phải làm theo luật gọi là luật Ðường phú. Như bài Tiến Học Giải phú của Hàn Dũ...

Ðời Tống với bài Tiền Xích Bích phú của Tô Ðông Pha, bài Thu Thanh Phú của Âu Dương Vĩnh Thục...Thời này, phú đã tiến một bước khá dài từ hình thức cho đến nội dung...Và theo trào lưu của thời đại mà... thăng trầm từ đó.

Như vậy, có thể nói rằng, phú Trung Quốc bắt nguồn từ dân ca, được hình thành với những tác phẩm đầu tiên của Khuất Nguyên, Tống Ngọc thời Chiến Quốc, do sự kết hợp của Sỡ Tử và văn xuôi.

Phú thịnh hành nhất về triều Hán với tính cách phô trương duy mỹ...và đến triều Tống thì phú trở nên một thể loại văn học sâu sắc song hành với thi ca...mà thi hào Tô Ðông Pha, một trong Ðường Tống Bát Ðại Gia là đại biểu.


Khi mà Phú Trung Hoa đang phát triển từng bước một trên con đường văn học Trung Quốc thì lúc bấy giờ nước Việt Nam chúng ta còn...trong thời kỳ Bắc thuộc. Thành ra, có thể nói rằng Phú Chữ Hán của Việt Nam hoàn toàn ảnh hưỡng vào phú Trung Quốc từ nội dung cho đến cấu trúc...

Bài Phú cổ nhất của Việt Nam còn truyền lại là bài Bạch Vân Chiếu Xuân Hải Phú (Mậy trắng dọi biển xanh phú) của Khương Công Phụ (780 – 805).

Nhưng thân thế của Khương Công Phụ không xác định minh bạch...không biết là người Việt Nam hay quan lại nhà Ðường ?. Theo tập Khương Công Phụ sự trạng khảo của Nhữ Ðạm Trai soạn vào năm 1832 dưới thời Minh Mạng, thì ông nội của Khương Công Phụ là Khương Thần Dực ở Ái Châu, Thanh Hoá, nhưng đến đời cha thì gia đình sanh lập nghiệp ở Trung Hoa (???). Khương Công Phụ học thi đổ và làm quan tới chức Bình Chương Sự đời Ðường Ðức Tông, và bài phú này làm ở bên Trung Quốc, thì đương nhiên thuộc về văn học Trung Hoa...

Nhưng xét lại, thì trong thời Bắc thuộc, Trung Quốc bắt nước ta phải tiến người tài giỏi trong lục nghệ thì trường hợp của gia đình Khương Công Phụ có còn được xem là người Việt hay chăng ? Ðó là câu hỏi cần phải đặt ra...Tuy vậy, nguyên văn của bài Phú này trong bộ Uyên Giám và Văn Uyển Anh Hoa của Trung Quốc...

Mây trắng dọi biển xanh phú

Mây trắng ùn ùn, kéo la đà ở trên mặt biển xuân
Khoảng không sách bạch, tầng biếc trải trăng
Bóng sắp so le bao bọc chung quanh cõi nhật
Vẻ lồng lộng chập, rẽ chia cách nẻo cung trăng...

Sảng Ðình dịch - Theo Việt Nam Cổ Văn Học Sử của Nguyễn Ðổng Chi.

Mãi cho đến đời nhà Hậu Lý, phú bắt đầu xuất hiện nhưng không nổi tiếng cho lắm và đến nay không còn lưu truyền lại.Phải đợi đến thế kỷ thứ 13, suốt hơn 200 năm,nhà Trần, phú chữ Hán mới rõ nét và bắt đầu thịnh hành. Trong Kiến văn tiểu lục, mục Thiên chương, Lê Quý Ðôn đã phải khen phú đời Trần như sau:

“Ðời Trần có nhiều bài phú lạ kỳ, hùng vĩ, trôi chảy, tốt đẹp, bố cục và cách điệu thi gần như lối phú của đời Tống “

Bài Bạch Ðằng Giang Phú của Trương Hán Siêu tả lại trận chiến Bạch Ðằng Giang của Trần Hưng Ðạo, gợi lại cảnh chiến đấu oai hùng ngày xưa và nói lên những cảm xúc của tác giả, khiến người đọc thấy được cái vẻ đẹp hùng tráng của Tổ Quốc, phấn khởi và tự hào về Tổ Tiên và Ðất Nước..

Bạch Ðằng Giang Phú


Phú:

Khách có kẻ:

Chèo quế bơi trăng
Buồn mây trong gió
Sớm ngọn Tương kia
Chiều hang Vũ nọ
Vùng vẫy Giang, Hồ
Tiêu dao Ngô, Sỡ
Ði cho biết đây
Ði cho biết đó

Chằm Vân, Mộng chứa ở trong kho tư tưởng, đã biết bao nhiêu:

Mà cái chí khí tứ phương, vẫn còn hăm hở
Mới học thói Tử Trường
Bốn bể ngao du
Qua cửa Ðại Thần
Sang bến Ðông Triều
Ðến sông Bạch Ðằng
Ðủnh đỉnh phiếm chu
Trắng xoá sóng kình muôn dậm
Xanh rì dặng ác một màu
Nước trời lộn sắc
Phong cảnh vừa thu
Ngàn lau quạnh cõi
Bến lách đìu hiu
Giáo gãy đầy sông
Cốt khô đầy gò
Ngậm ngùi đứng lặng
Ngắm cuộc phù du
Thương kẻ anh hùng đâu vằng tá ?
Mà đâu đây vết vẫn còn lưu
Kìa kìa bên sông, lảo phủ người đâu ?
Lượng trong bụng ta, chừng có sở cầu
Hoặc gậy chống trước, hoặc thuyền bơi sau.

Vái tạ mà thưa rằng: Ðây là chỗ chiến địa của vua Trần bắt giặc Nguyên, và là nơi cố châu của vua Ngô phá quân Lưu đấy.

Ðương khi:

Muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ
Guơm tuốt sáng lòe, cờ bay đỏ khé
Tướng Bắc quân Nam
Ðôi bên đối lũy
Ðã nổi gió mà bay mây
Lại kinh thiên mà động địa
Kìa Nam Hán nó mưu sâu
Nọ Hồ Nguyên nó sức khoẻ

Nó bảo rằng: Phen này đạp đổ nước Nam, tưởng chừng cũng dễ.

May thay:

Trời giúp quân ta
Mây tan trận nó

Khác nào như quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích Bích khi xưa.

Giặc Bồ Kiên bị tan ở bến Hợp Phì thuở nọ
Ấy cái nhục tầy trời của họ, há những một thời
Mà cái công tái tạo của ta, lưu danh thiên cổ
Tuy vậy, từ thuở có trời có đất, vẫn có giang san
Trời đất ra nơi hiểm trở
Người tính lấy cuộc tôn an
Hội nào bằng hội Mạnh Tân như vương sư họ Lã
Trận nào bằng trận Duy Thuỷ như quốc sĩ họ Hàn

Kìa trận Bạch Ðằng này mà đại thắng
Bởi chưng Ðại vuơng coi thế giặc nhàn
Tiếng thơm còn mãi
Bia miệng bao mòn
Nhớ ai sa giọt lệ
Hổ mình với nước non

Rồi vừa đi vừa hát rằng
Sông Ðằng một giải dài ghê
Luồng to sóng lớn dồn về bể Ðông
Trời Nam sinh kẻ anh hùng
Tăm kình yên lặng, non sông vững vàng
Khách lại nối mà hát rằng
Triều ta hai vị thánh nhân
Sông kia còn dấu tẩy trần giáp binh
Nghìn xưa gẫm cuộc thăng binh
Tại đâu đất hiểm, bởi minh đức cao

Ðông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch

***Truơng Hán Siêu, tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, tỉnh Ninh Bình. Ông được bổ Hàn lâm học sĩ năm 1308 và mất năm 1834. Ông làm quan dưới bốn triều vua: Trần Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, và Dụ Tông. Ông để lại:

Bạch Ðằng Giang Phú
Linh Tế tháp ký
Khai Nghiêm bi ký


***Bạch Ðằng Giang: sông Bạch Ðằng là một phụ lưu của sông Thái Bình, chảy qua tỉnh Quảng Yên và đổ ra cửa Nam Triệu. Ở đây, năm 939, Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán, bắt sống thái tử Hoằng Tháo, con vua Hán Lưu Cung, bằng kế cấm cọc gỗ nhọn dưới sông. Hơn 300 năm sau, Trần Hưng Ðạo cũng diệt quân Nguyên bằng kế ấy...

Một số bài phú chữ Hán đời Trần được ghi chép lại trong cuốn Quần Hiền Phú Tập của Hoàng Sằn Phu năm 1414:

• Quan chu ngọc phú - Nguyễn Hữu Bật
• Bàn khê điếu hoàng phú - Trần Công Cận
• Trảm xà kiếm phú - Sư Hi Nhan
• Cần chính lân phú - Nguyễn Pháp
• Thiên thu kim giám phú - Phạm Ðình Khê
• Ngọc tỉnh liên phú - Mạc Ðỉnh Chi
• Bạch đằng giang phú - Trương Hán Siêu
• Thiên hưng chấn phú - Nguyễn Bá Thông
• Cảnh tỉnh phú – Ðào Sĩ Tích
• Diệp mã phi phú - Nguyễn Phi Khanh
• Thang bàn phú - Khuyết Danh
• Ðông hồ bút phú - Khuyết Danh.


Tiếp nối nhà Trần là nhà Hồ, chúng ta không có tài liệu nào minh bạch rõ ràng về Phú Chữ Hán trong triều đại này, có lẽ vì thời gian ngắn ngủi, và sự việc biến động trong nước liên tục và dân tình bất phục họ Hồ...

Cuộc khởi nghĩa cũa Lê Lợi, người anh hùng áo vải Lam Sơn, trong suốt 1o năm kháng chiến chống quân Minh đã giành lại độc lập cho nước nhà thoát khỏi ách bạo tàn của nhà Minh...Chém Trần Hợp ở Tuỵ Ðộng, vây hãm Ðông Ðô, buộc Vương Thông 2 lần xin hòa, phá tan 10 vạn quân giặc ở Chi Lăng, chém An Viễn Hầu Liễu Thăng (hổ tướng của Minh Thành Ðế) cầm tù Thôi Tụ, giam giữ Hoàng Phúc, đuổi Mộc Thạnh chạy ra khỏi Cao Lạng...

Bấy nhiêu đó được thể hiện trong bài Xương Giang Phú của Lý Tử Tấn, Chí Linh Sơn của Nguyễn Mộng Tuân và Nguyễn Trãi.

Phú Xương Giang

Trời đất khéo đặt
Non sông vốn thiêng
Nơi đây vũ công lừng lẫy
Giúp nên đất nước bình yên

Lạch thiên nhiên của trời Nam sẵn có
Mở thái bình cho đất Việt khắp miền
Ấy Xương giang, một sông hình đẹp
Mà dấu thơm, muôn đời còn truyền

Này xem:

Cồn cát rải rác
Bãi lau rườm rà
Ầm ập sóng vỗ
Dồn dập nước sa
Không sâu không nông
Dễ lội, dễ qua.

Một lá vượt sang, không hiểm như Cù Ðường Diễm Dự
Ném roi thẳng tới, không lo như Hắc Thủy Ðại Hà

Thời ấy:

Giặc Minh sang lấn
Lập trại, đấp thành
Chiếm giữ đất cát
Tàn hại sinh linh

Ðức Thái tổ ta:

Quân có một toán
Ðất có một thành
Thấy dân cực khổ
Ðộng mối thương tình
Bèn theo lòng trời
Bèn họp nghĩa binh
Những tướng tay chân, tâm phúc,
Thiếu chi Tín, Bố, Lương, Bình
Quân tới, khắp nơi theo phục
Nghe tin các nước hoan nghênh

Rồi:

Xương Giang phá trại
Ðông Quan hạ thành
Hẹn một phen quét sạch
Cho bốn cõi yên lành

Thế nhưng:

Bọn cuồng đồ kia,
Lại kéo tràn sang
Xe chạy từng lượt
Cờ bay từng hàng
Quân đông như kiến
Khoe bô hùng cường
Lấn cướp,phá phách,
Ðông dỡ, ngang tàng

Khiến cho con ếch giận tới phềnh bụng
Mà con bọ ngựa tức phải giơ càng

Bấy giờ:

Thần xui nên mưu chước
Trời giúp bậc khoan nhân
Sắp quân và kén tướng
Ðánh giặc để cứu dân,

Tiếng trống nổi vang, ba quân thật hùng cường bội sức
Ngọn cờ thẳng tiến, các tướng đều hăng hái liều thân

Này Pha Lũy, Kê Lăng, trận nọ oai hùng đã dậy,
Lại Bình Than, Lộng Nhãn, trận kia thế mạnh khôn ngăn.

Sấm vang, chớp nhoáng
Ra quỉ, vào thần
Giặc kia mất vía
Phải tan nát dần

Kết quả đến:

Bắt Thôi Tụ, giết Liễu Thăng
Lý Khánh nộp mạng
Hoàng Phúc đầu hàng
Toán này xô nhau trở giáo
Toán kia bỏ chạy cùng đàng
Xương chất thành núi
Máu chẩy đầy hang
Bốn cõi mây mờ quét sạch
Giữa trời ánh sáng huy hoàng

Kìa trận Hợp Phì oanh liệt khi trước, trận Xích Bích toàn thắng khi xưa, sao được bằng đây vẻ vang

Than ôi!
Có đức, công mới lớn
Có người, đất mới linh
Giữ nước không cốt ở hiểm yếu
Giữ dân không cốt ở hùng binh
Lòng trời mà đã giúp
Sức người đâu dám tranh.

Vậy con sông này:

Nếu không gặp Thánh Tổ, sao được gọi là hiểm ?
Nếu không nhân chiến thắng, sao được truyền mãi danh ?

Ðó thật:

Dân mến người chí đức
Trời giúp bậc chí thành
Nay kính đặt theo mấy câu ca rằng:
Ðức nhà vua thịnh, non sông linh
Áo nhung một mảnh, võ công thành
Từ đây khắp cõi đều yên lành
Kéo nước Ngân Hà rửa giáp binh
Sông đây, đất ấy,
Muôn thuở thanh bình

Trịnh Ðình Rư dịch - Hoàng Việt thi văn tuyển.

***Lý Tử Tấn, người làng Triều Ðông, huyện Thượng Phúc, (nay là huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây) đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn nhà Hồ (1400). Ông theo Lê Lợi kháng chiến và giữ chức Văn cảo.

Ông để lại tập thơ Chuyết Am.

***Xương Giang: tên một thành trên bờ sông, ở xã Thọ Xương, huyện Bảo Lộc, phủ Lạng Thương, thuộc tỉnh Bắc Ninh. Trương Phụ sang đánh nước ta, có đóng quân tại thành này...Về sau bị Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Xí dùng phép độn thổ giáp binh chiếm được vào tháng 9-1427.


Từ đó Phú chữ Hán của Việt Nam tiếp tục phát triển về hình thức kết cấu ngôn từ ngày thêm điêu luyện hơn và nội dung truyền đạt tư tưởng trung quân ái quốc và tình cảm thiết tha với sự vật vây quanh, khen ngợi cổ vũ và phê bình đã kích trong lòng yêu nước sôi nổi nêu cao tinh thần ái quốc của con dân xứ Việt...

Thí dụ như:

Chí Linh Sơn Phú

…Vì bởi: biết thế địch, biết sức mình, khi thu hẹp, khi khuếch trương
Chờ thời hội chực khi thuận lợi,giấu oai hùng, nào để hở hang
Nằm gai chẳng quản, nếm mật là thường
Lo rửa thẹn xưa nghìn thuở, để phục đất cũ bốn phương....

Nguyễn Trãi.

• Bài Phú này ca ngợi núi Chí Linh, căn cứ địa kháng chiến của Lê Lợi, ở vùng Tây Bắc, tỉnh Thanh Hoá, thuộc huyện Lang Chánh, giáp giới biên thuỳ phía Ðông nước Ai Lao.


hoặc tả cảnh trình bày sự tình khuất tất nghiêm trang:

bài Ngọc Tỉnh Liên Phú


…Chẳng phải như đào trần lý tục,
chẳng phải như trúc lãnh mai gầy

Câu kỷ phòng tăng khó sánh
Mẫu đơn đất Lạc nào bì
Gian Ðào Lịnh cúc đâu ví được
Vườn Linh Quân lan sá kể gì

Ấy là giống sen giếng Ngọc trên đầu núi Thái Hoa đây...

Mạc Ðỉnh Chi.

• Bài Phú này được làm lúc ông thi đỗ Trạng Nguyên, nhà vua thấy ông tướng xấu không muốn cho đỗ trạng, nên ông làm để tỏ ý....Thạch Trung Ẩn Ngọc! (giống sen là một thứ hoa quân tử, mọc ở giếng Ngọc...hình tượng cao qúi, tâm tình nghiêm trang...vì nước vì dân chớ há vì danh lợi!...mà vua xem thường!)
Quả nhiên sau này, ông đã không phụ lòng...


hoặc khích lệ tinh thần ái quốc như bài:

Lương Ngọc Danh Sơn Phú

Sao chẳng thấy đồng bào ta ở Á Châu
Anh hùng sôi nổi chí sĩ tranh đua
Cụ Nam Hải giữa trung châu cổ động
Chàng Ðông Sơn bên đường rộng khóc ù

Người đều biết xấu hổ
Ta sao không thẹn thò ?

Nhà yến tước khá nên vui gượng
Ðộng Bạch Lộc khen khéo bày trò...

…Bởi một thời làm sai chính sách
Ðể muôn đời cam chịu tai ương

Xem cái việc sở hành, tìm cái điều sở dục
Quân đội lấy gì hùng cường, tài chính lấy gì sung túc
Dân trí lấy gì mở mang, nhân tài lấy gì giáo dục
Than ôi đau xót thay!
dần dà cho đến ngày nay chịu điều khổ nhục....

Phan Chu Trinh, Trần Quí Cáp - Huỳnh Thúc Kháng

• Bài phú này do 3 ông Phan Chu Trinh, Trần Quí Cáp, Huỳnh Thúc Kháng làm năm 1905...Trên bước đường cổ động lòng yêu nước của mọi người, đi ngang qua Bình Ðịnh thì gặp kỳ thi tiểu thí để kiểm tra xem học sinh nào có học lực khá cho đi dự kỳ thi Hương năm sau.Ba ông trà trộn vào đám sĩ tử. Ðầu đề thi gồm có một bài thơ Chí thành thông thánh và một bài phú Lương ngọc danh sơn. Ba ông cùng làm một bài thơ và bài phú viết chung một quyển ký tên là Ðào Mộng Giác (mộng giác có nghĩa là tỉnh mộng). Bài của 3 ông không “ăn “ với tựa đề thi, mà chỉ gợi lòng yêu nước...tất nhiên 3 ông hỏng thi! Nhưng bài thơ Chí Thành Thông Thánh và nhất là bài phú Lương Ngọc Danh Sơn Phú thì...nổi tiếng khắp mọi miền đất nước trong giới học sinh và trí thức!
Dĩ nhiên, 3 ông phải trốn tránh trước sự truy tầm của chính quyền đương thời...


Sơ lược phú Chữ Hán trong Văn Học Việt Nam:

Như đã trình bày phần trên, phú chữ Hán của Việt Nam ngay từ lúc hình thành đã chịu nhiều thua sút so với phú Trung Quốc do từ những nguyên nhân chính sự bất an...Sau khi quốc gia ổn định, dân tình an cư...thì Phú chữ Hán bắt đầu xuất hiện vững vàng và tiến triển.Bắt đầu từ thời Hậu Lý còn phôi thai chập chững thì...đến đời Trần đã biến dạng, tỉ như loài bướm từ lớp ấu trùng xấu xí thành cánh bướm muôn màu rực rỡ...Không kém sút chút gì so với phú Trung Quốc thời cực thịnh... Mà lời bình luận của Học giả Lê Qúy Ðôn trong Kiến Văn tiểu lục ở phần trên: không chút gì là quá đáng thiên vị.

Và từ bước đường tiến hoá đó, Phú Chữ Hán vẫn tiếp tục duy trì và góp phần sâu sắc vào nền văn học Việt Nam...Ngày nay, số người biết Hán văn có lẽ không còn bao nhiêu nữa, và số người người tinh thâm Nho học lại càng hiếm hoi thêm...

Tuy thế, người viết cũng vẫn hy vọng vào tinh thần văn học của mọi người Việt sẽ mãi duy trì nền văn học đặc thù này.

Phú chữ Nôm:

Trước khi chúng ta tìm hiểu về Phú Chữ Nôm hay còn gọi là Phú Tiếng Việt, chúng ta cần phải tìm hiểu phần nào nguồn gốc của chữ nước ta.

Nguồn gốc của Việt Ngữ.

Nguồn gốc tiếng nói của một dân tộc lẽ dĩ nhiên phải gắn liền với nguồn gốc của dân tộc đó...

Có nhiều giả thuyết đưa ra xác định nguồn gốc xuất xứ của dân tộc Việt Nam. Nhưng chỉ có một giả thuyết là có mức độ khả tín khá cao do từ những nghiên cứu tìm tòi của các nhà khảo cổ, nhân chủng học và các học giả. Xin tóm lược sau đây:

Tổ tiên chúng ta nằm trong nhóm Bách Việt, sống rải rác bờ phía Nam sông Dương Tử (Trung Hoa), để tránh sự đồng hoá của Tàu nên đã tách rời ra khỏi nhóm Bách Việt. Ðó là nhóm Lạc Việt (Sử Trung Hoa và Việt Nam đều ghi lại sự kiện quan trọng này). Tổ tiên Lạc Việt chúng ta di cư xuống miền Nam...cho tới địa phận Bắc phần ngày nay...Tất cả chỉ là giả thuyết! Nhưng giả thuyết này được hầu hết các nhà nghiên cứu chấp nhận qua các dữ kiện Cổ Sử giữa đôi bên (Tàu và Việt Nam)

Và theo các nhà nhân chủng học và ngôn ngữ học thì xét về phong tục, lịch sử, cũng như ngôn ngữ, ta thấy người Việt Nam chúng ta có nhiều điểm giống với người Mường, một nhóm dân tộc thiểu số sống rải rác trên các triền nuí từ Ðà giang vào đến Thanh Nghệ. Các nhà khảo cứu cho rằng người Việt cùng một tông tổ với người Mường...

Ngưòi ta cho rằng: vào thời xa xưa trong cổ sử, để tránh nạn đồng hoá của Tàu, nhóm Lạc Việt đã đến định cư ở Bắc phần nước Việt Nam ngày nay. Nhóm Lạc Việt khi di cư đến đây đã định cư rải rác trên khắp miền đồng bằng hay thượng du Bắc phần. Người Mường sống cô lậu trên rừng nùi thương du nên rất là chậm tiến, ngược lại người Việt nhờ điều kiện sinh hoạt thuận lợi nên đã phát triển và biến đổi về mọi mặt...Thuyết này thoả thuận với huyền thoại Âu Cơ và Lạc Long Quân, sinh ra 100 trứng, 50 con xuống biểnvà 50 con lên rừng...

Xét về phần ngôn ngữ, thì hiện nay tiếng Mường có rất nhiều tiếng tương tự với Việt ngữ, có thể coi tiếng Mường là hình thức tiếng tối cổ của Lạc Việt tương đương...

Thí dụ như

: một, hai, ba, trời, đất, núi, sông, trâu, gà, tát nước vào ruộng, tằm ăn lá dâu...
Thì trong tiếng Mường là môc, hal,pa,tlỡy,tất,nủy, không, tlu,kã, tát dãk pao nã, thảm ăn lá tô…

Trích từ: Note linguistique our les Muong, BEFEO, T.5, trang 338 – 339 của A. Chéon.

Rất nhiều nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học cũng có đồng quan điểm trên..

Như vậy, trước khi chúng ta bị Trung Hoa đô hộ 1000 năm, thì ngôn ngữ chúng ta dùng là tiếng Mường ngày nay...chớ không thể nào nói rằng: nước ta trước thời Bắc thuộc...không có ngôn ngữ diễn đạt!

• Lưu ý: Từ tất cả dự kiện trên để đi kết luận rằng: “ Tiếng Việt cổ xưa là tiếng Mường này nay “, là sự tìm tòi nghiên cứu tận tụy của các học giả, các nhà khảo cổ, dựa vào từng yếu tố quan hệ mà truy tầm lai lịch nguyên uỷ của dân tộc Việt Nam...mà các học giả Phạm Thế Ngữ, Nguyễn Ðổng Chi, Toan Ánh... ghi lại. Thì nơi đây, tuy rằng sơ lược lại, người viết cảm thấy học thuật còn kém cõi nên rất thành thật mong mỏi các vị trưởng bối chỉ điểm cho những điều thiếu sót hay sai lầm trong vấn đề nêu trên, một vấn đề cần có sự hợp lý chính xác...

Trong 1000 năm Bắc thuộc, học thuật, văn tự người Tàu tràn sang Giao Châu. Người mình học tiếng Tàu đế tiếp xúc kẻ chiến thắng, tất nhiên rằng tiếng nói của mình chịu nhiều ảnh hưởng người Trung Hoa...Bắt đầu 939, sau khi Ngô Quyền dành lại quyền tự trị của Việt Nam, chúng ta cũng vẫn dùng chữ Hán để làm văn tự quốc gia. Ta học chữ Hán, nhưng phát âm theo cách thức riêng của ta, và người Tàu không thể nào hiểu nối tiếng Hán Việt của người nước ta… Việc vay mượn chữ Hán để tạo ra những tiếng Việt ấy thường theo 2 cách sau đây:

• Một là đem nguyên những chữ Hán Việt âm mà Việt hoá.

Thí dụ: phong lưu, đài các, kính trọng, khinh bỉ, thiên địa, trần ai...

• Hai là phỏng theo những chữ Hán Việt âm mà đọc trệch (trại) ra một âm gần gũi để Việt hoá.

Thí dụ: bằng (do chữ bình – Hán) ; bia (bi), cầu (kiều), gần (cận), chay (trai), vái (bái) v.v…

Chữ Nôm có từ bao giờ ?

Ðây là một câu hỏi, chưa ai có đũ bằng chứng khẳng định có câu trả lời minh xác được...

Theo ông Nguyễn văn San, tự là Hải Du Tử, biệt hiệu Vân Ða cư sĩ, sống vào đời vua Tự Ðức, trong bộ Ðaị Nam Quốc Ngữ Quốc Văn Tùng Ký do ông soạn ra và Phan Văn Diêu chú thích...thì

…chữ Nôm có từ đời Sĩ Nhiếp (178 – 266) từ chữ Hán dựa vào 2 phương cách trên đặc ra chữ Nôm dùng để dịch những sách truyện Trung Hoa ra Việt ngữ mà dạy dân Giao Chỉ..

Theo nhà bác học Pétrus Trương Vĩnh Ký thì chữ Nôm có trước đời của Sĩ Nhiếp…

Thuyết cuối cùng, có phần phù hợp với 2 thuyết trên là theo Sử liệu Việt Nam chúng ta (bất cứ Sử Việt nào) đều có ghi chép rằng:

Vào năm 791, Phùng Hưng là người nước ta, nổi lên đánh quan Ðô Hộ Tàu và giữ việc cai trị trong ít lâu, ông được lòng dân và mọi người tôn ông là Bố Cái Ðại Vương...Hai chữ Bố Cái là tiếng Việt Nam thuần tuý, nếu như mà mọi người dân Giao Châu đem hai tiếng đó tôn vinh cho người chủ tễ trong nước thì chắc chắn rằng trong nước đã có chữ để viết hai từ: Bố Cái, và chữ đó nhất định là chữ Nôm của chúng ta...

Chữ Nôm dùng nhiều trong triều đại nhà Trần (1225 – 1398), ngoài Hàn Thuyên còn nhiều học giả khác dùng chữ Nôm như Nguyễn Sĩ Cố, Hồ Qúy Ly...Tập thơ kể chuyện Vương Tường (hay Chiêu Quân) do các văn nhân vô danh làm để chỉ trích vua Trần Anh Tông đem Huyền Trân công chúa gả cho vua Chiêm Thành.

Hơn nữa, người ta còn tìm thấy ở Hộ Thanh Sơn ở tỉnh Ninh Bình một tấm bia đề năm 1343 (Trần Dụ Tông, Thiệu Phong thứ 3) trên có khắc 20 tên làng bằng chữ Nôm, đó là một chứng tích khẳng định về chữ Nôm xưa còn truyền lại đến ngày nay...


Và riêng về chữ Quốc ngữ ra đời vào đầu thế kỷ thứ 17 do công trình của các vị linh mục Francesco de Pina, Gaspar d'Amaral, Antonio Barbosa và nhất là linh mục Alexandre De Rhodes cùng với một số các thầy phụ đạo Việt Nam góp ý trong các ngôn từ phản ánh địa phương tính. Linh mục Alexandre De Rhodes đã có công rất lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ mà chúng ta dùng ngày nay. Đặc biệt là ông đã dùng mẫu tự hiện đại (24 chữ cái) để biên soạn và ấn loát lần đầu tiên bộ từ điển Việt - Bồ - La (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và cuốn Phép giảng tám ngày. Về phương diện ngôn ngữ học thì cuốn diễn giảng vắn tắt về tiếng Việt Ngữ này (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp. Riêng quyển Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam trong thế kỷ thứ 17.

Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt - Bồ - La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ cuốn Tự điển Việt - Bồ - La (1772) ra đời, tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pierre Joseph Georges Pigneau de Behaine, gọi tắt là linh mục D!Adran, thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay.


Ðôi phần sơ lược về tiến trình hình thành tiếng Nôm và tiếng Việt ngày nay, xin ngừng nơi đây để trở lại đề tài chính...

Văn chương chữ Nôm xuất hiện và lưu dụng từ thế kỷ 13 thì đây cũng là thời điểm bắt đầu của phú chữ Nôm. Khởi đầu là Hàn Thuyên bài “ Văn Tế Ngạc Ngư “...theo thể Ðường luật..., nhưng những bài Phú do Nguyễn Sĩ Cố sáng tác...đều thất lạc! Và trong đời Trần, chữ Nôm tuy rằng đã xuất hiện từ lâu vào thế kỷ thứ 8, nhưng vẫn chưa được quảng bá cho lắm, cho nên phú chữ Nôm chưa có điều kiện phát triển mạnh mẽ...

Văn Tế Ngạc Ngư

Ngạc ngư kia hởi! Mày có hay!
Biển đông rộng rãi là nơi mày!
Phú Lương đây thuộc về thánh vực
Lạc lối đâu mà lại tới đây ?

Há chẳng biết rằng nước Việt xưa,
Dân quen chài lưới chẳng tay vừa,
Đời Hùng vẽ mình, vua dạy bảo
Xuống nước giao long cũng phải chừa!

Thánh thần nối dõi bản triều nay
Dấy từ hải ấp ngôi trời thay
Vũ công lừng lẫy bốn phương tĩnh
Bể lặng sông trong mới có rày

Sài lang xa dấu dân cày cấy
Nhân vật đều yên đâu ở đấy
Ta vâng đế mệnh bảo cho mày,
Lại về bể đông mà vùng vẫy!

Trích từ Văn Tế cá sấu của Hàn Thuyên

Dưới đời Hồ Quý Ly, Hồ Tôn Thốc có soạn cuốn Phú học chỉ nam, và Nguyễn Phi Khanh (cha của Nguyễn Trải) cùng nhiều danh sĩ có làm bài phú Con Ngựa Lá để ca ngợi cảnh vật kỳ lạ của đất nước...

Phú Con Ngựa Lá

Có một vật chừ rất bé nhỏ. Ðua điều xảo chừ của tạo hoá ;
Rằng quái, rằng thiêng. Rằng kì, rằng lạ.
Hình đầu giống sâu. Thân toàn những lá.
Tra tròn giấy má sách xưa. Ðều chẳng một ai biết có.
Ðó chính là vật trên cây ở Sơn trang Kim Âu mà hoá thành con ngựa lá.

Xem nó:

Phô vẻ rậm rì, thơm phấn tốt lạ.
Trên lưng chừ liên tiếp nối xương, ngang bụng chừ lờ mờ in lốt.
Cái móng cái sừng. Ai cắt, ai lột.
Tưởng hồng hoang thuở xưa ; Giống long mã như một.

Ðược ghi lại trong Việt Nam Cổ Văn Học Sữ - Nguyễn Ðổng Chi.

Cuối đời nhà Trần, những cuộc khởi nghĩa chống quân Minh do Quý Khoách, Giản định Ðế đều đi đến thất bại...Do đó những bài phú Nôm có xu hướng ngậm ngùi, bi thương ; thương xót người chiến sĩ và căm thù quân xâm lược nhà Minh...(Bài văn tế của Trần Trùng Quang tặng Nguyễn Biễu)

Trong hai thế kỷ 16 và 17, phú tiếng Việt đã bắt đầu phát triển nhưng cũng không được mạnh mẽ cho lắm. Những bài phú nổi tiếng như:

Đại Đồng Phong Cảnh Phú: điển hình của thể phú tả cảnh tả tình, phép biền ngẫu liền lạc làm ý từ mạnh mẽ cuồn cuộn như từng lớp sóng chồng lên nhau tiếp nối...

Chưng xem:

I- Ðặc khí thiêng liêng. Nhiều nơi thanh lạ.

Non xuân sơn cao thấp triều tây. Sông Lôi Thủy quanh co nhiễu tả.
Ngàn Tây chìa cánh phượng, dựng thuở hư không
Thành nước uốn hình rồng, dài cùng dãy đá
Ðùn đùn non yên ngựa, mấy trượng khỏe thế kim thang.
Cuồn cuộn thác con voi, chín khúc bền hình quan tỏa.....

II- Thêm có:

Lâu đài kể nước. Hoa cỏ hướng dương
Thược dược khéo mười phần tươi tốt
Mẫu đơn khoe hết bực giàu sang
Hây hây ngõ hạnh, tường đào, quanh nhà Thái Tổ.
Thảy thảy đường hoè, dậm liễu, bóng gió thiều quang
Má hồng điểm thức yên chi đầy vườn hạnh, đầy vườn hạnh, xem bằng quốc sắc.
Quần lục đượm thêm mùi long não, dẫy tường lan, nức những thiên hương....

Nguyễn Hãng


Ðến thế kỷ thứ 18 đến thế kỷ 19, phú chữ Nôm bắt đầu phát triển mạnh mẽ cùng với sự hưng phấn của nền văn chương chữ Quốc ngữ. Cuộc phân chia Nam Bắc suy tàn theo liền với cuộc khởi nghĩa của 3 anh em Tây Sơn và thời kỳ lưu vong của Nguyễn Ánh...Ðã đem lại nhiều sinh khí cho phú chữ Nôm, thời kỳ hưng thịnh nhất trong văn học Việt Nam.

Bài Tụng Tây Hồ phú cũa Nguyễn Huy Lượng ca ngợi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, đi liền với bài Chiến Tụng Tây Hồ phú của Phạm Thái chê bai Tây Sơn cùng Nguyễn Huy Lượng so với nhà...vãn Lê thì chỉ là ngụy mà thôi...

Bài Bắc Sở Tự Tình Phú của Lê Quýnh: đau xót lưu luyến thương tiếc triều Lê mạt.

Bài Trương Lương Hầu Phú của Nguyễn Hữu Chỉnh: tự ví mình như Trương Lương đi tìm chân chúa

Bài Hàn Vương Tôn Phú của Ðặng Trần Thường: nổi niềm oán trách...vì bị vua ghét bỏ.

Bài Tài Tử Ða Cùng Phú của Cao Bá Quát...

Văn Tế Chíên Sĩ Trận Vong của Nguyễn Văn Thành

Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du...

v.v…

Thật là muôn màu muôn vẻ, mỗi bài Phú hầu như là một tuyệt phẩm của Văn chương, văn từ điêu luyện, ý tượng thâm sâu...

Hẳn nhiên rằng, những biến đổi của lịch sử của một quốc gia bao giờ cũng ảnh hưởng thật sâu sắc trong văn học của quốc gia đó...Thời nhiễu nhương 100 năm Pháp thuộc, triều đình nhà Nguyễn bất tài nhu nhược, ký kết biết bao là hiệp ước bất bình đẳng, nhượng bộ bao chủ quyền quốc gia cho giặc Pháp... dân tình khổ sỡ biết là bao dưới ách thống trị của người Pháp...Tất nhiên, sự đè nén áp bức nào cũng có sự bộc khởi phản đối mãnh liệt của nó...Ngoài những cuộc khởi nghĩa kháng chiến dành lại độc lập một cách trực diện với quân thù, văn chương cũng góp phần quan trọng trong tiến trình tranh đấu, tất nhiên Phú thi cũng chẳng chịu thua kém gì so với những tác phẩm văn chương đương thời...

Bài Phú nổi tiếng nhất thời Pháp thuộc là bài:

Lương Ngọc Danh Sơn Phú do 3 nhà cách mạng Việt Nam sáng tác (Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng)...

Ngoài ra còn có những bài:

Hồ Gươm Phú, Dân Ngu Phú của Tú Mỡ - Nguyễn Trọng Luật.
Phú Ông Ðồ Nho của Bùi Huy Phồn...
Dương Liên Mạ Nguỵ Trung Hiền Phú (Khuyết Danh – ý mắng Hoàng Cao Khải, Nguyễn Hữu Ðộ làm tay sai cho Pháp truy diệt người yêu nước)...



Kết luận

Mục đích của bài viết này, người viết thiết tha trình bày cùng mọi người một thể loại văn chương trong nền văn học Việt Nam có cơ nguy…mai một!

Phú Thi đã trãi qua biết bao thăng trầm của lịch sử, được tổ tiên chúng ta hết lòng gầy dựng, tạo nên những áng văn tuyệt tác, so với văn học nước ngoài thật là không chịu bề sút kém...

Nay chúng ta đành để Phú Thi phó mặc với thời gian, bỏ lại sau lưng hay sao ? Qua từng các website, từng trang tạp chí...thi văn có chỗ đứng thật vững vàng, nếu không muốn nói là phong phú, thì tại sao chúng ta không đưa Phú Thi vào địa vị tương tự như thi ca để phát huy nét đẹp của nền Văn Học Việt Nam...

Xin nhớ cho rằng:” Không có sự việc nào khó khi mà chúng ta có quyết tâm! “

Mong lắm thay!

Tài liệu tham khảo:
Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển - Dương Quảng Hàm.
Việt Nam Văn Học Sử Yếu - Dương Quảng Hàm.
Quốc Văn Cụ Thể - Ưu Thiên Bùi Kỷ.
Việt Nam Văn Khảo – Phan Kế Bính.
Văn Học Phân Tích Toàn Thư - Thạch Trung Giả.
Văn Hoá Việt Nam, Những nét Ðại Cương - Toan Ánh.
Việt Nam Cổ Văn Học Sử - Nguyễn Ðổng Chi
Thi Ca Cổ Ðiển - Bảo Vân sưu tầm và chú thích.
Văn Học Ðời Lý - Ngô Tất Tố
Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên - Phạm Thế Ngữ
Kiến Văn Tiểu Lục - Lê Quí Ðôn.
Phú Việt Nam – Phong Châu Nguyễn Văn Phú.

Ðiạ Lý Việt Nam – Dân Tôi Nước Tôi - Nhiều Tác Giả...
Việt Sử Toàn Biên - Sử Gia Phạm Văn Sơn.
Sử Trung Hoa – Nguyễn Hiến Lê
Cổ Văn Trung Hoa - Nguyễn Hiến Lê.

Nguồn: http://www.thuvienvietnam.com/ftopicp-27316.html
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vanachi

Tình đông trong Đường thi
Tác giả: Hải Đà



Thơ Đường có hai loại hình phổ thông đó là miêu tả và tự sự. Miêu tả những cảnh vật thiên nhiên trong bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông vẫn được các nhà thơ Đường ưa chuộng, cùng với mục đích không những chỉ tả cảnh thuần túy trong thiên nhiên vũ trụ, mà người thơ còn muốn bộc bạch tấm lòng, gửi gắm tâm tư, biểu lộ cảm xúc của mình, một cách chân thành, tự nhiên vào những biểu tượng cụ thể của cảnh vật chung quanh, như muốn gọi mời lôi cuốn hồn thơ lãng đãng đắm chìm trong âm thanh, màu sắc, hình tượng của vũ trụ muôn màu muôn sắc, vô thủy vô chung.

Trong bài viết nầy, tác giả xin đan cử vài bài thơ nói lên cái suy tư, cảm xúc của người nghệ sĩ thơ Đường đứng trước khung cảnh mùa Đông lạnh giá giữa khói sương bàng bạc huyền ảo, mây núi chập chùng bao la, tuyết rơi lả tả phủ trắng khung trời, gió biên cương hiu hắt, nỗi nhớ quê hương vời vợi…

Bằng đôi mắt nghệ sĩ tinh tế, ngập tràn cảm xúc, nhà thơ Cao Biền đã vẽ nên một bức tranh thơ nhẹ nhàng tình tứ, chập chùng mộng ảo, giữa hư và thật "trúc xanh mà cứ tưởng là quỳnh mơ" mang âm hưởng nhạc khúc sầu man mác, làm trùng lòng người xem . Người thơ đã có cảm thụ sâu sắc, mượn hình ảnh thiên nhiên để biểu đạt cái cảnh ngộ của bản thân và như muốn thổ lộ tâm sự riêng tư :

Tuyết bay lả tả sân nhà
Trúc xanh mà cứ tưởng là quỳnh mơ
Lầu cao ngắm cảnh nên thơ
Đường quanh co tuyết phủ mờ nhân gian
Đối Tuyết (Cao Biền)

Không gian bàng bạc trong Đường Thi đã gợi mở cho thi nhân những hình ảnh sinh động, những xúc cảm tinh tế, những nỗi lòng bâng khuâng tương thông và tương hợp . Nhà thơ Lưu Khắc Trang diễn cả khung cảnh mùa Đông qua cảm nhận phong phú, gắn bó giữa khung cảnh đẹp buồn, trữ tình, nhiều màu sắc và âm thanh của một bức tranh thủy mạc gắn bó với cuộc sống đời thường, với những cảm thụ tha thiết nhân sinh "vườn hoa cúc nở đóa tròn, cảnh như thế hỏi ai còn không vâng .." Như vậy khung cảnh mùa đông đâu phải là biểu tượng riêng của ảm đạm, lo âu, buồn não nuột, mà còn là những hình ảnh đẹp muôn màu gợi cảm trong tâm hồn của thi nhân:

Bên song thức dậy, nắng vàng
Tiếng thu xào xạc sau hàng tre xanh
Lầu cao sai kẻ dọn nhanh
Trẻ con gọi bảo dành manh áo hàn
Rượu hâm, cây lá xanh ngàn
Thức ăn nghi ngút đầy bàn thơm ngon
Vườn hoa cúc nở đóa tròn
Cảnh như thế hỏi ai còn không vâng !
Đông Cảnh (Lưu Khắc Trang)

Những bài thơ mang giọng điệu trữ tình thấm thía, ý tình gắn bó một cách mật thiết hài hòa, nói lên một tâm hồn thư thái, an bình, mang khuynh hướng nhàn dật thanh cao và giản dị, từ bỏ nếp sống áo mũ xênh xang gò bó, chốn khoa trương chèn ép, ganh ghét dèm pha, để mà cùng bạn bè sống an vui với cảnh thiên nhiên, cỏ cây trăng nước, với chén rượu câu thơ, cùng nhau đàn ca xướng họa:

Đêm đông trà, rượu mời anh
Tre khô nhóm bếp lung linh lửa hồng
Vẫn thường trăng chiếu bên song
Chỉ hoa mai tỏa sắc hương lạ lùng
Hàn Dạ (Đỗ Lai)

Bức tranh thiên nhiên được diễn tả bằng những đường nét gợi cảm, màu sắc lung linh huyền ảo, trong khung cảnh tĩnh lặng, vi diệu, gợi nên sự liên tưởng sâu sắc, và tâm hồn thi nhân đã giao động trước cảnh uyên nguyên của đất trời bao la, vũ trụ bát ngát :

Chung Nam cảnh núi tuyệt trần
Tuyết rơi rơi phủ trắng vầng mây trôi
Sau mưa rừng nắng sáng soi
Chiều hôm thành vắng khí thời lạnh căm
Chung Nam Vọng Dư Tuyết (Tổ Vịnh)

Thơ Đỗ Phủ dạt dào tình cảm sâu sắc phong phú, mang tính cách hiện thực. Ngoài những bài thơ biểu hiện cái nhiệt tình yêu nước cao độ, lòng bác ái vị tha đối với tầng lớp nông dân lao động, và tinh thần đả kích giai cấp thống trị phong kiến hủ bại, ông còn sáng tác rất nhiều bài thơ tả cảnh thiên nhiên thật nồng nàn sinh động và trữ tình tha thiết, mang phong cách thơ truyền cảm độc đáo.

Cùng với cảnh tuyết rơi, nhà thơ đã tạo ra những hình ảnh thi vị, tinh khôi, ý cảnh đầy sáng tạo, phóng khoáng và gợi cảm tự nhiên Phải chăng nhà thơ đã muốn quên đi những ray rứt u hoài, lo âu khắc khoải, gian nan phiền toái của kiếp đời ly hương :

Trường Sa tuyết bắc giăng đầy
Mây Hồ lạnh lẽo gieo lây khắp nhà
Lá rơi theo gió la đà
Mưa rơi tí tách khó mà nở hoa
Tiền đầy túi, chẳng lo xa
Rượu ngon bình bạc cứ pha ngập tràn
Không ai uống hết rượu ngon
Cùng nhau đợi lúc chiều tàn quạ kêu
Đối Tuyết (Đỗ Phủ)

Lấy vật để tả lòng "cảnh nầy, thôn cũ, khác chăng ?" đã nói lên cái tâm tư của người thơ bộc phát từ sự "cảm ở mắt, hiểu ở lòng", qua sự quan sát tinh tế và cảm nhận bén nhạy, đó là những suy tư sâu thẳm, cảm xúc dâng tràn, hoài cảm trung thực bộc phát từ những hình ảnh thiên nhiên lặng lẽ, nhịp nhàng đầy thi vị, đã dẫn dắt tâm tưởng của người thơ trên hành trình đi tìm về nguồn cội sinh thành, nơi quê cha đất tổ :

Cảnh, trời, người, đất, gọi nhau
Lập đông hơi ấm phô màu xuân sang
Mành mành năm sắc treo ngang
Véo von lau sậy, bụi ngàn bay xa
Liễu chờ, trăng đợi bờ hoa
Non cao bớt lạnh, mai đà lộc căng
Cảnh này, thôn cũ, khác chăng?
Rượu nồng chuếnh choáng, ta rằng nhớ quê?
Đông Chí (Đỗ Phủ)

Liễu Tông Nguyên đã dùng thơ để bộc lộ nỗi lòng thầm kín riêng tư . Ông là nhà chính trị học thức và tài hoa, một người tiến bộ chủ trương vấn đề cải cách, đả kích bọn địa chủ cường hào, nhưng ông bị nhiều phe phái có thế lực cấu kết chống lại ông. Ông thất bại và bị biếm làm Tư Mã Vĩnh Châu. Những bài thơ tả cảnh của ông ngắn gọn cô đọng, nhưng tinh tế hàm súc đầy ẩn ý, chan chứa tình . Bài thơ Giang Tuyết của ông đã phát họa một hình ảnh cô đơn của một ông lão buông câu trên sông tuyết lạnh lẽo bàng bạc khói sương. Đó là một hình ảnh đậm đà cảm xúc, trong một thế giới trầm mặc thanh tịnh, để tự khắc họa hình ảnh của nhà thơ, muốn nói lên cái nỗi buồn tê tái của kẻ xa quê, cái tâm trạng chua xót bị ức chế, bày tỏ cái tâm tư dằn vặt, cái u uẩn ngấm ngầm triền miên vẫn hoài khắc khoải trong lòng người thơ . Ông mượn lời thơ tả cảnh nhàn dật, cũng chỉ muốn gửi gắm nỗi lòng cô đơn thất vọng, và cũng để biểu lộ cái cốt cách thanh cao của kẻ sĩ liêm chính :

Nghìn non vắng bóng chim bay
Mịt mùng muôn dặm chẳng hay chân người
Lão thuyền nón lá áo tơi
Mặc sông tuyết phủ vẫn ngồi buông câu
Giang Tuyết (Liễu Tông Nguyên)

Thơ Mạnh Hạo Nhiên chủ yếu miêu tả cảnh quê hương đất nước, cuộc sống ngao du sơn thủy, ẩn dật nhàn cư . Đó là những chuỗi tâm tư trầm lắng và ý vị giữa dòng đời trôi nổi, trên bước đường phiêu bạt, khi nỗi nhớ quê dằng dặc trước cảnh trời đông lạnh tuyết trắng vây quanh . Hồn thơ trắc ẩn theo cánh nhạn xa bày, cô đơn, u uẩn, bay về một khung trời hoài vọng xa xăm. Những tiếng kêu ly hương thảng thốt, những tiếng gọi chia lìa thống thiết, những tiếng nấc trầm luân khô lệ, như vẫn còn quanh quất đâu đây ... Phải chăng người thơ đã muốn trở về cõi an nhiên tự tại, nơi quá khứ êm đềm để muốn tìm quên những nghiệt ngã xót xa khi lê thân lưu đày nơi đất khách quê người :

Lá rơi cánh nhạn bay về
Gió trên sông thổi lạnh tê buốt lòng
Nhà ta khuất bến sông Tương
Cách xa đất Sở mấy đường mây trôi
Nhớ quê mắt lệ dần vơi
Cánh buồm cô độc góc trời tha phương
Mịt mùng dọ lối hồi hương
Mênh mông biển tối thê lương lặng nhìn
Tảo Hàn Hữu Hoài (Mạnh Hạo Nhiên)

Cao Thích là nhà thơ Đường tài năng và phóng khoáng, thời trẻ ông đã nổi tiếng qua bài thơ biên tái "Yên Ca Hành" miêu tả cảnh chiến chinh hùng tráng, xông xáo, khảng khái với tất cả nhiệt thành , "tử tiết tòng lai khởi cố huân ?" (xưa nay kẻ tử tiết nào nghĩ đến công lao ?) , "quân bất kiến : sa trường chinh chiến khổ ?" (anh chẳng thấy : sa trường chinh chiến khổ "), bộc lộ hoài bão tha thiết của một kẻ sĩ phu luôn ôm ấp lý tưởng cao cả, khí khái tự hào, ngạo nghễ bất chấp thời cuộc đảo điên. Ông cũng có những bài thơ ca ngợi tình bạn một cách chân thành, tha thiết, chứa chan tình cảm đôn hậu, tâm lượng bao dung :

Mây vàng mười dặm nắng soi
Gió lùa cánh nhạn tuyết bời bời rơi
Chớ buồn đường trước chẳng ai
Ở trong thiên hạ muôn người biết anh !
Biệt Đổng Đại (Cao Thích)

Bạch Cư Dị là nhà thơ lớn thời Đường. Ông yêu chuộng sự chất phát thành thật trong thi ca, nên thơ Ông khá phổ thông trong quần chúng, phù hợp với chủ trương hiện thực, nhưng giàu chất trí tuệ và có sức quyến rũ vô cùng . Ông mang tư tưởng "thức thời tri mệnh" và "an bần lạc đạo" , nên những vần thơ tả cảnh thiên nhiên "ngâm phong vịnh nguyệt" là những bức tranh sơn thủy tự nhiên rất đẹp biểu hiện một tâm hồn bình dị trong sạch và thái độ lạc quan đối với cuộc sống :

Dế đông buồn gấp mấy thu
Não nùng kêu, kẻ vô tư phải sầu
Già như ta sợ gì đâu
Tuổi xanh nghe phải chắc đầu bạc phơ
Đông Dạ Văn Trùng (Bạch Cư Dị)

Với tấm lòng bao dung vị tha yêu người, thương dân, thương nước, và khe khắc với chính bản thân, nhà thơ Bạch Cư Dị đã đưa mâu thuẫn giai cấp vào dòng thi ca hiện thực của ông, đã tài tình miêu tả cuộc sống nông dân chất phác hiền hòa, chịu đựng nghèo nàn, đen tối đau thương, thua thiệt vì sự bất công đàn áp và bóc lột của giai cấp quan liêu thống trị . Ông là người yêu chuộng sự giản dị, tự nhiên, thành thật và muốn văn nghệ thi ca không phải là sản phẩm ưu đãi chỉ dành riêng cho giới quan liêu quí tộc, mà thi ca phải phản ảnh đời sống bình thường trung thực của tầng lớp nông dân tay lấm chân bùn, khốn khổ bần cùng cơ cực, phải quần quật làm việc trong thời tiết mùa đông, giá buốt, cơ hàn . Bài thơ Thôn Cư Khổ Hàn (Rét Buốt Ở Thôn Quê) của ông là những lời lẽ chân thật giản dị, nhưng thâm thúy, khúc chiết và sinh động, phát xuất tự đáy lòng chân chính, từ tâm hồn bác ái nhân hậu đã làm xúc động người đọc khôn nguôi :

Mùa đông tháng chạp năm nào
Suốt năm ngày lạnh tuyết ào ào rơi
Tre thông chết cóng rã rời
Huống không manh áo bao người lầm than
Nhìn xem khu xóm quanh làng
Mười nhà .. tám, chín nghèo nàn thảm thê
Như dao cắt, gió bấc về
Vải bô đâu đủ ấm che thân người
Rơm, gai đốt tạm tìm hơi
Suốt đêm chờ sáng đứng ngồi buồn vương
Nghĩ năm buốt lạnh mà thương
Nông dân chịu đựng trăm đường đắng cay
Nhìn lại ta với những ngày
Ở trong nhà kín thật may hơn người
Chăn bông áo kép đều nơi
Dư thừa hơi ấm nằm, ngồi thảnh thơi
May không đói rét tả tơi
Lại không vất vả ngoài nơi ruộng đồng
Ngẫm suy mà thấy thẹn lòng
Hạng người chẳng xứng ... hỏi rằng phải ta ??
Thôn Cư Khổ Hàn (Bạch Cư Dị)

Cảnh vật mùa đông vốn đã là những hình ảnh biểu trưng cho sự cảm sầu da diết, ảm đạm tái tê, tĩnh lặng cô đơn, lại càng làm cho mối sầu tăng thêm mãnh liệt, khi phải đứng trước những cảnh chia tay, ly biệt, khi phải tiễn bạn đi xa, như một cánh chim bạt ngàn bay về một chân trời nào đó, gặp nhau lại chỉ là một viễn ảnh xa mờ :

Ngút ngàn cỏ úa biên cương
Nỗi sầu ly biệt vấn vương đã nhiều
Đường chân mây lạnh đìu hiu
Người về tuyết phủ bóng chiều mong manh
Xa nhà thuở tóc còn xanh
Trải bao gian khó, gặp anh muộn màng
Nhìn nhau dấu lệ, bàng hoàng
Hẹn nơi đâu ... chốn trần gian bụi mờ ?
Tống Lý Đoan (Lư Luân)

Trước khung cảnh mùa đông thật gần gũi, thi nhân đã nới rộng tầm nhìn mà cảm nhận rung động trước bức tranh thủy mạc tinh tế, tuyệt mỹ để mà gửi gắm tình ý sâu thẳm . Những hình ảnh xao động trước mắt "tuyết rơi Vân Mộng nhạn bay, Động Đình bến nước chia tay khách thuyền" đã khơi động lại giấc mộng muốn về cố hương vẫn luôn ẩn mật trong tâm hồn thi nhân :

Khói mờ bảng lảng chiều sông
Ngàn lau đất Sở mênh mông bến này
Tuyết rơi Vân Mộng nhạn bay
Động Đình bến nước chia tay khách thuyền
Non cao sóng gió triền miên
Lung linh ánh nước sao đêm sáng trời
Mai tháng chạp rụng tơi bời
Vườn xưa năm mới là nơi hẹn về ...
Tương Trung Tống Hữu Nhân (Lý Tần)

Thơ của Đỗ Phủ có tính cách đa diện, ngoài những bài thơ châm biếm đả kích giai cấp quyền thế thống trị , phong kiến hủ bại, có những bài thơ đề cao phẩm chất và công lao của tầng lớp nông dân nghèo khó, những bài thơ gửi gắm tâm sự cho bạn bè thân thiết , bên cạnh đó phần lớn là những bài thơ trữ tình, cảm hoài, vãn cảnh, miêu tả cảnh vật hoặc tự sự cũng mang tính chất lãng mạn một cách nhẹ nhàng tha thiết, như những bài thơ tả tình bạn, tình gia đình thắm thiết, nồng nàn, chân thật, lồng giữa khung cảnh thiên nhiên sinh động, chứa chan tình ý :

Quế Giang gió bấc thổi tràn
Giữa đêm giá buốt, ngút ngàn tuyết rơi
Lầu Nam bóng nguyệt mờ soi
Lạnh căm bãi Bắc bời bời mây giăng
Đèn nghiêng mới gặp người chăng
Thuyền ngang đầy khẳm nói năng nghe gì
Núi cao chẳng biết đường đi
Tiếng gà xao xác bỗng thì nhớ em
Chu Trung Dạ Tuyết Hữu Hoài Lư Vu Tứ Thị Ngự Đệ (Đỗ Phủ)

Thơ biên tái cũng đã được nhiều nhà thơ Đường lấy chiến tranh trận mạc làm đề tài cảm hứng sáng tác. Cảnh chiến trường vào mùa Đông thật thê lương ảm đạm. Nhà thơ Sầm Tham đã từng làm quan ở chốn biên cương, nên những bài thơ của ông mang những nét độc đáo phản ảnh trung thực những nếp sống gian nan ở chốn biên cương, cũng như ông đã miêu tả đầy tình tiết những khung cảnh uy nghi hùng vĩ, cảnh xông pha chiến đấu dũng cảm của các binh sĩ, những hoàn cảnh chịu đựng của quân lính ở chốn xa xôi trong mùa Đông tuyết băng lạnh giá thấu buốt xương. Nhờ gần gũi với tướng sĩ biên phòng và quan sát tận nơi, nên ngôn ngữ qua ngòi bút của ông rất hiện thực, phong phú, sinh động, hoành tráng và tha thiết tình :

Gió đông cuốn đất, cỏ tàn
Trời Hồ tháng tám ngút ngàn tuyết rơi
Gió xuân hây hẩy đêm rồi
Ngàn cây lê điểm trắng ngời nở hoa
Tung bay đẫm ướt màn là
Áo cừu lạnh ngắt, chăn nhà mong manh
Cung sừng tướng chẳng giương nhanh
Lạnh manh áo sắt phải đành che thân
Mênh mông biển cát làn băng
Mịt mùng muôn dặm mây giăng não nề
Tiệc bày đưa tiễn khách về
Tiếng tỳ, cầm, sáo, lê thê não nùng
Chiều buông tuyết phủ chập chùng
Gió không lay nỗi cờ hồng đóng băng
Tiễn người ra tận cửa đông
Người đi tuyết ngập đầy đường Thiên Sơn
Núi quanh co, bóng chập chờn
Tuyết in dấu ngựa, nỗi hờn chia ly
Bạch Tuyết Ca Tống Vũ Phán Quan Quy Kinh (Sầm Tham)

Lý Hạ là nhà thơ Đường rất tài hoa, là hiện tượng kỳ lạ độc đáo trong thi ca Trung Quốc. Cảnh ngộ khó khăn, không may, lận đận trên đường công danh sự nghiệp của cá nhân, cũng như chứng kiến những cảnh bức bách, bạo tàn, xấu xa của giai cấp thống trị đã gây nên niềm bi phẫn, uẩn ức, áp chế trong lòng người thơ, nên thơ của Lý Hạ có một cấu trúc lạ lùng huyền bí, quái dị, ảm đạm, thê lương, hoang đường huyền thoại và được truyền tụng là " thi trung hữu quỷ" (trong thơ có quỷ). Nhưng thơ của ông không thiếu những bài thơ trữ tình, giản dị, trong sáng, đầy ắp tình người và tình quê . Bài thơ Xuất Thành (Ra Khỏi Thành) của Lý Hạ đã diễn tả cái nỗi ngậm ngùi, chán chường, cái sầu ảo não ray rứt của người long đong trên đường sự nghiệp, khoa cử, thi hỏng phải khăn gói về lại với gia đình ớ nơi quê làng cũ. Cái sầu ấy càng gia tăng bội phần khi người thơ trên đường trở về cố quận trong khung cảnh mùa đông băng giá, tuyết rơi trắng xóa phủ đầy đường ...

Hoa thưa thớt, tuyết rơi rơi
Chim non trúng đạn kêu trời, bay qua
Lừa soi bóng, bến sông xa
Gió Tần thổi mạnh mũ sa xuống người
Về làng muôn dặm xa vời
Hỏng thi rã rượi lòng ơi nhuốm sầu
Nàng như khuyên hỏi đôi câu
Gương soi hàng lệ mắt sâu chảy dài ...
Xuất Thành (Lý Hạ)

Chúng ta nhận thấy trong Đường Thi Trung Quốc những bài thơ về mùa Đông và Hạ xem ra ít oi khi so sánh với số lượng thi ca ngâm vịnh ca ngợi tình Xuân và Thu . Một số ít bài thơ tiêu biểu về Tình Đông trong Đường Thi dẫn chứng ở trên cũng đã biểu hiện cái thần thái, linh động, sức sống kỳ thú của sự vật, nhân sinh , phối hợp một cách kỳ diệu dưới con mắt nghệ thuật của thi nhân dù đứng trong bất kỳ một thời gian và không gian nào của vũ trụ bốn mùa tuần tự biến thiên. Người thơ đã xem thiên nhiên như người bạn tri âm tri kỷ đồng cảm để chia sẻ những trầm thống của kiếp đời, những ưu tư dằn vặt và nỗi niềm buồn vui thế sự . Những bài thơ Đường vẫn mãi ngân vang những âm hưởng kỳ diệu, gợi nhớ những nỗi sầu vạn cổ bâng khuâng, xao xuyến lòng người.

... Nếu có gì thiếu sót và bất cẩn, mong sự lượng thứ và thông cảm của quí bậc túc nho trưởng thượng và quí bạn đọc yêu thơ .Vì lý do kỹ thuật về nhu- liệu, rất tiếc chưa in được nguyên tác chữ Hán của mỗi bài thơ Đường, tác giả mong bạn đọc lượng thứ.
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vanachi

Chân dung và đối thoại - Bài 04: Phù Thăng
Tác giả: Trần Đăng Khoa



I

Lần đầu tiên, tôi được biết Phù Thăng. ấy là khi ngồi chuyện phiếm với Xuân Thiều Lâu rồi. Dễ đã hai chục năm có lẻ. Chiều ấy, không biết Xuân Thiều tới tìm ai đó, rồi tình cờ, tạt qua phòng tôi. Thế rồi, bên chén trà đã nhạt, có ai đó bàn đến truyện mini, một dạng truyện độc đáọ Độc đáo bởi nó ngắn. Cực ngắn. Có truyện chỉ vài trăm chữ, thậm chí vài chục chữ, mà vẫn chuyển tải được tới bạn đọc một vấn đề lớn. Chỉ một dúm chữ, nhưng truyện vẫn có hồn, có cốt, có cả nhân vật. Nói tóm lại, nó vẫn là cái truyện nghiêm chỉnh, chứ không phải một dạng tiểu phẩm, có tráng qua chút văn chương. Nghĩa là đọc nó, người ta vẫn thấy tự nhiên, thoải mái, không có cái cảm giác bức bối, ngột ngạt như bị vo nén lại, rồi nhét vào trong một cái ống xe điếu!

Rồi để chứng minh cho cái lý luận mini ấy, Xuân Thiều rủ rỉ kể cho tôi nghe một truyện của Phù Thăng. Cái truyện có tên là Hạt thóc. Cứ theo lời Xuân Thiều thì truyện ngắn lắm, chỉ vẻn vẹn có một vốc chữ, đem tải ra cũng không kín một trang vở học trò. Chuyện kể về một gã tâm thần. Gã từng là nhà văn, từng làu làu tiếng Pháp. Thế rồi chẳng biết do ngộ chữ thế nào đó, gã đâm ra lẩn thẩn. Gã cứ nghĩ mình là hạt thóc bé bỏng tội nghiệp. Và vì thế, cứ trông thấy gà qué ở đâu là gã co cẳng chạy.

Thật tội nghiệp cho gã! Thà gã cứ nghĩ mình là một cục cứt để rồi mà sợ chó, thì đời gã chẳng đến nỗi khổ như vậy. Chó đang thưa vắng dần. ở làng quê bây giờ, có bói cũng chẳng tìm thấy bóng dáng một chú chó nhỏ. Để phòng bệnh dại, người ta đã triệt chó. Trên vùng núi cao, ở những bản xa mù, thỉnh thoảng lắm mới có tiếng chó sủa eo óc, nghe như tiếng ếch kêụ Mà cũng chẳng biết có phải đấy là tiếng chó sủa thật không, hay chỉ là chút ký ức vẩn lên trong tâm trí người bộ hành mệt mỏi, thấp thỏm bước trên những con đường rừng khuya khoắt, mong có chỗ dừng chân, muốn gặp một bản làng, mà rồi nghĩ ra vậỵ Chỉ ở Hà Nội mới có chó. Rất nhiều chó. Chó ngào ngạt suốt một rẻo đê Nhật Tân. Nhưng đó lại là những con chó hoà bình, chẳng có gì phải sợ. Khốn nỗi gã lại là hạt thóc. Một hạt thóc bé nhỏ nên mới sợ gà. Mà gà thì ở đâu chẳng có. Chúng sinh sôi nảy nở đàn đàn lũ lũ ở các nông trường, các trại gà công nghiệp, các làng quê xóm bản. Đến cả những phố phường sầm uất, sang trọng, ồn ào người xa gần cũng có thể bất thần nghe thấy tiếng gà gáy te te ngay trên ban-công, ở những biệt thự cao tầng chìm lấp sau những giàn hoa giấy khuê các. Bởi vậy tính mạng gã luôn bị đe dọa.

May sao, có một người hiểu được nỗi bất hạnh ấy của gã. đó là ông bác sĩ tâm thần. Ông niềm nở đón gã vào viện. Bệnh viện của ông cũng lạ. Nó chẳng giống những bệnh viện tâm thần mà ta thường thấỵ Nhìn khắp bốn phía chẳng có tường ngăn, rào chắn. Ngày đêm cửa mở thông thống. Bệnh nhân không ai bị trói giữ, giam nhốt. Đến nỗi chính gã cũng chẳng biết mình mang bệnh và đang ở trong một bệnh viện tâm thần. Gã hoàn toàn tự do, có thể tha thẩn đi hái thuốc cùng mấy cô y tá trẻ đẹp, có thể suốt ngày ngồi đàm đạo văn chương với mấy ông bác sĩ. Đôi lúc cao hứng, gã còn mang những bài thơ gã viết bằng tiếng Pháp đọc cho bác sĩ nghẹ Rồi ông bác sĩ cũng lại mang những bài thơ viết từ thời đang còn là sinh viên Trường Y ra đọc, nhờ gã góp ý, sửa chữạ Nói gì thì nói, chứ cái khoản văn chương thơ phú này, em cứ phải tôn ông anh là bậc đại sư phụ. Thế thì ai dám bảo gã là hạt thóc. Chỉ được cái bố láo!

Cứ thế, gã được kính trọng, được cư xử thân ái như cư xử với một con ngườị Và bằng tấm lòng nhân ái ấy, ông bác sĩ tài ba đã cứu được gã, đă đưa gã từ cõi mộng mị hoang tưởng về nơi xứ ngườị Ông anh làm nghề gì? Tớ là nhà văn. Cóc phải! Người ta bảo ông anh là hạt thóc! Bậy! Tớ là con ngườị Cậu nói gì mà lạ thế? Tớ là người!

Gã tròn mắt kinh ngạc thật sự. Còn bác sĩ thì tủm tỉm cười, gương mặt thật rạng rỡ. Sau đó ít ngày, gã ra viện. Cuộc chia tay thật bịn rịn. Rồi gã thung thăng ra về. Nhưng thật oái oăm, chính lúc ấy, cái lúc gã đang ung dung bước như một con người ấy, thì ở xóm ven đê, lại vút lên tiếng gà gáy. Thế là gã lại co cẳng chạy. Gã chạy tất tưởi, chạy cuống quýt, lao bừa vào bụi rậm, vào các xó xỉnh khuất lấp để lẩn trốn. Bác sĩ há mồm kinh ngạc. Ông không hiểu sao căn bệnh tái phát nhanh đến thế. Khó nhọc lắm, bác sĩ mới lôi được gã lẩy bẩy từ sau bồ thóc rạ Ông anh làm sao thế hả? Con gà... con gà... gã líu lưỡi lại. Ông anh có phải là hạt thóc không? Bậy! Tôi không phải là hạt thóc. Tôi là người. Là con người! Thế sao thấy gà anh lại chạy. Khổ! Cậu thấy đấy. Tôi không phải hạt thóc. Nhưng con gà, vâng, chính là con gà ấy, nó vẫn cứ tưởng tôi là hạt thóc thì saỏ



II

Truyện vẻn vẹn có thế, lại qua lời kể bỗm bãm khói thuốc của Xuân Thiều, chưa phải nguyên bản, vậy mà nó vẫn ám ảnh tôi suốt một thời gian dài. Cái truyện này, nghe nói Phù Thăng viết khi ông đã rời bỏ Hà Nội trở về quê, làm một thợ cày. Trước đó, ông từng là tác giả kịch bản của nhiều bộ phim truyện nổi tiếng: Nguyễn Văn Trỗi, Quê nhà, Biển lửa, Tiếng gọi phía trước... Có phim từng đoạt giải vàng, giải bạc của liên hoan phim quốc tế, tổ chức tại Matxcơva. Tất nhiên, đây là phim truyện Việt Nam những năm sáu mươi, bảy mươi. Giá trị nghệ thuật của nó đến đâu, bây giờ ta cũng có thể xác định được rồi. Trước khi đến với điện ảnh, Phù Thăng đã là nhà văn. Truyện Con những người du kích đã đưa ông đến vị trí của một ngòi bút được bạn đọc yêu mến, tin cậy. So vớI nhiều nhà văn cùng lứa, Phù Thăng được tạo hóa ưu ái ban cho một văn tài. Văn tài ấy bộc lộ ở những con chữ tài hoa, hàm chứa những hiểu biết sâu sắc.

Sau tập truyện vừa Trận địa mới, truyện Phá vây ra đời. Đó là cuốn tiểu thuyết dày 500 trang viết trực tiếp về cuộc chiến tranh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ thời kỳ đầu kháng Pháp. Một tiểu đoàn trinh sát mở một trận đánh nghi binh, thu hút lực lượng địch về phía mình, giải vây cho đồng đội. Và rồi, bằng trí tuệ và lòng dũng cảm của mình, những người lính của tiểu đoàn trinh sát đã phá được vòng vây, không phải chỉ vòng vây địch, mà cả những vòng vây vô hình nhưng không kém phần nguy hiểm, đang giăng mắc ở ngay trong ta, ấy là những định kiến, những quan niệm hẹp hòi, ấu trĩ, trói buộc con người, cản trở sự tiến triển của cách mạng, của văn hoá và văn minh. đây là cuốn sách ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Một chủ đề phổ biến trong văn học ta những năm sáu mươi. Tập sách sẽ là con thuyền êm chèo mát mái, nếu không có vài dòng Phù Thăng luận về chiến tranh. Trong ý nghĩ của ông lúc bấy giờ, chiến tranh dù nhìn ở góc độ nào cũng không phải là điều tốt đẹp. Bởi nó cuốn theo bao nhiêu xưong máu của những người dân vô tội. Đây là một vấn đề lớn có tính thời đại sâu sắc mà ông lại trình bày một cách giản đơn như thế và ở thời điểm ấy, nó đã hóa sóng gió đánh vào đời ông. Trận sóng này còn phủ lên cả những trang văn bình dị khác, như cái đoạn ông khắc họa vị tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn trinh sát. Anh đi kiểm tra trận địa nghi binh về, thấy lính ngả nghiêng nằm ngủ dướI trăng. Ngày mai là trận đánh lớn. Những người lính này sẽ tự nguyện làm mồi nhử địch, thu hút hỏa lực địch. Cậu lính nào cũng trẻ đẹp và khoẻ mạnh. Những sức trai như thế kia vào trận mà chết thì uổng quá. Trước mắt anh, họ đều là thợ càỵ Nếu không có chiến tranh, những sức vóc ấy mà cho đi phạt bờ, cuốc góc thì sướng biết mấy!

Những ý tưởng đó bây giờ cho là hết sức bình thường, nhưng ở thời điểm ra đời của nó lại khó được chấp nhận. Điều đó cũng dễ hiểụ Phù Thăng giải trình với bạn bè: Thực tâm tôi nghĩ thế thì tôi viết ra một cách trung thực thế. Nếu các anh cảm thấy không được thì thôi, không in nữạ Nếu trót in rồi thì không phát hành nữa, chứ bây giờ bảo tôi chữa khác đi, thì thú thực, tôi chẳng biết chữa thế nào. Trận sóng Phá vây ấy, đã hất tung Phù Thăng về với đồng ruộng, quê nhà. Phù Thăng lại thấy có cái gì đó vui vuị Ông tâm sự với một nhà văn trẻ: Mình thế là rất được ưu ái đấỵ Các anh ấy còn thương, cho làm quan tại giạ Lương tháng vẫn nhận đều đều ở xưởng phim, chẳng bị chiết khấu đồng nàọ Bây giờ thì bình thường, chứ cứ như ngày trước, được làm quan tại gia là sướng và oai lắm đấy! Và rồi từ đó ông quan tại gia cứ sáng sáng vắt vẻo cái que tre buộc toòng teng mấy rảnh lá chuối khô, lùa vịt ra đồng. Dưới cái gậy chỉ huy của ông, hàng trăm tên lính xung kích sẵn sàng xông trận. Chỉ khẽ vẫy tay là cái đạo quân ấy rùng rùng chuyển động, nom tếu như một cái chăn khổng lồ bị giời xé. Khi đoàn quân ấy đã chiếm lĩnh trận địa rồi, ông mới lụi cụi phạt bờ cuốc góc. Trông chẳng ai biết đấy là một ông quan. Rồi cứ vài ba tháng một lần, ông lại về Hà Nội nhận lương, cho đến khi ông trao chìa khoá, trao căn phòng mình ở Hà Nội cho anh em trong cơ quan, rồi nhận sổ hưu, về làng hẳn. Từ đó đến nay, ông không trở lại Hà Nội nữạ Cũng không thấy ông tiếp xúc giao du với giới văn chương. Và làng Tất Lại, xã Cộng Lạc, quê ông, từ đó có thêm một ông thợ cày cần mẫn. Ngày nào ông cũng đánh trâu ra đồng, kể cả những hôm giá ngắt, nước ruộng trong leo lẻo, cá mại cờ chết rét, nổi phềnh lên, dạt cả vào vệ cỏ, ông vẫn cày quần quật từ sáng đến tối mịt. Có hôm bị huyết áp, ông ngã vật xuống ruộng càỵ Lũ trẻ chăn trâu đã khiêng ông về nhà.

Cứ tưởng lần ấy, ông đi hẳn. Ai ngờ ba ngày sau đã thấy ông vắt, diệc trên cánh đồng rồị Một mình ông nhận đến bảy sào ruộng khoán.

- Sao bác nhận lắm ruộng thế? Có phải mướn người làm không? - Một phóng viên báo tỉnh hỏi ông.

- Việc gì phải mướn. - Ông cười móm mém. - Mình vốn là thợ cày mà. Phải làm thôị Mướn người biết lấy gì ra mà trả cho họ. Mấy chục đồng lương thiếu uý hưu của mình, ông tính sống sao nổi ở thời kinh tế thị trường nàỵ Mình còn kéo theo ba cái rờ moóc nữạ Tháng trước, cô con gái út làm ở đài truyền thanh huyện lại về xin bố tiền. ở quê, nhiều thứ phải chi tiêu lắm. Tất cả chỉ còn biết trông vào hạt thóc thôi.

Phù Thăng làm quần quật như một nông dân. Chẳng ai biết ông là một nhà văn hào hoa, phong nhã một thờị Bà bán nước chè xanh ở quán nước đầu xã Cộng Lạc, vốn là một giáo viên văn nghỉ hưu tỏ ra rất am tường: Các bác muốn tìm ông Thăng mà hỏi nhà văn Phù Thăng thì chẳng ai biết đâụ Cứ hỏi ông Thăng có con trâu sứt tai, hoặc gọi tắt là ông Thăng Sứt thì cả làng này, từ già tới trẻ, ai cũng biết. Mà kể cũng lạ. - Bà chép miệng, - Ông lão người cứ quắt như gốc sắn khô, mà trị được con trâu to vật. Con trâu ấy dữ lắm, trẻ con đứa nào cũng hãị Chúng còn gọi là con điên hay con điên sứt. Con điên sứt ấy đã cho mấy ông thợ cày thủng bụng rồi đấỵ Vậy mà nó lại chịu ông Thăng. ở làng này chỉ có ông Thăng mới cày được nó, cũng chỉ có ông Thăng mới cưỡi được nó.

Vậy đó. Con điên. Con điên sứt. Những biệt hiệu đầu gấu sặc mùi đao búa của con trâu ương ngạnh, ai ngờ lại là đặc điểm, là chứng chỉ để người ta nhận diện một nhà văn hào hoa, phong nhã. Người ta còn gắn cả cái tai sứt của con trâu cho ông, đủ biết ông là một lực điền như thế nào rồị Thực tình Phù Thăng đâu đã bỏ văn, để rồi phải núp sau cái tai sứt của con trâu điên khùng. Ông vẫn viết cần mẫn. Ngày cày ruộng quần quật, đêm lại chong ngọn đèn dầu, cặm cụi cày trên cánh đồng giấy trắng rợn, trắng đến sờn cả da gà. Bà vợ hơn ông hai tuổi lại rên rẩm: Thôi! Tôi lạy ông! Đừng viết nữa. Khổ thế này còn chưa đủ sao. Nhất nhỡ lại sa sẩy nữa thì sống sao nổi. Ông già rồi.

Nhưng Phù Thăng làm sao bỏ viết được. Cái nghiệp văn chương nó thế. Không phải ông chọn văn chương mà chính văn chương đã chọn ông để đày đọa để hành hạ ông trong cõi người nàỵ Bây giờ thì nó đã thành máu thịt của ông, đã thành số phận của ông rồị Bỏ cây bút, ông còn biết tựa vào đâủ Ông biết lấy sức lực nào để cày hết bảy sào ruộng khoán? Sức mạnh bí hiểm ấy, bà không thể biết được. Đối với một nhà văn, khi không còn sức sáng tạo nữa thì nhà văn ấy thực sự đã chết rồị Chính niềm vui của sự sáng tạo văn chương đã giúp Phù Thăng vượt qua cái chết trên đồng làng và cả trên bàn mổ. Phù Thăng đã ba lần bước lên bàn mổ với các vết thương từ thời kháng Pháp. Ông vốn là thương binh. Chính các bác sĩ cũng không hiểu tại sao một ông lão gày guộc, dường như chỉ có đôi mắt là còn sức sống, lại có sức lực dẻo dai đến thế. Và rồi đêm đêm những trang văn vẫn ra đời. Chồng bản thảo mỗi ngày một đầy thêm. Phù Thăng gói bản thảo thành từng bó, quấn giấy xi-măng, rồi cho vào chum ủ lá xoan tươị Đấy là cách phòng chống mối mọt của những nông dân nghèo thời trung cổ. Trong căn buồng ẩm thấp, tối sẫm, lúc nào cũng vo ve tiếng muỗi, ngoài chum thóc, chum sắn, còn có cả một chum văn nữạ Vậy mà cho đến nay, Phù Thăng vẫn đứng bên ngoài dòng văn học. Cả một đời cặm cụi viết, lầm lũi đi, đến lúc tuổi đã già, dụi mắt nhìn lại, thấy con đường văn ngổn ngang những cột mốc với những tên tuổi khác. Lục khắp cũng chẳng bói đâu ra một chút dấu ấn của đời mình.



III

Có lẽ vì thế, người đọc bây giờ, nhất là các bạn trẻ, không biết Phù Thăng, thiết tưởng cũng dễ hiểu. Trong số hơn sáu trăm hội viên Hội nhà văn, nhiều người được kết nạp đã lâu mà đến nay, tên tuổi vẫn lạ hoắc, đến nỗi ngay cả những người trong nghề cũng thấy lù mù, chẳng biết họ viết văn hay làm thơ, hay là nhà phê bình lý luận. Trong màn sương mù ấy cũng chẳng thấy cái bóng mờ mờ nhân ảnh của Phù Thăng. Còn trên quầy sách thì thật rôm rả. Ríu rít bao màu sắc. Mới có, cũ cũng có. Vẫn chẳng thấy dáng dấp Phù Thăng. Những năm gần đây, sách ra rất rộng rãi. Nhiều tác giả Nhân văn Giai phẩm xưa từng có lúc thiệt thòi, giờ cũng được bù lại. Tuy nhiên, sự ưu ái ấy cũng vẫn chưa phải đã là một may mắn. Bởi nhiều hình bóng chỉ có sức sống mãnh liệt ở xứ sương mù. Sương tan thì bóng hình cũng theo sương mà tan nốt. Nói một cách văn vẻ như một nhà thơ trẻ, thì đấy là những con rồng trong mây, lúc ẩn, lúc hiện, khi phô khúc đen, khi xoè khúc trắng, nom thật ngoạn mục, thật kỳ vĩ. Nhưng đến lúc bày ra giấy rồi mới hay nó chỉ là những con chạch chấu gầy gò teo tóp. Giá không được may mắn ấy, có khi lại may mắn hơn, bởi trong tâm trí người đọc, biết đâu người ta vẫn nghĩ anh là một con rồng, có khi còn hơn cả con rồng. Phù Thăng cũng lại nằm ngoài sự may rủi ấy. Biết đâu, đấy lại chẳng là một điều hay cho ông. Mãi gần đây, tôi mới có dịp được gặp ông.

Đó là dạo Quân khu Ba kỷ niệm lần thứ 50 ngày sinh của mình. Cục chính trị cho mời toàn thể anh em văn nghệ sĩ của Quân khu về Hải Phòng gặp mặt. Chúng tôi vừa tới Cục chính trị thì cô tiếp viên nhà khách đã đon đả: Các bác lên đi. Trên đó nhiều phòng lắm... Anh em đến đủ chưa? Lê Lựu hỏi lập bập. Trên đó chỉ có một bác Thăng ở Hải Dương thôi. Có phải bác Phù Thăng không? Cháu không rõ. Chỉ biết bác ấy tên là Thăng. Hình như bác La Thăng gì đó. Bác ấy vẫn làm bài hát mà. ở đây toàn các bác múa hát thôi. Các bác ấy đàn sáo suốt đêm qua. Vui lắm.

Tôi bổ lên nhà khách. Đèn sáng choang, nhưng chẳng có ai cả. Trên cọc màn treo lủng lẳng một cái áo trấn thủ thủng lỗ chỗ như những vết đạn bắn. Có lẽ Phù Thăng thật. Mà đúng là Phù Thăng. Khi chúng tôi đang ngồi uống trà, thì Phù Thăng tất tả bước vào. Ông mặc tấm áo may-ô vàng ố, cái quần kaki đã bạc, ống thấp, ống cao. Phù Thăng như từ thửa ruộng cày bước thẳng vào phòng khách. Thấy chúng tôi, ông sững lại, rồi reo òa lên như một đứa trẻ:

- -ối giời, các ông! - Và rồi, thật bất ngờ, Phù Thăng sụp xuống.- Tôi lạy ông Khải, tôi lạy ông Lựu, tôi lạy ông Khoa!

Ô hay, sao lại thế này? Lê Lựu há hốc mồm kinh ngạc. Nguyễn Khải đứng dậy, luống cuống. Xưa nay người ta thường chỉ lễ người chết, chứ có mấy ai lễ người sống bao giờ. Thương nhau, biết nhau cả, mà rồi đằng đẵng mấy mươi năm chẳng gặp được nhau, thì dẫu có sống cũng coi như người đã khuất núi rồi. Bởi thế mà Phù Thăng mới lạy chúng tôi, nước mắt lã chã. Cả ba chúng tôi đều cuống lên, chẳng biết làm sao, cũng sụp xuống, xá lại. Hai bên lụp cụp lạy nhau. Các cô phục vụ nhà khách kéo đến, tưởng các bác diễn tuồng.

- Trời! Tôi không thể nghĩ mình còn có dịp được trông thấy các ông nữa!

Phù Thăng nói bằng giọng mếu máo. Ông ngồi lọt thỏm trong ghế sa-lông. Một ông già nhỏ thó, đen đúa. Hàm răng đã rụng hết. Trông ông teo tóp như một hạt thóc lép. Chỉ có đôi mắt là long lanh sáng. Hình như toàn bộ sức sống của cả con người ông, đều gom lại trong đôi mắt ấy. Trời, tôi không ngờ, không ngờ... Phù Thăng vẫn thều thào. Quả cũng bất ngờ thật. Nguyễn Khải ở Thành phố Hồ Chí Minh. Lê Lựu ở Hà Nội, Phù Thăng ở làng Tất Lại, Hải Dương. Ba ngọn núi kỳ dị của đồng bằng Bắc Bộ ấy, ai ngờ lại có dịp ngồi ngắm nhau. Bởi thế, Phù Thăng vẫn chưa hết bàng hoàng của một người trong cõi mộng.

- Không biết sau lần này, chúng mình liệu còn có dịp nào được gặp lại nhau nữa không nhỉ? Chắc là không... không đâu...

- Gặp chứ! Gặp chứ!

Lê Lựu nói lắp bắp, rồi đưa tay vỗ tóp tép vào cái đùi tong teo của Phù Thăng, rồi lại nắm cái đầu gối củ lạc của ông mà lắc lắc. Đoạn, anh ghé tai Phù Thăng, hỏi một câu gì đó, chắc là về tình ái. Thế là Phù Thăng cười toá lên, mặt rúm ró.

Chuyện vã một lúc, Lê Lựu rủ mấy anh em xuống thăm các anh chị văn công đang om xòm tề tựu ở khu nhà dưới kia. Đi di, ngồi ru rú ở đây làm quái gì. Mấy khi có dịp thế này. Đêm nay ta ra đồi, nhảy Va-xi-lô với mấy mẹ xanh đỏ, bác Thăng nhé!

Phù Thăng lại phều phào cười. Chúng tôi bước lững thững trên con đường mới rải nhựa, bảng lảng sương khói. Xa kia, sau đồi Cò, mảnh trăng non cong vắt như cái khoẳm trâu mà một gã thợ cày nào đó vừa quăng lên bầu trời. Phù Thăng bước bẫng lẫng. Ông bảo tôi:

- Lúc nào Khoa cố gắng bớt chút thì giờ ghé về nhà mình chơi. Mình muốn nhờ ông đọc giúp mấy cái truyện. Đọc để biết thôi. Chứ in thì chắc khó lắm. Thời kinh tế thị trường bây giờ, để in một cuốn sách, phải bán đến dăm sáu tấn thóc thì mình chịu. Kiếm đâu ra nổi số thóc lớn như thế.

Đối với Phù Thăng bây giờ, quả là mọi thứ chỉ còn biết trông vào hạt thóc. Và câu chuyện mini của ông xưa, lại ám ảnh tôi, chợt làm tôi ớn lạnh. Bất giác, tôi nắm chặt bàn tay gầy guộc của Phù Thăng, lòng mơ hồ rờn rợn. Chỉ sợ ở một xó xỉnh nào đó, sau lùm cây tối sẫm kia, lại bất ngờ cất lên một tiếng gà gáy...

5-1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vanachi

Chân dung và đối thoại - Bài 05: Lê Lựu
Tác giả: Trần Đăng Khoa



Cứ xem cái tướng mạo, cái hình dáng, kiểu cách bề ngoài thì chẳng ai nghĩ Lê Lựu là một nhà văn. Trông anh nhôm nhoam, luộm thuộm và lúc nào cũng tất tả, nhếch nhác như một gã thợ cày vừa từ một thửa ruộng ngấu bùn nào đó bước lên. Gương mặt, đầu tóc, quần áo và toàn bộ con người anh như đang toả ra mùi bùn đất, mùi nắng gió, bụi bặm của một vùng đồng bãi châu thổ sông Hồng. Con người ấy có đắp com-lê, cà vạt, mũ phớt, kính gọng vàng, giày Mô-ka, nghĩa là tất cả những trang bị, phụ tùng tối tân nhất của đời sống đô thị, thì trông anh vẫn chẳng ra anh trí thức, cũng chẳng ra người thành phố. Mặc dù Lê Lựu sống ở Hà Nội, lấy vợ đẻ con ở đất kinh kỳ này, đã từng nện gót trên nhiều đường phố lớn thế giới, lại ba lần sang Mỹ, nhưng anh vẫn là gã lực điền của vùng đất bãi Khoái Châu, Hưng Yên. Lê Lựu như hòn gạch xỉ, hay nói đúng hơn - như một tảng đá hộc. Đó là một tảng đá nguyên khối, xù xì của thiên nhiên hoang dã mà đời sống hiện đại đô thị và nền văn minh thế giới không thể đẽo gọt được, eũng không thể tác động vào được. Cái chất quê kiểng đặc sệt này là cái duyên riêng của Lê Lựu, cũng là cái Lê Lựu hơn người. Tiếp xúc với anh, người ta mến ngay. Mà đâu phải chỉ mến, còn mê nữa. Lê Lựu thông minh, hóm hỉnh, nói chuyện có duyên và có sức lôi cuốn. Người ta săn đón anh, mời anh đi nói chuyện ở khắp các cơ quan, xí nghiệp, trường học. Buổi nào cũng đông nghịt. Người nghe như bị bỏ bùa, bị thôi miên, bị đánh thuốc lú. Trước hiện tượng ấy, không biết một nhà kinh tế ma mãnh nào đó đã bí mật kinh doanh Lê Lựu và trúng quả đậm. Buổi nói chuyện được ghi âm, rồi in ra hàng loạt. Băng Lê Lựu bán chạy không thua bất cứ một thứ nhạc Rốc, nhạc Pốp, nhạc Điscô, hay nhạc thời thượng nào. Giá bán đắt khét lẹt. Một vài băng đã tràn sang đất Nga. ở ký túc xá Môgiaixkôiê, có một anh chủ hàng đã quát tôi với giá 1800 rúp. Không chát đâu ông anh ạ! Có hai đô-la thôi mà. Bằng một gói mì chính cánh. Cứ nghe đi, rồi ông anh sẽ thấy mì chính cánh rất nhạt. Tôi đã mua sự tò mò với giá 1.800 rúp, không thể bớt được một xu. Gớm, ông anh cứ làm như chó Nhật ấy. Loại hàng này đâu có xuống giá mà ông anh đòi bớt... Quả thật, Lê Lựu có biệt tài trả lời những câu hỏi, phỏng vấn của đồng nghiệp và các hãng thông tấn nước ngoài. Khi hỏi cảm giác của anh tới Liên Xô và Mỹ, anh cười:Tôi rất ngạc nhiên. Ngạc nhiên đến kinh ngạc. ở Liên Xô tôi lại tưởng Liên Xô là Mỹ, và khi ở Mỹ thì tôi cứ nghĩ Mỹ là Liên Xô. Còn hỏi về chuyến đi Mỹ của anh thì anh cười hề hề: Chẳng có gì to tát, và nghiêm trọng cả. Mình với Mỹ như hai anh láng giềng, có một thời xích mích, gây ra cãi cọ, dẫn tới choảng nhau, rồi thì rào kín cổng ngõ, không thèm nhìn mặt. Bây giờ cơn nóng giận qua rồi, cả hai đều muốn ngồi lại với nhau, chơi với nhau, nhưng anh nào cũng sĩ diện, không muốn làm lành trước, đành nghĩ ra một cái mẹo, là xua chó gà sang nhà nhau, rồi lấy cớ ấy mà hỏi với qua hàng rào: Này bác ơi, bác có thấy con gà, con chó nhà tôi chạy sang bên đó không?. ấy thế rồi nói chuyện được với nhau đấy Tôi sang Mỹ cũng là để làm con gà con chó thôi. Có gì ghê gớm đâu cơ chứ.

Lê Lựu lại cười hề hề. Anh có vốn sống phong phú, sự trải đời lọc lõi. Đó là một gã ma mãnh, quái quỷ nhưng lại mang vẻ mặt xuề xoà, chất phác của một anh nhà quê. Bởi thế, anh rất dễ thuyết phục người khác. Lê Lựu có nói dối và nói thẳng ra rằng: Tôi đang nói dối đấy thì người ta cũng vẫn cứ tin, chẳng ai ngờ vực cả. Bởi xưa nay, người ta chỉ dè chừng những kẻ giảo hoạt, những tay láu cá, chứ mấy ai nghi ngờ thợ cày.

Đối với người Mỹ, Lê Lựu không chỉ là nhà văn dân tộc xuất sắc, mà còn có một giá trị có tính khảo cổ học. Anh như một khu rừng nguyên sinh, một hang động hoang dã, họ chưa từng đặt chân tới. Nhà văn Nguyễn Quang Thiều, người phiên dịch cuộc hội thảo văn học Việt - Mỹ kể lại. Có một lần, Lê Lựu đến dự cuộc gặp gỡ, trao đổi với các nhà văn cựu chiến binh Mỹ, trong một biệt thự sang trọng. Anh ăn mặc lịch sự như một chính khách. Cuộc gặp gỡ được cả hai bên chuẩn bị chu đáo nhưng Lê Lựu vẫn băn khoăn, vẫn thấy có một cái gì đó chưa thật ổn thoả. Anh vội bí mật nhìn trước, nhìn sau, xem có ai tò mò để ý đến mình không, rồi thì thật bất ngờ, anh vắt cả cái chân còn nguyên giày nguyên tất lên mũi và... ngửi. Cử chỉ lạ lùng, quái đản này không lọt qua được mắt các nhà văn Mỹ, từng là lính trinh sát trong cuộc chiến tranh ử Việt Nam, họ mê Lê Lựu ngay từ cái cử chỉ dị mọ rất... Lê Lựu này. Cử chỉ ấy nếu ở người khác, có thể sẽ gây nên sự khó chịu, nhưng ở Lê Lựu, người ta lại thấy đáng yêu vì nó xuề xoà, tự nhiên và hợp lý như sự sắp đặt của Chúa. Cũng theo Nguyễn Quang Thiều, ở cuộc hội thảo này, các nhà văn cựu chiến binh Mỹ chỉ biết Lê Lựu, chỉ thích ông Lựu thôi. Đối với họ, văn học Việt Nam ngoài ông Lựu ra, chẳng còn ai nữa:



II

Lê Lựu thuộc lớp nhà văn quân đội, ra đời và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Truyện đầu tiên mà anh trình làng vào năm 1964, có cái tên rất thật thà: Tết làng Mụa. Rồi sau đó một loạt truyện ngắn ra đời: Trong làng nhỏ', Ngườí cầm súng phía mặt trời, 'Truyện kể từ đêm trước.. Và đến Người về đồng cói thì Lê Lựu đã là cây bút viết văn kỳ cựu. Có thể coi Người về đồng cói là truyện đặc sắc nhất của Lê Lựu trong thời kỳ chống Mỹ. Bây giờ đọc lại vẫn còn thấy thú. Và đến truyện này, văn Lê Lựu đã có mùi tiểu thuyết. Người đọc biết anh sẽ là nhà tiểu thuyết có tài. Nghề văn cũng như ca hát. Chỉ ớ lên một tiếng đã thấy cái giọng quý rồi. Lê Lựu có cái giọng quý ấy. Người ta biết anh là người lĩnh xướng, dù lúc đó, anh còn u ớ đứng trong dàn đồng ca.

Lê Lựu biết cuốn hút người đời bằng một thứ văn đọc không nhạt. Ngay cả ở những truyện xoàng xoàng, người đọc vẫn thu lượm được một cái gì đấy có khi là một chi tiết, một đoạn tả cảnh, hoặc một nét phác hoạ tính cách nhân vật. Nghĩa là đọc anh không bị Iỗ trắng. Cũng bởi lẽ Lê Lựu là nhà văn không cháp nhận sự nhạt nhẽo tầm thường. ở bất cứ tác phẩm nào, dù lớn hay nhỏ, Lê Lựu cung có một vấn đề gì đấy gửi gắm. Không có cái đó anh không cầm bút viết. Ngay cả khi hình thành tác phẩm rồi, có vấn đề, có cốt truyện, có nhân vật hẳn hoi rồi, Lê Lựu cũng vẫn viết một cách vất vả, chật vật. Khi văn tuôn chảy ào ạt, câu chữ trơn tru, nhìn trang bản thảo sạch bong, ít tẩy xoá là anh dừng lại ngay. Anh bắt đầu nghi ngờ mình. Nhứng lúc ấy anh thường bỏ viết, quay ra tán chuyện với bạn bè, hoặc tụt tạt qua chợ mua thức ăn, cò kè thêm bớt từng xu như một mụ đàn bà bủn xỉn, cũng chỉ cốt xem người bán phản ứng ra sao. Có cô gái đáo để, gắt như mắm thối: Thôi, mua cho con đi, bố già ạ. Có mấy hào bạc mà cứ vày vò mãi!. Này, thế năm nay con bao nhiêu tuổi? Bố hỏi làm cái gì? Hăm hai. Thế thì con hơn vợ bố những hai tuổi cơ đấy?



Lê Lựu hay viết về đêm. Trước khi ngồi vào bàn, anh thường đáo qua phố, làm bát phở nóng gọi là nạp thêm nhiên liệu cho máy móc vận hành. Anh cũng hay rủ tôi đi ăn đêm. Lê Lựu đặc biệt thích những bát phở mà anh gọi là phở bốc mả. Đó là những. bát phở cuối cùng trong ngày. Nước phở đậm, đặc ngẫn những... cấn nồi. Bà chủ quán xem ra đã quá quen khẩu vị Lê Lựu, có lẽ nghĩ anh là ông xế lô, sau một ngày chở khách mệt nhọc, nên bốc cho anh một đống xương xẩu, cổ cánh không tính tiền, rồi đổ ào thùng nước rửa bát ra mặt đường, chồng bốn chân ghế lên mặt bàn phủ tấm vải nhựa xanh, nồng đượm mùi nước mắm, giấm tỏi. Lê Lựu tỏ ra rất khoan khoái. Gương mặt nhom nhoem những râu bừng bừng sung mãn'như một người vửa trúng xổ số. Về nhà, tôi lăn ra ngủ, còn anh thì vục mặt vào bàn uỳnh uỵch viết. Thỉnh thoảng tỉnh giấc, tôi vẫn thấy phòng bên có tiếng rít điếu cày òng ọc. Lê Lựu vẫn đang lặn ngụp bì bõm, xẻ xắn từng khối chữ, vật lên trang giấy. Thấy anh có vẻ bắt được mạch truyện, tôi đã mừng: Sáng hôm sau tôi lần sang phòng anh, đòi nghe thử. Mắt Lê Lựu đỏ kè:

- Nghe cái quái gì. Tao làm hỏng bố nó rồi! Không ngửi được. Chứ nghĩa bò lổm ngổm như kiến đen, nhưng chẳng có hồn vía gì. Đọc cứ bở ra. Tức thế chứ?

Rồi Lê Lựu càu nhàu, tiếc bát phở đêm qua đổ vào hang chuột, đổ vào cái lỗ giời ơi đất hỡi.

Lê Lựu viết chậm, mỗi ngày vẻn vẹn vài trang, có khi chỉ mấy mươi dòng, rồi vạy vó mãi đến mấy ngày sau mới bắt được vào mạch truyện. Vậy mà năm nào Lê Lựu cũng có sách. Cuốn tiểu thuyết đầụ tiên của anh ra đời vào năm 1975, có tên là Mở rừng. Theo tôi, đây là cuốn tiểu thuyết vào loại khá của văn học Việt Nam những năm 70. Vậy mà không một nhà phê bình nào nhắc đến nó. Bạn đọc cũng không để ý. Cuốn sách bị quên lãng, tôi nghĩ, một phần cũng vì cái tên gọi. Cái tên gợi chuyện xà beng, cuốc xẻng. Người ta tưởng đấy là một tập ký viết về làm đường, về một đội thanh niên xung phong xây dựng kinh tế, mở mang doanh trại. Hơn nữa, chiến thắng Mùa Xuân năm 1975 choán hết sự chú ý của mọi người. Chẳng ai còn để tâm đến cái gì khác ngoài sự kiện lịch sử vang dội ấy Mãi sau này, do một tình cờ nào đáy, tôi mới đọc Mở rừng. Tập sách quả thật đã cuốn hút tôi. Đấy là cuốn tiểu thuyết viết trực tiếp về chiến tranh với cái nhìn không đơn giản và ở thời điểm đó đã có thể coi là mạnh dạn. Lê Lựu đề cập đến số phận của một lớp người trong chiến tranh. Oai hùng và bi thảm. Giản đơn và phức tạp. Mỗi người là một cánh rừng âm u rậm rịt, phải tự mở lấy lối mà đi. Chẳng ai giống ai, bằng những con đường riêng, những số phận riêng, họ đã đến với cuộc chiến tranh bi tráng. Có thể tóm tắt tiểu thuyết này bằng câu thơ của Phạm Tiến Duật mà Lê Lựu định lấy làm đề từ:

Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng

Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay.

Bấy giờ, nhân vật chính của Lê Lựu trong các tập sách phần lớn là nông dân, hoặc nếu không thì cũng là nông dân cầm súng. Mọi vụi buồn của họ đều gắn với những tập tục ở nơi xóm mạc. Và rồi nương theo cái mạch ấy, Lê Lựu động chạm đến làng quê, có khi chỉ chấm phá đôì ba nét qua mấy câu đối thoại ngắn gọn của nhân vật, ngòi bút Lê Lựu bỗng như xuất thần, như động gió và toả hương. Đọc, biết anh tiềm tàng một vốn sống trù phú về làng mạc quê kiểng, nhưng cái mỏ vàng đầy rưng rức này, ông chủ tư bản giàu có kếch xù lại chưa hề khai thác lấy một thỏi nhỏ.

Mãi sau này, vào những năm 80, khi tiếng súng của cuộc chiến tranh đã ngưng hẳn trong tâm trí mọi người, và dư âm dai dẳng của nó cũng tạm lắng xuống, trong lúc người ta đổ xô ra xem mấy cái Cù lao(*) vừa mới nổi lên vả reo hò ầm ĩ, vì đã tưởng tìm ra được một vườn địa đàng, chẳng ai còn để ý tới lũ tôm tép, huống hồ bọn rong rêu, bèo bọt vật vờ Lê Lựu cảm thấy yên tâm. Anh vác xẻng đi đào mỏ. Và rồi cứ từng khối vàng ròng nguyên chất, Lê Lựu huỳnh huỵch đắp một cái lô-cốt, rồi đặt cho nó một cái tên rất văn chương, rất thi ca: Thời xa vắng

Với ba trăm trang sách, tiểu thuyết Thời xa vắng đã ôm chứa một dung lượng lớn. Đấy là một chặng đường lịch sử oai hùng. Chặng đường ba mươi năm, từ buổi lập nước đến lúc giải phóng xong toàn bộ đất nước. Lịch sử được khái quát bằng tiểu thuyết, bằng số phận có thể nói là bi thảm của anh nông dân Giang Minh Sài. Đây là loại tiểu thuyết bám sát số phận một nhân vật. Có thể gọi nôm na là chuyện Anh Sài. Nhưng cuốn sách có nhiều tầng, nhiều lớp. Người đọc tuỳ theo sự từng trải của bản thân mình mà tiếp nhận nó theo một cách khác nhau. Riêng đối với một số bạn đọc thông thường, có thể coi đây là cuốn sách viết về hôn nhân gia đình. Trong chuyện có tảo hôn, cưới vợ đẻ con, cãi cọ, ra toà ly dị, chia tài sản, con cái. Riêng cái vỉa này cũng đã đủ là một cuốn sách thú vị. Những chuyện chăn gối, hay cảnh sinh hoạt vợ chồng thành phố, vợ chồng nhà quê rất sinh động. Có nhứng nhân vật phụ, chỉ thoáng qua, nhưng Lê Lựu khắc hoạ rất giỏi, rất sống, ví dụ gã thợ điện, một tay tài tử phóng đãng, chim gái thành thần. Một cô gái, nói đúng hơn là một thiếu phụ trẻ, vừa đọc xong Thời xa vắng, nói với tôi: Em rất thích gã.thợ điện. Đấy là nhân vật hay nhất trong tiểu thuyết Thời xa vắng. Hắn lưu manh, nhưng phải nói là rất tuyệt diệu. Đàn ông thế mới là đàn ông? Em đọc mà giật mình. Hình như em đã gặp hắn ở đâu đó trong buổi sinh nhật cô bạn. Hắn ngồi lơ đãng hút thuốc. Cái điệu vẩy tàn thuốc của hắn thì không thể không mê được. Hắn đểu giả, nhưng có sức hút khủng khiếp. Vợ Sài chết là phải. Em đọc mà sợ ông Lựu quá. Ông ấy rất am tường đàn bà, rất lọc lõi. Nhưng ông ấy cũng phức tạp. Có cảm giác ông ấy vừa sợ đàn bà vừa thích đàn bà, lại vừa khinh đàn bà, coi đàn bà như cái giẻ chùi chân. Anh cứ đọc l
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vanachi

Chân dung và đối thoại - Bài 09: Trò chuyện với Lê Lựu
Tác giả: Trần Đăng Khoa



Cứ ngỡ là Chí Phèo đã chết rồi, chết từ ngày ông Nam Cao vẫn còn đang sống. Chí chết là hết chuyện! Nào ngờ bàn dân thiên hạ vẫn xôn xao kể chuyện Chí. Chí lấy vợ, Chí đi học bên Tây, Chí làm nghiên cứu sinh, Chí nhảy lên ghế lãnh đạo ở phường, ở xã... Tên gọi, có thể khác, hình dáng cũng có thể khác, mặt mũi có khi lại còn đẹp trai nữa. Nhưng vẫn là anh Chí đó thôi. Thời đại đổi mới thì Chí cũng phải đổi mới. Rạch mặt ăn vạ là chuyện cũ rồi. Chuyện ấy chỉ tồn tại ở thời Bá Kiến. Có cả một cái truyện kể về những việc đó.

Chuyện Hậu Chí Phèo của Phạm Thành do Nhà xuất bản Thanh niên ấn loát. Cuốn sách chưa ráo mực, và người đọc cũng chưa kịp nhận ra gương mặt Chí, chưa biết xếp anh Chí Hậu ấy vào đâu, thì lại một anh Chí nữa ra đời. Lần này Chí ngật ngưỡng xuất hiện trong một cuốn tiểu thuyết dày chút vui, ai ngờ bố con lại chửi nhau. Rồi không sống nổi ở nhà, ông lão ra chợ cắt tóc, rồi ở luôn ngoài lều chợ. Sau ông chết vì cảm. Y thấy đời chẳng còn gì nữa, sống bất lực ở làng, không còn ai thân thiết, y lại bỏ làng ra đi. Đi đâu? Chẳng ai biết, Chỉ có những lời đồn không rõ thực hư. Căn nhà dột nát của y xưa, giờ lại có một cặp vợ chồng du thủ du thực đến ở. Đời chẳng bao giờ hết những thằng Chí Phèo.

Đấy anh Chí của Nguyễn Đức Mậu với cái lai lịch như thế đã khật khưỡng ra đời và đang chịu sự phán quyết của công chúng rộng rãi. Trong lúc chờ đợi các nhà phê bình khả kính lên tiếng định đoạt số phận của anh ta, thì chúng tôi - Trần Đăng Khoa và Lê Lựu - hai anh nông dân đồng bãi Hải Hưng, cũng là người cùng giai cấp với Chí, đang ngồi uống bia lai rai trong quán Gió, Hồ Tây. Câu chuyện loanh quanh thế nào lại xoay về số phận của Chí. Đây là cuộc đối thoại hoàn toàn ngẫu hứng.

Lê Lựu: Với con mắt của một nhà thơ và người đọc văn xuôi cũng vào loại sành, ông nói tôi xem, giữa thơ và văn Nguyễn Đức Mậu có gì liên quan đến nhau? Hay nói cách khác, với giọng thơ hồn hậu, chất phác, giàu cảm xúc, khi chuyển sang văn xuôi, Nguyễn Đức Mậu đã gặp những thuận lợi và khó khăn gì?,

Trần Đăng Khoa: Trước hết, tôi chỉ là thằng làm thơ chay, không phải dân văn xuôi, càng không phải là người sành văn xuôi. Tôi phải nói ngay thế, không phải để biện hộ cho những ý kiến ngớ ngẩn của mình, mà đơn giản hơn, chỉ muốn bác hiểu rằng, tiếng nói của tôi không có giá trị gì, nó chỉ là tiếng đế trong một cuộc hát đôi. Bác hát, tôi đế. Hát một mình, không có đàn sáo, trống phách, e bác cũng buồn. Câu hỏi của bác, chỉ có Nguyễn Đức Mậu mới có thể trả lời được. Bởi chẳng ai hiểu công việc cực nhọc của nhà văn bằng chính nhà văn. Nhưng tiếc là Nguyễn Đức Mậu không có mặt ở quán Gió này, nên bằng cách cảm nhận của một người quan sát, một người vốn sẵn yêu Nguyễn Đức Mậu, hay ngắm nghía cái khí cốt của anh ở phía xa xa, tôi có thể nói ngay rằng: Nguyễn Đức Mậu trước hết là một thi sĩ. ở cái nhà số 4 Lý Nam Đế của ta, có rất nhiều người tài. Đấy là những nhà thơ khoác áo lính. Còn Nguyễn Đức Mậu là người lính khoác áo thi sĩ. Nếu chọn một nhà thơ số một của lính, tôi nhắc lại là nhà thơ của lính thì người đầu tiên tôi nghĩ đến là Nguyễn Đức Mậu. Thơ anh đậm chất lính hơn cả. Ngay cả ở tập mới nhất gần đây, tập Từ hạ vào thu, thì những bài thơ vào loại hay cũng vẫn là những bài viết về lính.

Còn nhớ năm 1976, Nguyễn Đức Mậu xuống chơi trại văn Vân Hồ, và do một phút cao hứng nào đó anh tuyên bố sẽ viết văn xuôi. Tôi không biết bác hồi đó thế nào, chứ mấy ông văn xuôi, vào cỡ gồng của ta bấy giờ, như Nguyễn Khắc Trường, Xuân Đức, Chu Lai hồi ấy hốt hoảng lắm, vì cái niêu cơm vốn dĩ mỏng manh, dễ vỡ như cáị đồ hàng mã của mình, có nguy cơ bị tước đoạt. Và ngay sáng hôm sau, Nguyễn Đức Mậu đã mang đến một chùm truyện ngắn: Một đêm viết đến năm cái truyện, quả là khủng khiếp. Mọi người chưa kịp bàng hoàng thì chính Nguyễn Đức Mậu đã bàng hoàng trước, khi anh quay lại ngắm năm ngọn tháp Ai Cập mà mình vừa mới nặn ra đêm qua, Quái, sao truyện của mình tìm mãi chẳng thấy có cái gạch đầu dòng nào cả! Nhà thơ vốn dĩ rất giỏi diễn tả tâm hồn tình cảm con người, nhưng ít khi dựng cả một thằng người có xương, có thịt, có hình dáng - diện mạo, tâm lý, với cả ngôn ngữ, tính cách, và tính cách con người nhiều khi lại được biểu hiện qua những đoạn đối thoại mà Nguyễn Đức Mậu gọi là những cái gạch đầu dòng. Đến nay, Nguyễn Đức Mậu đã thuần thục đường văn, đã là tác giả của hai cuốn tiểu thuyết và hàng chục truyện ngắn, nhưng xem ra những cái gạch đầu dòng này, đối với anh, hình như vẫn là một cái gì rất đỗi bí hiểm. Văn chương vốn dĩ lạ vậy. Có những cái tưởng như vặt vãnh, tưởng như rất đơn giản, thế mà càng khám phá lại càng chẳng hiểu nó ra làm sao...

Lê Lựu: Thế ra chú vẫn là cái thằng láu cá, vẫn đi vòng vèo, đi phía rìa ngoài, phía những gì đã qua, chứ không phải bây giờ. Tớ cứ muốn bắn thẳng, tớ hỏi chú, cái thằng Chí ấy, nó có nên chuyện không?

Trần Đăng Khoa: Nên chứ! Thì nó đã thành một cuốn tiểu thuyết dày dặn mà bác đang cầm trên tay đó thôi. Nhưng tôi những mụốn khẳng định với bác rằng Nguyễn Đức Mậu là một thi sĩ, và hơn thế, một thi sĩ có tài. Văn anh réo rắt, trầm bổng. Đúng là văn của một thi sĩ. Nghĩa là văn có nhạc điệu. Thỉnh thoảng anh lại giật mình, đánh rơi ra cả một mảng thơ. Hãy nghe anh tả biển: Con cò bước dè dặt trên mép sóng lăn tăn. Thỉnh thoảng cái mỏ dài và nhọn của nó lại mổ vào biển cả. Hay anh tả muỗi trong Chuyện riêng của sư trưởng, một cái truyện vào loại hay của Nguyễn Đức Mậu; từng được giải thưởng Văn nghệ quân đội: Tiếng muỗi căng từng sợi mỏng trong đêm, Nguyễn Đức Mậu rất tâm đắc với câu văn này. Nhưng tôi nghĩ, đây là một câu thơ. Thơ hay nữa là đằng khác. Cánh văn xuôi thuần tuý, tôi tin họ sẽ không viết thế. Còn thằng Chí Phèo thì tôi hiểu nó làm sao bằng bác được. Vì bác là ông văn xuôi. Bác thấy thằng Chí trong cuốn sách này nó như thế nào, nó thuộc loại người nào, có thể chơi được không?

Lê Lựu: Thế nghĩa là chú cũng coi tôi như một thằng Chí trong văn xuôi. Nghĩ mà buồn, ông Nam Cao đã có một thằng Chí Phèo sừng sững ra thế rồi, những thằng Chí khác khó mà vượt qua được. Thôi, hãy cứ nói cụ thể về cuốn sách này. Theo mình, với sự nhợt nhạt của những trang văn, với sự hời hợt của những tính cách, với sự nông nổi của những thân phận trong những sáng tác của cánh văn xuôi chúng mình, thì đây là một cuốn sách đọc lôi cuốn, có văn, có truyện. Làm được như thế cũng là khó, cũng là sự gắng vượt của một người làm thơ kiêm văn xuôi.

Trần Đăng Khoa: Thực ra, Nguyễn Đức Mậu thua ông Nam Cao thì có gì mà bác phải buồn, ông Nam Cao chết từ năm 1953, trước khi có Hội nhà văn chúng ta. Từ bấy đến nay, chúng ta có cả một đội ngũ hội viên hùng hậu, đông đến hơn 600 người, mà nào đã có ai vượt qua được mặt ông ấy. Đấy là một thiên tài, cũng là niềm tự hào của cả dân tộc ta ở thế kỷ này. Và tôi trộm nghĩ, xét về tài, ông Nam Cao nhà mình cũng chẳng thua gì ông Sêkhôp, ông Lỗ Tấn. Văn chương Nam Cao cũng rất gần với văn chương ông Tây, ông Tầu này, nhưng khoảng cách tầm cỡ thì hình như vẫn còn xa nhau lắm. Sở dĩ có cái khoảng cách ấy, cũng là vì ở chỗ, Lỗ Tấn và Sêkhôp qua 1 tâm đến nỗi đau ở cõi tinh thần, còn Nam Cao lại phải để tâm trí nhiều đến cái bụng. Đọc ông ấy, trang nào cũng, thấy đói. Mà văn học chỉ luẩn quẩn xung quanh miếng ăn, cũng khó mà lớn được...

Lê Lựu: à, ra cái chú mày vừa đi học Tây về...

Trần Đăng Khoa: Đâu phải thế, Tây thật còn chẳng ăn ai, huống hồ cái thằng Tây rởm. Dẫn ông Tây, ông Tầu, bác lại bảo tôi chuộng ngoại. Thôi thì ta quay về nội vậy. Bác rỗi thì cứ đọc lại ông Nguyễn Du ấy, ông ấy rất lớn, có thể sánh với Tagor hay với bất cứ đỉnh tháp nào của thế giới, thế mà bác có thấy ông ấy cho cô Kiều ăn một miếng nào đâu, Ngày xưa các cụ nhà mình cũng ghê gớm lắm chứ. Họ nghĩ đến cõi tinh thần hơn nghĩ đến cái dạ dày rất nhiều. Nhưng mà thôi, ta hãy trở lại bác Nguyễn Đức Mậu và thằng Chí Phèo của bác ấy. Theo bác đánh giá, cuốn sách này đứng ở vị trí nào trong văn chương chúng ta hôm nay?

Lê Lựu: Tôi với chú, mỗi người vẫn chỉ là một. Cách đánh giá của tôi, chưa chắc chú bằng lòng, huống hồ tôi lại đánh giá thay cho nhiều người khác. Đây là ý kiến của riêng tôi. Tôi rất mừng về sự lao động nghiêm túc, cật lực, để tạo ra được một cuốn sách như tôi đã nói ở trên. Nó là một cuốn sách hay.

Trần Đăng Khoa: Ông văn xuôi chính hiệu đã khen thế thì tôi chẳng dám cãi đâu. Chỉ xin, nhắc thầm bác Mậu một chi tiết nhỏ thôi. ấy là cái đoạn bác tả mẹ Lý Mão bị rắn cắn chết. Bà cụ đi móc cua ở đồng nước ngập trắng. Khi bị rắn cắn, bà gục xuống bờ ruộng. Cái nón trắng chúi sấp xuống nước. Cứ như bác Mậu tả thế thì đó là rắn nước, cắn chỉ ngứa chứ không chết được người. Rắn độc thường chỉ ở những nơi khô ráo. Bác Mậu là người quê, sao lại nhầm lẫn sơ đẳng đến vậy. Nhưng thôi, bác đã khen thế, không khéo Chí Phèo có thể làm ứng cử viên hoa hậu, văn chương năm nay...

Lê Lựu: Không chỉ thằng Chí Phèo, mà là tất cả những ông, những bà, những anh, những chị trong các cuốn sách khác đều có thể là ứng cử viên. Còn nó có trở thành hoa hậu văn chương hay không, phải nhờ vào sự đánh giá công minh của bạn đọc rộng rãi...

Trần Đăng Khoa: Thế có nghĩa là theo ý riêng bác, Chí Phèo đã là một anh chàng hoàn chỉnh?

Lê Lựu: Khái niệm về hoàn chỉnh, hay toàn bích, còn một khoảng cách. Tôi muốn nói một nhà thơ viết văn xuôi rất khó tạo dựng được những tính cách chính xác, lô-gích, những nhân vật hoàn chỉnh như những anh chuyên nghề văn, ấy là chưa kể những khiếm khuyết về ngôn ngữ, đôi chỗ ngôn ngữ hôm nay lắp vào miệng nhân vật hôm qua, hay cách nói khái niệm theo kiểu cơ quan, công chức gắn vào mồm những thằng đầu đường xó chợ như cái thằng Chí Phèo. Nhưng tôi tin rằng, với cách sống giản dị, cần mẫn, sự đằm mình trong không khí nhà quê, nơi Nguyễn Đức Mậu gửi gắm nhiều tình cảm sâu xa của mình, chắc chắn nếu còn viết văn anh sẽ khắc phục được những nhược điểm mà tôi vừa bàn đến,

Trần Đăng Khoa: Sở dĩ, có cái gọi là nhược điểm như bác vừa nói, tôi nghĩ, cũng là tại bác Nguyễn Đức Mậu của chúng ta thông minh quá, mà cái thằng Chí Phèo thì lại đần độn dớ dẩn, nên bác Mậu cứ phải dìu dắt, chỉ dẫn. Vì vậy mà ở trang nào, tôi cũng thấy thấp thoáng bóng bác Mậu đi bên thằng Chí Phèo. Phải nói bác Mậu là một nhà chỉ huy cần mẫn và sâu sát dân chúng. Thành công của cuốn sách này là nó cứ làm ta nhớ đến ông Nam Cao và thằng Chí Phèo làng Vũ Đại ngật ngưỡng bước bên miệng vực. ở cái khoảng cách mỏng manh giữa thú và người. Hình như Nguyễn Đức Mậu viết cuốn sách này cũng là vì sự ám ảnh của nỗi nhớ ấy. Bởi vậy anh đã đề trong cuốn sách: Kính tặng hương hồn nhà văn Nam Cao. Dưới đó còn có thêm bốn câu thơ:

Chí Phèo sống, Nam Cao đã khuất

Nào có dài chi một kiếp người

Nhà văn chết, nhân vật từ trang sách

Vẫn ngày ngày lăn lóc giữa trần ai...

Vì sức sống của Chí Phèo, chúng ta nâng cốc chúc mừng ông Nam Cao và chúc mừng cả anh Chí của Nguyễn Đức Mậu nữa. Mong rằng giữa chốn trần ai, anh Chí của bác Mậu sẽ không mất tích.

Quán Gió, Hồ Tây 4-1993
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Vanachi

Chân dung và đối thoại - Bài 10
Tác giả: Trần Đăng Khoa



Mùa xuân. Gió se lạnh. Mưa bụi lay phay, ở một góc công viên Thủ Lệ, nơi ngự của Chúa Sơn Lâm mà người nhà quê vẫn quen gọi Ngài là... Ông Ba Mươi - lúc nào cũng nườm nượp người. Những đứa trẻ lũn cũn theo mẹ, tay cầm chùm bóng màu, lấm lét nhìn Ngài. Một cặp trai gái đang yêu xoè ô che cho rhau, đi lướt qua. Hình như họ không biết có Ngài trên đời. Điều ấy lại làm cho Ngài cảm thấy dễ chịu. Ngài muôn vào hậu cung, là cái buồng nhỏ có cửa sắt, xây bằng xi-măng, cốt thép ở phía sau mà lũ trẻ ngỗ ngược dám gọi là cái ổ cọp. Láo toét. Thực tình. Ngài muốn nằm xả hơi sau bao nhiêu huyên náo, chộn rộn, thì ngoài cửa sắt lại thập thò một vị khách nữa, đó là Trần Đăng Khoa. Sự xuất hiện của anh ta, quả có làm cho Ngài khó chịu. Ngài định phất đuôi đi thẳng, nhưng rồi không hiểu nghĩ sao, Ngài lại không đi.



Ông Ba Mươi (Le lé nhìn máy ảnh, máy ghi âm, những đồ nề lỉnh kỉnh đeo trên vai Trần Đăng Khoa), Hừm... Hoàm...! Lại nhà báo chứ gì? Ta chẳng có việc gì phải gặp nhà báo cả. Hãy đi đi. Đi ngay khỏi đây đi!

Trần Đăng Khoa: Này. Ngài vừa nói gì thế? Ngài có biết Ngài đang vi phạm luật báo chí không? Điều luật đã được ghi rõ ràng đây này! (Đọc to) Không một ai có quyền ngăn cản nhà báo đang thi hành công vụ theo đúng pháp luật!

Ông Ba Mươi: Hừm! Đúng là nhà báo chính cống. Động một tí là lại giở thẻ ra doạ nạt. Nhưng ta là Hổ. Hổ còn hơn Báo đấy!

Trần Đăng Khoa: Phải! Ta biết Ngài là chúa tể rừng già. Nhưng rất tiếc, đây lại không phải rừng già. Ngài đang ở giữa xứ người, đang nằm khoèo trong cái cũi sắt ở vườn bách thú Thủ Lệ...

Ông Ba Mươi: Thế con tưởng con không ở trong cũi sao? Cái cũi của ta chỉ hơn chục bước chân thôi, eòn cái cũi của con thì mênh mông đến... bốn phía chân giời.

Trần Đăng Khoa: Này ông mãnh! ông nói lảm nhảm cái gì thế?

Ông Ba Mươi: Ta chỉ nói một sự thật thôi?

Trần Đăng Khoa: Sự thật gì?

Ông Ba Mươi: Sự thật là ta đã mang rừng già về thành phố. Sự hiện diện của ta đã làm cho cái khu rừng giả Thủ Lệ này có sự thâm nghiêm, huyền bí của đại ngàn. Trong khi đó, những cánh rừng thật thì đang bị huỷ diệt trên phạm vi toàn thế giới. Tầng ôzôn bị thủng ở trên kia. Nạn cháy rừng đã lan đến tận đỉnh giời rồi. Những bộ óc thông minh nhất của loài người đã phải co cụm lại để lo cách chống đỡ, vá tầng ôzôn. Hừm...! Họ định biến thinh không thành một cái váy đụp. Tầng ôzôn không ở trên cao tít mù khơi kia đâu. Nó đang, ở ngay dưới gót giày của các người đấy. Hãy vá những cánh rừng đang bị rách tơi tả đưới chân các người đi. Hãy làm đúng như lời cầu nguyện của lũ con trẻ, là biến trái đất thành một quả bóng xanh. Quả bóng xanh bay giữa trời xanh. Lúc đó, rừng già sẽ cứu vớt các người, che chở cho các người.

Trần Đăng Khoa: Ngài chỉ ở trong xó rừng, bây giờ còn bó thân trong cũi sắt. Ngài biết gì về tầng ôzôn mà toàn nói chuyện trên giời...

Ông Ba Mươi: Thực tình, ta ngự ở xứ người cũng có phần âm u tí chút, nhưng cái loa công cộng rất vui tính ở cổng rừng giả kia hàng ngày rót vào tai ta bao nhiêu là chuyện, rặt những duyện do cánh báo chí các người nhặt nhạnh ở khắp các xó xỉnh hành tinh. Đến cỏ cây kia cũng còn biết bao nhiêu chuyện trên giời. Chúng vẫn luôn rì rầm, bàn tán với nhau. Còn con người chẳng biết cái gì cả lại cứ tưởng trời đất đang chuyển mùa. Hà Nội đang trở gió. Ôi cỏ cây! Cỏ cây đang hát - Những nỗi niềm huyền bí của thiên nhiên. Nhà thơ nào ca thế nhỉ? chỉ láo toét! Lũ cây cỏ đang cười các người đấy, đang đàm tiếu về các người đấy chứ hát hò cái nỗi gì? (Trần Đăng Khoa giơ nắm đâm lên, nhưng lại chợt nhìn thấy cái biển đề ở cửa sắt: Yêu cầu quý khách không chạm vào hiện vật. Anh bèn bỏ đi) Này, lại đây? Lại đây. Ta có nhời xin lỗi con. Ta chưa nói hết chuyện mà? Còn rất nhiều chuyện nữa.

Có tiếng ồn ào. Một đám thanh niên đi ngang qua, Ơ này, lạ không, lão kia đang nói chuyện với hổ! Bậy!, Bậy gì, lão còn giở sổ ghi ghi chép chép! Người điên đấy! Điên đâu mà điên! Không điên sao lại nói chuyện với hổ?



Trần Đăng Khoa: (Vỗ vỗ vào cửa sắt. Ông Ba Mươi quay lại): Đó, Ngài có nghe thấy gì không? Tai Ngài vẫn tốt đấy chứ?



Ông Ba Mươi: Ta điếc rồi, Hoàn toàn điếc đặc rồi,



Trần Đăng Khoa: (Bật cười) Ngài bảo Ngài điếc đặc Điếc đặc mà sao Ngài tọc mạch thế?



Ông Ba Mươi: ấy là vì ta buồn. Ta buồn thôi. Nếu buồn thêm một tí nữa không khéo ta thành thi sĩ mất. Biết đâu, lúc ấy, ta là ông Thế Lữ cũng nên...



Trằn Đăng Khoa: Ngài biết ông Thế Lữ à?



Ông Ba Mươi: Biết chứ! Ông ấy với ta là bạn tâm giao. Gậm một mối căm hờn trong cũi sắt - Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua... Hay thật? Phải thừa nhận rằng, Thế Lữ rất hiểu ta. Cũng phải thôi. Bởi ông ấy là chúa tể thi ca nên cũng dễ dàng hiểu được nôi niềm của chúa tể rừng già. Thế Lữ đã mượn cái lưỡi của ta để bộc lộ nỗi niềm của mình. Lấy con mắt của ta để ngắm đại ngàn và rồi rốt cuộc ta lại được nhìn đại ngàn bằng chính con mắt Thế Lữ: Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối - Ta say mồi đứng uông ánh trăng tan? Đâu những bình minh cây xanh, nắng gội - Tiêng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Thật bi tráng biết bao? Kỳ vĩ biết bao? Nhưng đấy là chuyện của Thế Lữ, do Thế Lữ tưởng tượng khi ngài khoác tấm áo vằn vện của ta.. Chứ thực sự với ta thì đêm trăng bên suối, ánh bình minh với tiếng chim ca chẳng có nghĩa lý gì. Ta chỉ yêu bóng đêm. Những đêm tối sẫm, nhất là đêm ba mươi. Đêm ấy, ta nhìn vạn vật trong suốt mà không bị vướng ánh hào quang giả tạo. Vương quốc của ta chỉ thực sự tôn nghiêm, kỳ vĩ khi có bóng tối bao phủ. Ta cứ cười thầm ông Thế Lữ đã phải núp vào bóng ta mà kêu lên: Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? Ông ấy đã khám phá ra một căn bệnh phổ biến của loài Nguyễn là nuối tiếc quá khứ.



Trần Đăng Khoa: Thế Ngài không tiếc quá khứ sao? Cllí ít cũng là một thời tung hoành ngang dọc ở những cánh rừng già?



Ông Ba Mươi: Với ta, quá khứ chả là cái gì cả Chỉ cần chạm vào cái lá là ta đã quên sạch. Ta không có quá khứ, cũng không có tương lai. Ta chỉ có hiện tại. Lúc nào với ta cũng là hiện tại...



Trần Đăng Khoa: Hiện tại của Ngài là đây này (Đập đập vào cái cũi sắt)



Ông Ba Mươi: Đúng rồi! Nhưng cái hiện tại han gỉ này đâu có ngăn ta bàn luận về con người. Phải thừa nhận rằng, con người ở thế kỷ này cực kỳ tài giỏi. Họ có thể phục hồi lại được mọi thứ đã mất, chỉ trừ thời gian. Bởi thế, họ mới nuối tiếc quá khứ, Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác. Ông Tây nào nói thế nhỉ? Hãi quá.



Trần Đăng Khoa: Ta muốn nghe một chuyện về Ngài,



Ông Ba Mươi: Có một chuyện hình như là của ai đó.



Trần Đăng Khoa: Ngài có nhớ tên người ấy không,,



Ông Ba Mươi: Làm sao ta nhớ được tên các người, những cái thứ lằng nhằng như dây mây, dây mái ấy...



Trần Đăng Khoa: Vậy là Ngài không biết tên tác giả?



Ông Ba Mươi: Ta chỉ biết cái chuyện thôi. Nào, con hãy ngồi xuống đây, Thế? Được rồi! Câu chuyện bắt đầu từ một bà già. Bà sống trong một căn lều cỏ rách nát. Căn lều dựng ven rừng. Ngay sau lều là đại ngàn âm u, huyền bí. Chính cánh rừng đã nuôi bà cụ. Ngày ngày bà cụ vào rừng, kiếm củi, rồi mang ra chợ bán. Một buổi tối, trời sáng mờ, Bà cụ đang lụi cụi từ rừng về nhà thì chợt nghe tiếng trẻ khóc. Tiếng khóc vẳng lên từ một cái hố ở ven đường. Không biết con cái nhà ai đi đâu mà lại rơi vào cạm bẫy hổ. Qua ánh trăng non lờ mờ như bụi rắc, hà cụ rụng rời khi nhìn thấy ở dưới đáy hố không phải là đứa trẻ, mà lại là một chú hổ con. Thôi, cho nó chết! Bà già bỏ đi. Nhưng vừa nhấc bó củi lên vai, bà đã khuỵu xuống, không bước nổi. Tiếng khóc cứ xói vào ngực bà, co thắt trái tim bà. Bà nghe rõ ràng là tiếng khóc trẻ con. Tiếng khóc của trẻ con - Người. Bà nhớ đến đứa con duy nhất của bà với người chồng xấu số. Thằng bé đã rơi xuống khe đá và chết đói ở dưới đó khi nó thơ thẩn đi đón bà ở ngoài bìa rừng. Thế là không còn băn khoăn gì nữa, bà bế con hổ con về nhà nuôi bằng chính dòng sữa của mình. Từ đó căn lều hoang lạnh của bà đã có tiếng cười. Những người dân của làng đi làm về, thường ghé qua ngắm cậu bé. Ai cũng khen cậu đẹp, hiền hậu. Có người còn bảo cậu giống bà cụ. Hai mẹ con cứ như hai giọt nước. Thế rồi cậu đi học. Cậu học rất giỏi Bè bạn không ai có thể theo kịp. Điều ấy làm cho họ khó chịu. Còn ông thầy cũng không thấy vui nhiều khi còn bực bội, vì có điều thầy chưa kịp nói, cậu đã biết cả rồi. Và thế là họ quyết định gạt cậu ra khỏi cộng đồng, chỉ với một lý do: Cậu không phải là người. Cậu là một con hổ đẻ rơi. Nhưng biết lấy bằng cớ gì để xác định cậu là hổ. Chả lẽ dựa vào cái lý lịch mờ mờ tỏ tỏ, pha màu huyền thoại mà người ta đã đồn thổi từ thời nảo, thời nào, trong khi cậu lại học giỏi, ngoan ngoãn, hiền lành, thật thà như đếm, diện mạo sáng đẹp, giống y hệt một con người. Cậu chỉ có một cái tật: cứ chạm phải lá cây, cậu quên hết mọi sự. Nhưng chỉ một tật ấy thì cũng chưa thể đủ cớ buộc tội cậu. Học trò quên lời thầy là điều bình thường. Thế là ông thầy bèn ra một đề văn trắc nghiệm giới tính: Em hãy tả dòng suối trong một đêm trăng (Ngừng ngắn). Hừm, con người buồn cười thật, Họ tẻ nhạt đến đơn điệu, Cứ nói về hổ là lại dòng suối với đêm trăng. Tay nhà văn này cũng giống hệt ông Thế Lữ...

Trần Đăng Khoa: Xin Ngài hãy trao công việc bình luận văn chương cho các nhà phê bình, nghiên cứu. Đấy không phải là việc của Ngài...

Ông Ba Mươi: Ta đang nói chuyện hổ đấy chứ. Đâu có phải chuyện văn chương. Ta không quan tâm lắm đến những công nghệ lằng nhằng của giới phê bình.

Trần Đăng Khoa: Vậy xin Ngài cứ kể tiếp, Thế rồi bài văn sao?

Ông Ba Mươi: Thì lũ trẻ hí hoáy làm bài. Những bài văn nhạt nhẽo và bợt bạt, khộng hề có sinh khí. Nhưng đến bài của cậu bé thì không thế. Cậu ta tả tiếng gió âm u luồn trong bụng rừng. Những cành cây khô vặn mình răng rắc như tiếng xương gẫy. ánh trăng lếnh loáng trên mặt suối như máu. Mùi cỏ trên bờ thơm ngây ngất. Những ngọn gianh sắc còn vướng rớm chút máu chân nai...

Thôi! - Thầy giáo quát lên. - Hãy dừng bút và bước ngay ra khỏi lớp? Mày là một con hổ!. Cậu bé ngỡ ngàng, không hiểu ra làm sao cả. Ra ngay! Con hổ ác độcKhông! - Cậu bé mếu máo, - Em là người, là con người!, Người đâu có thế này, Máu... Máu.... Thế là cánh cửa lớp sập xuống sau lưng cậu, Cút đi! eút đi! Cút về rừng đi!. Lũ trẻ gào lên cho hả giận. Cậu bé thất thểu về nhà. Bà cụ hái củi đã chết vì cây đổ. Chẳng còn biết nương tựa vào đâu. Cậu bé nhớ đến những người hàng xóm tốt bụng. Những người đã từng ca ngợi cậu, khen cậu đẹp trai và giống mẹ như đúc. Nhưng vừa nhác trông thấy cậu, họ đã đóng sập cửa. Họ chỉ biết cậu là con của hổ nên bị đuổi học. Cậu bé đói lả chỉ mong có một miếng cơm cháy. Rồi eậu đi lang thang để kiếm cái ăn. Cậu nghe có tiếng bước chân rầm rập ở ngoài bìa rừng. Các bác ơi, cho cháu một khúc sắn! Rồi cậu rụng rời cả chân tay khi phát hiện ra đám đông ấy không phải là người mà lại là một bầy hổ rừng. Đói chứ gì? Thế thì theo chúng tao!. Nhưng cháu không phải là hổ!, Nếu không phải hổ, sao con người lại ruồng bỏ mi, xua đuổi mi? Thế là cậu đã trở về với đại ngàn sâu thẳm huyền bí. Và chỉ ít phút sau, cậu đã có cái ăn. Nhưng không phải cơm, không phải sắn mà là thịt sống. Cậu nôn oẹ ra mật xanh, mật vàng. Bầy hổ phải vất vả lắm mới đào luyện cậu tiếp cận được với cuộc sống mới. Rồi cậu quen dần với đời sống hoang dại, quen dần mùi máu. Rồi cậu nghiện máu. Cậu thấy thèm thịt người. Cậu mang máng nhớ đến cái lớp học ở một làng xa xa. ở đấy có cơ man nào là người. Thế là cậu dẫn đoàn quân của rừng về. Ôi! Em vào đây? Em ngoan quá! Thầy và các bạn đều nhớ em! - Thầy giáo kêu lên, giọng run rẩy. Không! Ta đến đây không phải để học. Chính em đã từng học ở đây mà! Em là một con người tuyệt vời. Con người viết hoa!. Không! Ta không phải là người. Chính ông đã bảo ta là hổ, đã bắt ta phải làm hổ! Thế là cậu và đoàn quân của rừng tràn vào lớp học. Thịt và máu ngập ngụa cả một vùng...

Trần Đăng Khoa: Hình như Ngài nhớ không chính xác...

Ông Ba Mươi: Thế ta mới là Hổ chứ. Có quan trọng gì ở sự chính xác của mấy con chữ. Miễn là cái chuyện nó sống trong bụng ta như thế. Ông nhà văn này thật khôn ngoan. Ông ấy đã biết tựa vào cái bóng oai linh của ta để tạo dựng lên một tác phẩm lớn, cũng như ông Thế Lữ.

Trần Đăng Khoa: Ngài lại chạm đến một vấn đề không thuộc về Ngài rồi. Tác phẩm lớn hay nhỏ đâu có phụ thuộc vào nhân vật mà nhà văn để cập, ví như con muỗi mắt hay con voi rừng...

Ông Ba Mươi: Văn học có thể viết về con muỗi, về côn trùng. Nhưng nhà văn mà chỉ luẩn quẩn những muỗi mắt, côn trùng, giun dế, cóc nhái với cào cào châu chấu thì cũng không thể thành người được đâu, con ạ, Con cứ nhắn với các nhà văn như thế nhé. Cứ nói thẳng ra là ta nói thế đấy. Nếu ai cảm thấy khó chịu thì cứ đến cái góc rừng giả Thủ Lệ này gặp ta.

Tết Con Cọp Mậu Dần 1998
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 7 trang (63 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] ... ›Trang sau »Trang cuối