Trang trong tổng số 5 trang (49 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [2] [3] [4] [5]

Ảnh đại diện

Đồ Nghệ

ĐN có được đọc bài tiểu luận dưới đây của Giáo sư Đặng Tiến, giảng viên Đại học Paris. ĐN thấy có thể có ích cho bạn nào yêu "Tây Tiến" và nhà thơ Quang Dũng tham khảo, nên đã ngồi gõ lại và post vào đây. Khi xưa ĐN cũng đã có may mắn được dăm lần ngồi trò chuyện cùng nhà thơ Quang Dũng, cũng đã từng hỏi nhà thơ về chuyện "đoàn binh không mọc tóc"...ĐN trân trọng tất cả những ai yêu và nhớ thơ Quang Dũng, bởi ĐN cũng là người yêu thơ ông và con người thật của ông. Xin giới thiệu cùng các bạn:

Quang Dũng
           Một thoáng mơ phai



Với khách yêu thơ, Quang Dũng đã đến giữa lòng cuộc đời, dịu dàng như một nét hoài nghi, rồi anh lại đi nhẹ nhàng như một thoáng mơ phai. Trên những âm thanh và cuồng nộ của nhân gian anh đến anh đi gần xa trên gót sen vàng lãng đãng, hiện thực như khói mây mà lại mờ ảo như một kỷ niệm. Có một Quang Dũng thịt xương vừa rời khỏi tầm mắt chúng ta và một Quang Dũng khói sương, ghé lại đời ta từ một buổi chiều nào và sẽ còn chờn vờn mãi trong tâm tưởng chúng ta.
Giai thoại văn chương kể lại rằng Lê Thánh Tôn có lần ra chơi chùa Ngọc Hồi, được tiên làm giúp câu thơ:

 Gió thông đưa kệ tan niềm tục
 Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời.


Sở dĩ có giai thoại, vì âm hưởng câu thơ – không biết là của ai – như vang vọng từ một chân trời khác, một bồng đảo xa khơi nào đó. Thơ Quang Dũng cũng vậy. Dù vẫn hiện thực và chân thực, thơ anh đã đậu lại lòng ta trên những cánh mơ. Bạn đã tiếp xúc với Đôi bờ, Đôi mắt người Sơn Tây ở đâu? Trong hoàn cảnh nào mình đã nghe bài Tây Tiến? Chắc chắn là không qua văn bản, vì cho đến nay Đôi bờ vẫn chưa được in ra. Lại còn:

 Mai chị về em gửi gì không
 Mai chị về nhớ má em hồng…


Bài Kẻ ở, người đời đã gán cho Quang Dũng vì có phong vị Quang Dũng, ngày nay với hàng vạn người yêu nhạc yêu thơ, đã thuộc về thế giới Quang Dũng. Sự gán ghép đó lại nhắc lại câu hồn bướm mơ tiên, mà ngày nay nhiều người cho là của Hồ Xuân Hương; vì có một huyền thoại Hồ Xuân Hương, cũng như có một huyền thoại Quang Dũng. Viết về Quang Dũng cho tách bạch, chính xác, có nghĩa là phá vỡ huyền thoại đó. Việc ấy nên làm hay không, đối với một người lỡ yêu Quang Dũng? Giống như trẻ con chơi bong bóng bọt, người yêu thơ ngại ngần khi phân tích vì e làm òa vỡ giữa lòng mình  một vài bọt bóng mong manh, những ảo ảnh đã nuôi sống chất thơ nên vòm trời tâm tưởng, vì không ai nuôi dưỡng được thơ bằng kiến thức hay luận lý.
Từ 1983, Quang Dũng bị liệt vì bệnh tim mạch, tôi có lời hứa với anh là xuất bản thơ anh ở nước ngoài và viết lời tựa; rồi lần lần lữa lữa mãi. Như người chèo thuyền, không dám khua mái dầm vì sợ làm vỡ vầng trăng. Vầng trăng nay vừa khuất núi, đôi mắt người Sơn Tây vừa nhắm lại. Chèo thử xem sao.

 Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi.

Ở Hà Nội, sau một tuần rượu, đã có những mái tóc bạc rung lên giọng ngâm, u hoài, tha thiết. Có chút gì trầm thống, như tiếng “gầm lên khúc độc hành” của một dòng sông nhớ ghềnh nhớ thác. Cứ gì sông Mã, sông nào mà chẳng độc hành? Đó là tâm sự của những người – một thế hệ đam mê – đã tham dự cuộc kháng chiến chống Pháp từ những ngày nổi lửa.
Những người bạn lệch tuổi đó, ở Hà Nội, dường như chỉ biết của Quang Dũng có một bài  Tây Tiến. Trong các đô thị miền Nam trước 1975, nhiều người thuộc thơ Quang Dũng, nhất là hai bài  Đôi bờ và  Đôi mắt người Sơn Tây đã được phổ nhạc chung trong một bài hát. Số người biết đến  Quan bên đường  và  Lính râu ria không nhiều lắm. Tình trạng này kéo dài trong giới người Việt ở nước ngoài hiện nay. Nhiều Việt kiều về Hà Nội hỏi thăm, tìm thăm Quang Dũng, làm người Hà Nội ngạc nhiên, vì ít kẻ biết Quang Dũng là ai, ngay trong giới thuộc vài câu Tây Tiến  hoàn cảnh có gì không bình thường : thơ Quang Dũng chủ yếu là thơ kháng chiến, mà ít người cách mạng nhớ đến. Còn kẻ ngâm nga, ngược lại không lấy gì cách mạng cho lắm; họ biết thơ Quang Dũng vì nghe truyền miệng và đã chép tay. Chứ ai mà đi in thơ Quang Dũng? Do đó, thơ Quang Dũng biến thành văn chương truyền khẩu, văn học dân gian gì đó, như truyện Thạch Sanh hay Tấm Cám. Do đó đoạn trước, đoạn sau và câu chữ thay đổi từ đổi theo; Quang Dũng có vài ba tiểu truyện khác nhau, chung quanh một huyền thoại. Có thể lý giải được hiện tượng này: thơ Quang Dũng được truyền miệng từ trong thời kháng chiến chống Pháp, rồi được phổ biến qua những người bỏ về thành, di cư vào Nam năm 1954. Họ nâng niu thơ Quang Dũng như những hoài niềm về một thời son trẻ hào hùng nào đó mà họ vẫn còn tiếc nuối. Và không phải vì tình cờ mà Doãn Quốc Sĩ đã trích dẫn trọn bài thơ  Tây Tiến  trong một cuốn khảo luận về… tiểu thuyết, hay Thanh Nam đã có một cuốn truyện tên là  Dòng lệ thơ ngây,  hay người phổ nhạc, rất tài hoa, thơ Quang Dũng là Phạm Đình Chương, kẻ đã xe đạp đèo danh ca Thương Huyền đi… kháng chiến. Rồi thế hệ đến sau, lớp thanh niên đô thị miền Nam, đã yêu thơ Quang Dũng như một giấc mơ, một cuộc viễn du mà mình đã nhỡ đò.

 Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn,
 Lên núi Sài Sơn ngóng lúa vàng?
 Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
 Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng.


Bao nhiêu thanh niên miền Nam đã yêu đất nước qua điệu thơ trên, mà có biết Bương Cấn, Sài Sơn, Phủ Quốc là đâu. Bao nhiêu người thừa gạo trắng nước trong mà vẫn:

 Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khói
 Mai Châu mùa em thơm nếp xôi


(còn tiếp)
...
Все пройдет и печаль и радость
Все пройдет так устроен свет
Все пройдет только верить надо
Что любовь не проходит нет ..
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Đồ Nghệ

2.(tiếp "Quang Dũng - một thoáng mơ phai")

Tuy nhiên ta không thể, và không nên, giải thích nghịch lý Quang Dũng bằng tâm lý thời sự đơn giản như vậy, dù nó có phần đúng; và nhất là vì nó đúng, những lý do cục bộ kia có thể gây hiều lầm, vun quén thêm vào những kỳ thị, ganh ghét, tị hiềm, không xứng đáng với tâm hồn cao đẹp của Quang Dũng. Vì chính tâm hồn cao đẹp ấy mới giải thích được tài hoa của Quang Dũng, và vận mệnh lạ lùng của thơ anh. Không nên đi tìm ở đâu khác.
Thơ Quang Dũng: trước sau, là thơ tình. Tình yêu cuộc sống, yêu người, yêu đồng bào đồng đội, yêu đàn bà đẹp, yêu nghệ thuật và yêu đất nước. Không có tình cảm cao đẹp nào thiếu vắng trong thơ văn anh, và mọi tình cảm đều được thể hiện sâu sắc, tế nhị và tài hoa. Và tâm tình ấy luôn luôn bập bềnh trên những đợt sóng cùa lịch sử; nó dạt dào, hay dặt dìu trên những đợt song xưa thổi lọng vào thời đại. Thơ Quang Dũng là vết thương mới trên một hình hài xưa cũ. Một vết thương vừa đủ đau nhức để nhắc nhở ta yêu thương cơ thể của quê hương:

 Em mới thành Sơn chạy giặc về,
 Tôi từ chinh chiến cũng ra đi


Giản dị vậy thôi. Thơ như vậy ai làm chẳng được, nhưng trong toàn bộ văn học Việt Nam hiện đại, chỉ có một mình Quang Dũng đi vào lòng người và ở lại lòng người bằng những câu giản dị như vậy. Và cái dễ thương ở Quang Dũng chính là anh cũng không ngờ và không mong chờ thành đạt đó. Anh không làm thơ để đời hay đi vào lịch sử văn học, mà để ghi lại một khoảnh khắc trong cuộc sống, rồi bỏ xó, going như Jacques Prévert. Nhờ một ít người thân, bạn bè góp nhặt, truyền tụng, giữ gìn, phổ biến, mà ngày nay người ta còn có thơ Quang Dũng. Và ta nên cảm ơn những người đó, chị Quang Dũng và các cháu, cùng bạn anh, như là Trần Lê Văn. Yêu bài thơ Tây Tiến, ta cũng cần biết rằng Quang Dũng có một hồi ký Tây Tiến mấy trăm trang, do anh vẽ bìa và minh họa, nhưng theo Trần Lê Văn nay bản thảo không biết để đâu¬ (1). Sự vô tâm làm thiệt thòi cho văn học, đã đành, nhưng ngược lại đã đóng góp thêm vào lòng ưu ái mà cuộc đời đã dành cho anh và cho những dấu chân mà Quang Dũng đã hờ hững để lại bên lề văn học sử.
Quang Dũng dáng cao lớn. Đẹp người, đẹp trai và đẹp lão. Tuổi tác, có thể bênh liệt phần nào, tạo cho anh vẻ tiên phong đạo cốt: tóc bạc phơ, mắt trẻ con, miệng lúc nào cũng sẵn sàng mỉm cười, cầm tay lắc lắc, mắt ướt, miệng cười. Phật sống, Trần Lê Văn đã tả Quang Dũng bên cửa sổ bệnh viện:

 Anh bình lặng trắng  phau ngồi đó
 Hay một đám mây mùa thu mới lạc vào phòng.


Tả như vậy là đúng. Nhiều Việt kiều tại Pháp quen Quang Dũng, chụp chung hình kỷ niệm với anh, nhưng ít dám trưng ra khoe, vì bên cạnh một ông già Hà Nội chậm tiến trong hình, thì khuôn mặt chàng Việt kiều Parisien trông… quê quá! Quê một cách thảm hại. Người Quang Dũng đẹp như thơ anh vậy.
Quang Dũng sinh năm 1921, nhiều tư liệu ghi tận 1918, quê ở Phùng, thôn Phượng Trì, xã và huyện Đan Phương, xưa kia thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây, năm 1898 nhập vào phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông mới lập, năm 1965 thuộc Hà Tây, 1975 thuộc Hà Sơn Bình, từ 1978 nhập vào Hà Nội. Dài dòng vì tư liệu về Quang Dũng lung tung và những địa danh kể trên thường hiện ra trong thơ văn anh: “Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc”, là phủ Quốc Oai. Tên trên khai sinh là Bùi Đình Diễm, có nơi ghi là Diệm, anh cho tôi biết thêm tên cúng cơm là Dậu, vì sinh năm Tân Dậu, 1921; thân mẫu tên Hợi, Trần Thị Hợi, và thân phụ tên Bùi Đình Khuê. Trần Quang Dũng là bí danh lúc đầu, Trần là họ ngoại, sau này anh chỉ giữ bút danh Quang Dũng. Anh học trung học tại trường Thăng Long, Hà Nội, và làm nhiều nghề để sinh sống. Thời trẻ anh đã làm nhiều thơ, nay chỉ còn lại đôi bài như Giang hồ làm năm 1942:

 Lá tím lá xanh đường gội nắng
 Hoa vàng nhạt nhạt nhớ phiêu lưu
 Lối đi khắc khoải lời chim nói
 Ve vãn tương tư mảnh gió chiều.


Lịch sử sang trang. Anh tham gia cách mạng và kháng chiến, chiến đấu trong hàng ngũ trung đoàn Thủ Đô bảo vệ Hà Nội ngày Toàn quốc kháng chiến, 19-12-1946. Trận địa ngắn ngủi này đã hằn sâu vào tâm khảm nhà thơ; sau trường ca Sử một trung đoàn khởi thảo 1947, Quang Dũng còn khơi mãi ngọn lửa tháng chạp trong lòng mình. Năm 1956, anh còn viết:

 Từ những ngày
 Mười chín tháng mười hai
Đêm đầu kháng chiến
Gốc sấu sân trường
  Ngay bên cột điện
Anh nằm sương trắng mười năm
Người lính giữ đầu tiên
  Hà Nội.


Trong những bút ký viết sau 1970, in lại gần đây trong Nhà đồi , vẫn còn chập chờn ánh lửa của những đêm Hà Nội kháng chiến. Và Quang Dũng không phải là một biệt lệ, là người duy nhất, ba mươi năm sau còn ngất ngây trong một cơn say, còn sống chưa tàn một đêm hỏa mộng.
            Trong con người Quang Dũng lúc đó, bao nhiêu ngọn lửa đã cháy bùng lên cùng một lúc: tuổi trẻ hăng say, lòng yêu nước, tâm hồn nghệ sĩ và tinh thần chiến đấu. Khi Trung đoàn Thủ Đô rút ra khỏi Hà Nội, một đêm “tháng chạp màn sương trùm đất nước”, rồi giải thể, Quang Dũng là phái viên phòng quân vụ Bắc Bộ, theo học một khóa quân sự tại Tông (Sơn Tây), rồi gia nhập đoàn quân Tây Tiến, chiến đấu nơi miền rừng núi biên giới Việt-Lào, trong những điều kiện hết sức gian lao mà ta sẽ xét sau. Trung đoàn Tây Tiến giải thể vào năm 1948, Quang Dũng lúc ấy là Đại đội trưởng, được giải ngũ và làm bài thơ nổi tiếng, để “hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Tại sao một sĩ quan có khả năng như Quang Dũng mà phải giải ngũ giữa chiến cuộc căng thẳng lúc đó, thì chúng tôi chưa rõ, nhưng chắc không phải vì vài ba câu thơ bị phê bình. Quang Dũng về làm công tác văn hóa tại Thanh Hóa cho đến 1954 thì về Hà Nội. Anh có dính vào vụ Nhân văn – Giai phẩm vào năm 1957 vì mấy bài ký Bờ Hồ, Xiếc khỉ, nhưng bản án không nặng lắm. Sau đó anh làm biên tập cho Nhà Xuất bản Văn học cho đến tuổi về hưu, khoảng 1980. Quang Dũng đã xuất bản mấy tập truyện ký Đường lên Châu Thuận (1955), Rừng về xuôi (1964), Nhà đồi (1970), tái bản năm 1983 có bổ sung, tập thơ  Rừng biển quê hương (1957) in chung cùng  Trần Lê Văn và Mây đầu ô (1986) với nhiều sai sót. Nhà xuất bản Văn học đang chuẩn bị phát hành một tác phẩm chọn lọc của Quang Dũng.

            Quang Dũng là bậc tài hoa. Ngoài tài viết văn, làm thơ, thời thanh niên anh đã từng đánh đàn, kéo nhị cho một gánh hát, và có sáng tác nhạc như bài hát “Ba Vì mờ sao”, anh rất thích. Anh vẽ đẹp và đã từng sống về nghề họa, đã có triển lãm tranh thuốc nước. Hiện nay tôi giữ của anh một bức tranh bột màu “Trưa mùa gặt”, phía sau có ghi: “Ai mở ra xin giữ hộ tôi tranh này. Xin trân trọng cảm ơn. Quang Dũng”. Nghĩa là anh không biết tác phẩm của mình sẽ về tay ai. Phong cách Quang Dũng là vậy.
            Từ 1983 anh bị bệnh tim mạch, đi không vững, nói không rõ, dần dần bị liệt; anh sống nhờ vào lòng phục vụ tận tụy của chị và hai cháu Phương Hạ, Phương Thảo tại một căn nhà nhỏ khu Nguyễn Công Trứ, Hà Nội. Bạn bè nhiều người yêu quý anh, vẫn năng lui tới. Anh mất tại nhà lúc 22 giờ ngày 13 tháng mười 1988.

            Thơ Quang Dũng là một thứ ánh sáng biên giới.
            Biên giới giữa thực và mộng, giữa cái chung và cái riêng, kỷ niệm và ước mơ, giữa cảm hứng và kỹ thuật. Sự giao thoa ấy tạo cho anh một thế giới riêng, vừa lung linh vừa rắn rỏi, thướt tha mà tha thiết.
            Hãy xét cảm giác thực và mộng trong thơ Quang Dũng. Lấy Tây Tiến làm ví dụ đầu tiên.

                                  Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
                                  Quân xanh màu lá dữ oai hùm.


Những hình ảnh tỏa ra một ánh sáng truyền kỳ, huyền hoặc, lạ lùng. Những tráng sĩ da xanh như Đan Hùng Tín, đầu trọc như Võ Tòng, tung hoành giữa chốn rừng sâu, ma thiêng và thú dữ. Nhưng câu thơ dựa trên cảnh thực rất đau lòng: đoàn quân rụng tóc và da xanh vì sốt rét và thiếu ăn, thiếu thuốc men; số người chết vì bệnh tật cao hơn số thương vong trên trận địa. Chiến dịch Tây Tiến là một giai đoạn gian nan vào bậc nhất trong hai cuộc kháng chiến. Năm 1947-1948 ta nhất định chiếm vùng Tây Bắc vì những lý do chính trị, chiến lược và chiến thuật, như theo thư ngày 1-2-1947 của Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh gửi bộ đội Tây Tiến: “Nếu trong cuộc kháng Nhật chúng ta đã thành công với khu giải phóng Việt Bắc, thì trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta phải thành công với công cuộc Tây Tiến”. Nhưng thành công bằng cách nào khi ta không có hỏa lực, thiếu tiếp vận và nhất là thiếu dân. Chưa kể chiến lược lúc đó không phải là không có sai lầm.

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.


Mùa Xuân ấy, là đầu năm 1948, khi đơn vị Quang Dũng phòng ngự ở biên giới Việt – Lào, thì bốn đội vũ trang tuyên truyền mở đường lên Tây Bắc, và ba tháng sau, đại bộ phận đã bị đánh bật trở về. Những người sống sót đều gầy yếu bệnh tật.(2) là giai đoạn trung đoàn Tây Tiến của Quang Dũng được giải thể và nhường nhiệm vụ cho đoàn vũ trang công tác miền Tây (hè 1948). Và khi Quang Dũng ghi lại:

  Áo bào thay chiếu anh về đất
  Sông Mã gầm lên khúc độc hành


Thì không phải chỉ có khí vị tráng sĩ và anh hùng cá nhân, mà có cả thực tại đau thương. Nhiều chiến sĩ yêu tha thiết bài thơ này, không phải chỉ vì văn chương, mà còn vì những âm vang của chiến trận, của máu và nước mắt. Những đau thương thiêng liêng như vậy, mà mười năm sau (4-6-1958) Tố Hữu còn mang ra phê bình cái “tư tưởng sa đọa”, “văn hóa suy đồi”, “Sơn La gái đẹp, sông Mã cọp gầm”.(3)
Riêng với Quang Dũng, Tây Tiến không phải chuyện cọp gầm gái đẹp mà là những kỷ niệm sâu xa. Năm 1963, anh đi dự một hội nghị nông nghiệp tại Thanh Hóa, có dịp về ngang “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”, anh đã ghi lại những tình cảm thật cảm động: “Rừng Mai Châu riêng với tôi thực có nhiều kỷ niệm. Từ lúc gặp cây vàng anh, tôi đã nhớ lại tất cả những kỷ niệm mười lăm năm trước, khi chúng tôi hành quân lên giữ vùng biên giới Việt – Lào, ngăn bọn Pháp đang kéo từ Sầm Nưa về. Hôm nay đi dự hội nghị Cánh kiến đỏ, không ngờ lại được trở lại đúng con đường cũ, qua đúng những bản chúng tôi đã đóng quân, đã từng đi ăn cưới, uống rượu cần, diễn kịch lửa trại, mười lăm năm trước, vào mùa xuân năm đầu cuộc kháng chiến. Xe qua phố Vãng. Tôi nhớ lại lúc đóng quân ta rút bỏ phố Vãng đi về Mường Bi thì phố Vãng bốc cháy, giặc ở dốc Bãi Sang đang ào ạt kéo tới, đơn vị ta dàn ra ở cả dốc Văn đợi địch”.(4)
Trích dẫn dài như vậy, tôi mong người đọc hiểu thêm tâm hồn Quang Dũng và thưởng thức văn xuôi của anh, và hiểu thêm đoạn thơ bị kết án là sa đọa:

  Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
  Kìa em xiêm áo tự bao giờ
  Khèn lên man điệu nàng e ấp
  Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
  Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
  Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
  Có nhớ dáng người trên độc mộc
  Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa


(còn tiếp)
...
Все пройдет и печаль и радость
Все пройдет так устроен свет
Все пройдет только верить надо
Что любовь не проходит нет ..
23.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Đồ Nghệ

3.(tiếp Quang Dũng - Một thoáng mơ phai)


Thơ Quang Dũng gieo thoi giữa mộng và thực là như vậy. Tôi chọn ví dụ Tây Tiến  vì nhiều người biết và Quang Dũng yêu bài này nhất. Cũng có thể là  Đôi mắt người Sơn Tây.

  Từ độ thu về hoang bóng giặc
  Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn
  Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
  Em có bao giờ lệ chứa chan


“Hoang bóng giặc”, “điêu tàn”, “ngấn lệ”, “chứa chan”   là những từ ngữ kiểu cách, lãng mạn, cho ta có cảm giác khuôn sáo. Nhưng tình Quang Dũng thì chân thật: “đất đá ong”  là một ám ảnh thường xuyên của đời anh. Quê anh miền Sơn Tây có nhiều đá ong dùng xây tường sau này là những chiến lũy giúp người du kích chiến đấu:

  Chống Pháp
  ngày đêm những tháng ròng
  Đại bác xe tăng không thắng nổi
  Lũy tre Việt Nam
  và tường Sơn Tây đá ong.


Bài này anh làm 1969, hai mươi năm sau  “nhiều ngấn lệ”,  vậy những dòng “lệ chứa chan” trước đó không phải là tùy hứng. Và sau này nữa, trong bút ký “vào mùa chim ngồi dưới chân Ba Vì”, anh lại tả tỉ mỉ những bức tường đá ong thấm máu và nước mắt đồng bào, đồng chí: “cảnh ở đất Sơn Tây này chỉ đặc biệt có mấy nét đơn sơ: tường đá ong và những bờ giếng đá ong bên những lùm tre đuôi cáo thưa thoáng, điểm một màu xanh mát bên những con đường trung du đất màu son. Tường đá ong xưa… Những bức tường đá ong cao hơn đầu người, cướp nào cũng phải sợ. Đá ấy là loại đá ong đã kết thành khối, đập khỏe lắm chỉ có thể vỡ đôi. Bây giờ tường cũ không còn nữa rồi. Sau trận thứ tư, nó vào được làng và vây đúng một tuần để trả thù cái đất Vật Lại bằng cách đập đổ hết mọi tường đá ong, cứ cái gì cao trên đầu gối là nó cho mìn nổ, kỳ thành bình địa mới thôi…”.
Trong đôi mắt người Sơn Tây, cảnh thật, tình cũng thật đơn giản, cảm động:

  Mẹ tôi em có gặp đâu không?
  Những xác già nua ngập cánh đồng…
  Tôi cũng có thằng con bé nhỏ,
  Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông…


Mẹ đây, con đây là mẹ và con Quang Dũng, mà anh đã giã từ vào mùa xuân 1947 tại làng Phùng khi đi Tây Tiến. “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, nhưng lòng vẫn lo cho mẹ già con dại. Tình cảm tự nhiên nếu không phải là thiêng liêng, do đó mà rung động người đọc. “Em có gặp đâu không”, “bao nhiêu rồi” là những nghi vấn mông lung, nói lên niềm lo lắng; có khi là vô căn cứ, nhưng vẫn cứ lo, vào một thời điểm khó thông tin tức, như Hữu Loan đã tả:

  Ba người anh từ chiến trường Tây Bắc
  Được tin em gái mất
  Trước tin em lấy chồng


Yên Thao cũng mang tâm trạng như vậy khi nhìn sang làng mình bên kia sông, thuộc vùng địch đóng:

  Làng tôi bên kia trại thù quạnh quẽ
  Trông im lìm như một nấm mồ ma
  Có còn không em hỡi mẹ tôi già
  Những người thân yêu khóc buổi tôi xa.


Ở Quang Dũng, hình ảnh mẹ già con dại là một ám ảnh sâu sắc. Mãi về sau, năm 1973, anh có viết bài ký  Hoa lại vàng tháng Chạp về hậu quả khốc liệt của việc máy bay Mỹ B52 ném bom trên phố Khâm Thiên, giữa lòng Hà Nội. Anh đã chọn hai nạn nhân tiêu biểu, là một em bé bị mất một bàn chân, và một bà cụ trên bảy mươi tuổi, quê ở Bố Hạ, bị mảnh bom xuyên qua bụng. Như vậy, hình ảnh mẹ già, con dại đã bám sâu vào tâm tư Quang Dũng và có chức năng cấu tứ, sáng tạo, như một cấu trúc tạo hình (structure générative): đây là một vấn đề cần được đào sâu. Chỉ xét chức năng xúc cảm, thì hai hình ảnh trên gợi lên được cái phi lý tàn khốc của chiến tranh. Khối lửa không tha chừa ai cả, nhưng một bà già một em bé nạn nhân có cái gì tàn nhẫn, vì họ là hình ảnh cuộc sống mong manh mà con người phải bảo vệ. Sau này ta quen ca ngợi gương anh dũng của Bé Lượm, Bé Hòa, Mẹ Suốt, Bà Má Hậu Giang, mà quên rằng đó là hoàn cảnh bất đắc dĩ, do điều kiện tranh đấu bức bách tạo nên, chứ không phải là một tự hào, vì không một dân tộc bình thường nào mà tự hào đã đẩy những em thơ, mẹ già ra chiến địa.
Giữa cơn cuồng nộ của thời đại, bên cạnh tiếng gầm thét của bao nhiêu ghềnh thác, thơ Quang Dũng vẫn giữ cho chúng ta tiếng thầm thì đìu hiu lau lách, còn đang hỏi lại chúng ta:

  Có nhớ dáng người trên độc mộc
  Trôi dòng thác lũ hoa đong đưa


Giờ đây Quang Dũng là nhánh hoa vàng anh  đong đưa trên dòng Mai Châu tịch mịch
 

 QUANG DŨNG MŨI SÚNG BÊN NHÀNH CÚC DẠI

Những nhánh vàng anh đã đưa ta ngược dòng về đến Mai Châu; sẽ có những cánh hoa đào nào đưa ta vào tận Suối Mơ, nguồn sáng tạo của Quang Dũng?

  Đường ấy dừa trăng như cổ tích
  Đường vào những chuyện thưở ngày xanh
  (..) Giếng làng còn ướt trăng trên đá
  Chim ngủ xôn xao động lá cành.


Thực và mộng, nơi đây, cách nhau chỉ một sợi tơ trăng, giữa chuyện cổ tích và giọt nước long lanh trên thành giếng đá. Quang Dũng có tài thắp lên những ước mơ diệu kỳ trong tâm hồn người đọc, vì chính anh sống như mơ

  Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
  Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
  Thoáng hiện em về trong đáy cốc
  Nói cười như chuyện một đêm mơ.


Dòng thơ êm xuôi về một chữ mơ cuối nhánh. Ký ức quyện vào lòng sông, như đôi mắt sầu cô quạnh ứa những  dòng lệ thơ ngây. Khói thuốc nâng cánh mộng, và đáy cốc là niềm đón đợi, để hứng lấy một hạnh phúc đang rạn vỡ thành những mảnh vụn nói cười nhọn sắc và nhức nhối. Không gian bầm ứ dưới đáy cốc, một thứ cốc chạm khắc trong ngọc đá Trương Chi. Sông xa lớp lớp. Buổi sớm chớm heo may. Buổi chiều mờ mưa bụi. Rồi đêm. Rồi đêm đêm, “đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ”. Rồi chia ly, cách trở. Xa, xa quá:

  Xa quá rồi em người mỗi ngả
  Bên này đất nước nhớ thương nhau
  Em đi, áo mỏng buông hờn tủi
  Dòng lệ thơ ngây có dạt dào.


Đôi bờ, một giấc mơ đẹp và buồn. Cuộc chia tay giữa người con gái về Tề và người yêu ở lại kháng chiến, đã báo hiệu cho những cuộc chia ly lớn lao hơn nữa của lịch sử, một con đường hai mươi năm, dài bao chia ly.
Người ra đi, mang theo đôi mắt:

  Vầng trán em vương trời quê hương
  Mắt em dìu dịu buồn Tây phương.


Đừng ai hỏi Quang Dũng tại sao cô gái quê hương lại buồn Tây phương! Con sông, đến đó, đổi màu, thế thôi. Hay Tây phương đây là Xứ Đoài mây trắng lắm  của Quang Dũng, người đã rắc hoa mời cô gái bước vào chung một giấc mơ.

  Đôi mắt người Sơn Tây
  U uẩn chiều lưu lạc
  Buồn viễn xứ khôn khuây
  (…) Em mơ cùng ta nhé
  Bóng ngày mai quê hương
  Đường hoa khô ráo lệ
  (…) Bao giờ ta gặp em lần nữa
  Thưở ấy thanh bình chắc nở hoa
...
Все пройдет и печаль и радость
Все пройдет так устроен свет
Все пройдет только верить надо
Что любовь не проходит нет ..
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Đồ Nghệ

4.(Tiếp "Quang Dũng - Một thoáng mơ phai")

Đôi mắt đẹp, mơ một đường hoa, là giấc mơ trong một giấc mơ. Tuy nhiên những mộng ước hướng về tương lai không nhiều lắm trong thơ Quang Dũng; giấc mơ Quang Dũng thường là hồi quang của quá khứ, bài Tây Tiến là một ví dụ. Dĩ nhiên, bài thơ nào mà chẳng là hồi quang, nhưng ở Quang Dũng nó là đặc tính, như một tia sáng xuyên qua màn sương ký ức. Không phải vì tình cờ mà hai bài thơ đắc ý của anh đều bắt đầu trong hơi sương: đoàn quân Tây Tiến dừng chân một đêm sương lấp, trung đoàn thủ đô ra đi trong một đêm sương muối: tháng  chạp màn sương trùm Đất Nước.
Chiến dịch Tây Tiến thăng hoa qua ký ức đã rực lên ánh lửa hùng tráng trong một giấc mơ hoa: Mường Lát hoa về… nước lũ hoa đong đưa… doanh trại bừng lên hội đuốc hoa. Và phải nhìn bằng ảo mộng mới thấy súng ngửi trời, xiêm áo nàng e ấp, áo bào thay chiếu. Mùa xuân ấy trong bài thơ không phải chỉ là một thời điểm lịch sử đầu năm 1948, mà là mùa xuân của đất nước và tuổi trẻ đầy hoa mộng của một thế hệ hào hùng.

  Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
  Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm


Câu thơ mang tâm trạng một lớp thanh niên đi kháng chiến với bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa (Chính Hữu), vì vậy dù bị phê bình vẫn được yêu, nhớ và truyền tụng. Và Quang Dũng vẫn e ấp những hình ảnh bay bướm như thế, năm 1956 anh còn ghi lại:

  Tôi hành quân lên đường
  Ngày tháng nhớ chia ly
  Đuôi mắt vời trông  nếp áo


Quang Dũng là một tâm hồn mơ mộng, ngay cả khi cầm súng. Anh thừa biết thơ anh thiếu tác động chiến đấu, không có thép như thời đại đã đòi hỏi, nhưng vẫn làm thơ bằng tâm hồn mình, nghĩa  là bằng nắng lụa trăng tơ, với khói thương sương nhớ. Người ta trách anh đã để cho súng ngửi trời thay vì “nhắm thẳng đầu thù mà bắn”, anh biết vậy, mà vẫn mơ màng một lần phục kích:

  Nhớ một con đường biên giới
  Nằm chờ giặc qua
  Mũi súng kề bên nhành cúc dại
  Sương rung  rinh…


Bài thơ làm năm 1954. Cuộc chiến đấu “ba ngàn ngày không nghỉ” để lại trong lòng Quang Dũng một nhành cúc dại: cũng như để lại trong lòng Nguyễn Đình Thi những cành hoa nghệ xôn xao nở tím hồng giữa trận Điện Biên Phủ đất trời mờ sắt thép, chớp giật xé ngày đêm.
Thật sự, khi cầm súng, Quang Dũng và Nguyễn Đình Thi – đánh giặc chưa chắc đã thua ai, nhưng trong thơ, có người đã chê thơ anh thiếu lửa, nhưng chúng ta yêu họ, vì họ còn đủ lương thực để nuôi dưỡng trong tâm tư một vài cành hoa dại.



Giấc mơ Quang Dũng có khi nảy sinh từ thực tại. Nhìn những cô hàng xén ven sông Đáy, anh mơ thấy cả một quê hương ngàn xưa, và đã tạo ra những hình ảnh tuyệt vời:

  Cô hàng xén gánh về
  Tiếng cười khúc khích


hay là:

  Hoa lan vào ngõ tối còn thơm
  Các cô hàng xén về làng


Tiếng cười đầy gánh hoa lan thơm mùi cô hàng xén, thơn cả bóng chiều, là những ẩn dụ tinh tế làm ánh lên màu sắc quê hương:

  Chiều tím cuối mùa xuân
  Sông nước trong xanh
  Những bước chân tròn cát mịn
  Hàng cau chiều phất phơ


Nhìn cảnh Ba Vì quê mình, anh gắn bó với hiện tại qua hơi thở mong manh của vũ trụ:

  Hãy nghe êm ả tiếng mùa xuân
  Thở nhẹ cành non đang nảy lộc


nhưng đồng thời Quang Dũng cùng sống lại huyện sử xa xôi của đất nước:

  Ở đâu phẳng phất khí Phong Châu
Đám cưới Sơn Tinh về bến nào
  Ở đây trong sáng ngày ca dao


Quang Dũng rất yêu rừng và đã viết nhiều bút ký đặc sắc về rừng. Rừng là một tài nguyên của đất nước, rừng lại là nguồn suy cảm bao la, là ký ức, là tương lai cuộc sống.

  Từng cho hơi thở nghìn năm sống
  Từng biếc màu nuôi đất vững bền
  Từng có hôm nay, Rừng vẫn đó
  Tiếng rừng hay tiếng mẹ ru êm?


Rừng là một thực tại cụ thể:

  Đinh, lim, sến, táu tuổi đầy tôi
  Chò chỉ, chò nâu cao sánh núi
  Hôm nay cây chứa đến vai người


Rừng là lịch sử: Rừng Lam Sơn, Rừng Bắc Giang, rừng rộn Tiến quân ca, rừng đi vào Hà Nội: trấn thủ còn mang vị núi đồi.
Rừng hứa hẹn với mai sau:

  Em gái đời sau tìm gỗ quí,
  Buông cưa nguyên tử mắt xa vời:
- “Những cây cổ thụ này
Cha, chú
Đã trồng từ thế kỷ hai mươi”
..........
Em ơi! Công nhân đời mai sau,
Em nghe rừng nổi gió thì thào,
Có tiếng đời nay trong tiếng ấy,
Qua rừng cây trẻ nắng lao xao.


Rừng là một chủ đề mới trong văn học Việt Nam, và chỉ trong khoảng mươi năm, đã tạo được nhiều bài thơ hay – từ Xuân Diệu đến Phạm Tiến Duật, nhưng người mê rừng vào bực nhất là Quang Dũng, vì rừng đáp lại nhiều sở thích của nhà thơ: tình yêu thiên nhiên và đất nước, lòng han thích xê dịch, óc phiêu lưu chuộng cảnh huyền bí bao la. Nhưng anh khó diễn tả được sâu sắc xu hướng ấy qua khuôn khổ của thơ - nhất là thơ theo đường lối, nên anh viết nhiều bút ký về rừng Vũ Lễ, rừng Quỳ Châu; trong ký Rừng về xuôi, Quang Dũng có ghi mấy câu thơ tả cảnh trồng tre, xoan để gây lại rừng:

  Đêm đêm cựa mình trong đất sỏi
  Mầm cây gốc cỏ đã sinh sôi
  Cá nép treo xoan ngoi bóng mát
  Mương đưa lá rụng nước reo vui.


Muốn thưởng thức đôi mắt tinh vi và óc tưởng tượng phong phú, nét bút tài hoa và hóm hỉnh, lòng yêu người và yêu đời của Quang Dũng, ta cần đọc văn xuôi của anh, ít nhất là đọc tập truyện ký Nhà đồi, Ký ngày đêm và mùa xuân trên Đại Hồ tả cảnh hồ Thác Bà ở Hà Tuyên, một cảnh nhân tạo có đập nước lớn, nhà máy thủy điện. Quang Dũng tưởng tượng những phong cảnh dưới đáy hồ.
Tôi biết chắc chắn ở dưới đáy, nơi bè đậu này, chính là con đường mà xưa kia người ta gánh cam gánh quýt, gánh bưởi đi về một phiên chợ Ngọc. Cái tiếng a a của một phiên chợ đang đông… Nhưng không, chỉ còn hồ và trăng sáng. Trăng trên hồ bao giờ cũng đẹp. Nó lại gợi chúng ta trăng trên sông. Ở đáy hồ, quãng này là con sông Chảy. Khi nước ngập vào, hồ đã biến dòng sông ở quãng này thành con sông cổ tích nằm dưới thủy cung. Con sông có những vườn cam hai bờ, mùa thagns chạp này, vàng đỏ chĩu cành, như những đốm lửa báo hiệu mùa xuân. Người ta đã hái đĩa cam đầu mùa, thắp hương cũng tổ tiên, rồi đem biếu bà con thân thuộc. Con đường vàng nắng và trắng trụ ấy, giờ cũng nằm sâu đáy nước, cùng với những mùa lúa vàng hai bên. Ở đấy đã từng có những mùa gặt…
Từ mặt hồ, nhà thơ đã hái tặng cho đời bao nhiêu hoa trái! Từ hồ, đến con đường, gánh cam, phiên chợ, dòng sông, vườn cam, bàn thờ, mùa lúa vàng… Những đóa hoa mơ lần lượt nở, từng đóa, từng đóa, nở trắng trên cành thực tại.

  Nhớ một xóm rừng
  Hoa mơ nở trắng
  Xuân về,
  Áo người mới nhuộm chàm xanh


Yêu rừng là yêu cây; và yêu người trồng cây. Bài thơ Mười hai cô gái trồng cây làm trong phong trào trồng cây gây rừng tại miền Bắc vào khoảng 1970

  Chim chưa dậy, gà chưa gáy canh đầu
  Rá đã thơm mùi cơm mới dỡ
  Ăn trong lửa bếp nực than hồng
  Còn tưởng bữa ăn trong giấc ngủ


Hơi thơ tự nhiên, hình ảnh bình dị: mùi cơm, ánh lửa, buổi sáng chập chờn, đúng là khí hậu Quang  Dũng. Nhưng thực thế thì đoạn thơ tà cảnh các cô gái phải dậy sơm thổi cơm, còn ngái ngủ và vừa ăn vừa… ngủ gật: “bữa ăn trong giấc ngủ” nghĩa là thế, mà hình ảnh vẫn tỏa được chất mơ cho câu thơ. Và cũng những cô gái ấy “chân đi tất xanh, ủng lâm nghiệp” đẹp như cô Tấm làm rớt chiếc hài trong chuyện Tấm Cám, tương phản với đôi ủng lao động thô sơ của cơ quan lâm nghiệp một nước nghèo.
Vẫn cái nhìn mơ mộng ấy đã lý tưởng hóa cảnh lao động của công nhân cầu đường mở lối trên đèo Pha Đin:

  Đẹp như sơn thủy tranh đời Tống
  Ầm tiếng xe lu vách đã vọng
  Mờ ảo công trường hiện dưới lau,
  Đôi hạt cầu đường lán lưu động,
  Còn bay than bếp dưới hoa đào.


Khi tả một cánh đồng muối, Quang Dũng đã ghi lại hình ảnh một giếng hoa nở bát ngát bên cạnh những bàn tay lao động cướp nắng làm ra hột muối trắng. Thậm chí chuyện những công nhân lâm nghiệp ăn no rồi ngủ trưa cũng thi vị:
  Độ nghỉ dừng trưa vo gạo suối,
  Ba lạng cơm vàng thịt nướng khô.
  Trưa rồi lau lách chim ru mộng
  Báo rọc lưng vời trong tiếng thơ.

Cần hiểu rằng người ta dùng tờ báo che mặt để… ngủ trưa.



Phân biệt thực và mơ, như chúng ta vừa làm, chỉ là một thủ thuật tùy tiện: áp dụng thành quy mô, nó có tác dụng giản lược nguy hiểm, vì trong thơ, biên giới giữa thực tế và mộng ảo, không dễ gì phân định cho minh bạch. Người mình có chữ thơ mộng rất hay, vì kết hợp hai khái niệm thành một thực tại duy nhất khác với chữ thi vị trong từ trường Hán – Việt. Một phong cảnh có thể đẹp rực rỡ, hùng tráng, ảm đạm hay thơ mộng: một chuyện tình thơ mộng có vẻ đẹp nòa đó. Bachelard đã đi sâu vào đề tài này trong nhiều tác phẩm, nhất là cuốn Poétique De La Rêverie làm nổi bật năng lực tạo hình của trí tưởng, và từ đó đi vào bản chất của thơ. Học được nguyên lý đó, chúng ta đỡ mất thì giờ trong công việc phù phiếm của các nhà phê bình hiện thực, chủ trương giải thích văn chương bằng thực tại, xã hội, lịch sử, tâm lý. Họ sẽ chứng minh rằng nhà thơ, nhà nghệ sĩ cũng chỉ là những người thường, sản phẩm của xã hội, trong khi đó phê bình văn học phải lãnh một trách nghiệm khó khăn và lý thú hơn, là giải thích làm sao một con người thường, lại trở thành nhà thơ, nhà nghệ sĩ.
Nghich lý Quang Dũng có thể làm khởi điểm cho một suy nghĩ như vậy. Mơ mộng không phải là chán đời, dù chán chê hay chán ghét. Tản Đà là người làm nhiều thơ chán đời nhất và là người ham sống, sống say sưa nhất. Thơ Quang Dũng thường buồn, có chất gì bâng khuâng, ảm đạm, nhưng anh là người vui tính, yêu đời, yêu cuộc sống, yêu tuổi trẻ. Năm 1983, khi đã có triệu chứng bệnh tim mạch, anh vẫn thích đi chơi, vào tận Lâm Đồng lấy cớ là đi thăm con gái. Xuyên suốt xứ thơ Quang Dũng là những con đường, những Đường Trăng và Đường Chiều Thứ Bảy, Đường 12 mênh mang đầu vết đạn bom, đến Đường Mai Hà Nội gió xênh xang với đường xa xa… mơ mơ núi mà mây khi rời khỏi Quán Bên Đường. Con đường là vết chân của loài người còn lưu lại trong ký ức của thiên nhiên – và của nhà thơ:

  Dọc những đường thu nhiều kỷ niệm:
  Đường lên phương Bắc nhớ nhung ai,
  Đường về Nam Bộ bao trông ngóng,
  Hiền hậu non xanh với biển dài.
  Dọc những đường thu muôn nẻo ấy,
  Rất nhiều nghệ sĩ nhớ xa xôi,
  Đường qua gian khổ bao ngày tháng
  Từng nghe thu lại ấm hương đời
     (1962)


Đi, vì ham vui và tham sống. Trên những đường, những lối, những nẻo, những đèo, những dốc nghìn thước lên cao đến đỉnh ước mơ, hay nghìn thước xuống đáy tâm tư, Quagn Dũng đã bao lần chia tay một Tản Đà đồng hương và đồng bệnh, một Nguyễn Tuân đồng hội, đồng thuyền?
Tập thơ Mây đầu ô trả những cụm hoa về những chân trời. Tập thơ mở ra bằng con đường, qua Kỳ Sơn đầy hoa trẩu rụng, và khép lại bằng con đường qua Hồng Phú, Châu Giang. Nơi đây, Quang Dũng đã chia tay chúng ta. Với lời dặn dò: nhớ một chặng đường


14.1.1989
(Nói chuyện nhân buổi tưởng niệm Quang Dũng tại Paris ngày 4.12.1988.
ĐẶNG TIẾN.)
-----------------------------------------------------------------------
(1)Trận đánh ba mươi năm- Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983,tr.285
(2)Như trên, tr.289
(3) Tố Hữu, Xây dựng một nền văn nghệ lớn – Nxb Văn học, Hà Nội, 1973, tr.157.
(4) Quang Dũng, Nhà đồi – Nxb Văn học, Hà Nội, 1983, tr.300
...
Все пройдет и печаль и радость
Все пройдет так устроен свет
Все пройдет только верить надо
Что любовь не проходит нет ..
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Quang Tri

Cảm ơn tác giả đã cung cấp tư liệu này để chúng ta hiểu rõ hơn một nhà thơ tài hoa của một thời.Tôi rất yêu thích thơ của Quang Dũng,đọc và thấy say cách dùng từ tài hoa của ông trong từng câu thơ.Xin cảm ơn.Tuy nhiên khi đọc đoạn thơ của bạn Vân Hạc viết về bài đôi bờ:
"Khi chớm heo về một sớm mai ?
Rét mướt mùa sau từng xuất ngự"
Tôi đọc bài thơ "Đôi bờ" này cách đây khá lâu,khoảng năm 69,70 thế kỉ 20,lúc đó tôi là sinh viên mới bước vào cổng trường học đại.Tôi đọc một tư liệu viết về Quang Dũng của nhà văn Vũ Bằng hình như khác đi:
"Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự" mà tôi nghĩ đây là một câu dự báo thời tiết của QD,nói về một mùa đông sắp đến,còn tôi không hiểu "Từng xuất ngự"có nghĩa thế nào.Xin có vài dòng chia sẻ và mong các bạn góp ý.Thân
Hoa đào ngày cũ còn đâu nữa,
Thấp thoáng bên song một đoá hồng.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Đồ Nghệ

.

Những câu chuyện phía sau bài thơ “Tây tiến”


Lâm Bình
Giống hệt như trong "Chữ người tử tù" của nhà văn Nguyễn Tuân, ông tỷ phú nọ ngỏ lời mời Quang Dũng vào Sài Gòn chơi một chuyến để ông ta được ngồi cùng đàm đạo.

Hầu hết những thế hệ học trò ngày nay đều từng được học bài thơ Tây tiến  của Quang Dũng - một tác phẩm ra đời từ những năm 40 của thế kỷ trước, nhưng đến nay vẫn được đánh giá là có sức lôi cuốn cả một thế hệ thanh niên.
Những câu chuyện xung quanh  Tây tiến  dưới đây được chính nhạc sĩ Quang Vĩnh - con trai cả của cố nhà thơ Quang Dũng - hiện sống tại Thái Nguyên, kể lần đầu tiên.

http://i682.photobucket.com/albums/vv185/btmit2006/quangdung-Nhatho1a.jpg
Nhà thơ Quang Dũng.



Tây tiến đã “bị” sửa như thế nào?

Quang Dũng tham gia đoàn quân Tây tiến năm 1947 và hành quân lên Tây Bắc với nhiệm vụ phối hợp với bộ đội nước bạn để bảo vệ vùng biên giới Việt Lào.

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm


Ban đầu, bài thơ được Quang Dũng đặt tên là Nhớ Tây tiến. Ông sáng tác rất nhiều, nhưng không hiểu sao lại trăn trở nhất với riêng bài thơ này.
Ông Quang Vĩnh kể lại, nhiều lần, ông thấy cha mình ngồi rất lâu trước một cuốn sổ tay băn khoăn về cái tít vỏn vẹn có 3 chữ ấy. Có lẽ Tây tiến  là một kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của Quang Dũng nên bài thơ thấm đẫm linh hồn đoàn quân hào hoa ngày nào, ông luôn muốn có một sự chỉn chu đến từng câu chữ.
Cuối cùng, Quang Dũng lấy bút bỏ đi chữ “Nhớ” . Dù còn nhỏ, nhưng ông Vĩnh cũng buột miệng hỏi sau khi thấy cha “bóp trán” hàng năm trời mà chỉ sửa được vọn vẹn duy nhất một chữ: “Chữ 'Nhớ' đâu có ảnh hưởng nhiều đến vần điệu bài thơ sao bố nghĩ gì mà lâu thế?”. Quang Dũng chỉ cười mà rằng: “Tây tiến, nhắc đến là đã thấy nỗi nhớ rồi. Thế nên để chữ nhớ là thừa. Không cần thiết nữa con trai ạ”.
Đến quãng năm 1956, có lẽ vẫn chưa “dứt duyên” nổi với  Tây tiến, một buổi sáng Quang Dũng lại mang cuốn sổ thơ của mình ra “ngâm cứu”. Rồi như cần đến một người tri kỷ, Quang Dũng gọi con trai lại và hỏi: “Con đọc cho bố nghe cả bài thơ rồi cho nhận xét xem nó thế nào”. "Khi ấy tôi còn rất nhỏ" - ông Vĩnh nói - "mới học lớp 7 nên nào biết cảm nhận văn chương thơ phú nó ra làm sao, thậm chí đọc bài thơ ấy còn thấy hơi... ngang ngang".
Tuy vậy, nhưng ra vẻ con nhà nòi, ông Vĩnh cũng “phán” bừa một câu rằng: “Con thấy câu  Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người  nghe nó cứ “chối” thế nào. Hay bố thay cái địa danh khác vào nghe cho nó hợp chứ Mường Hịch nghe nặng nề quá”.

http://i682.photobucket.com/albums/vv185/btmit2006/quangdung-Nhatho2.jpg
Bút tích bài thơ "Tây Tiến".


Thực ra lúc ấy ông Vĩnh chỉ thấy nó có vẻ không vần điệu lắm với khổ thơ trên, nhưng nghe vậy Quang Dũng ngần ngừ một lát, rồi suy tính thế nào lại mỉm cười nói, thế thì không ổn con trai ạ.
Mãi về sau ông Vĩnh mới vỡ lẽ ra cái sự ngần ngừ không ổn ấy bắt nguồn từ một nguyên do, Mường Hịch còn là một địa danh gắn liền với kỷ niệm bất ngờ của cha mình. Trong một lần hành quân, đoàn quân Tây tiến đã dừng chân ở Mường Hịch, gần sông Mã. Người dân nơi đây kể cho Quang Dũng về một con cọp đã thành tinh chuyên bắt người ăn thịt. Rất nhiều dân lành đi rừng đã bị con cọp này vồ mất xác.
Thấy bộ đội có súng nên một số người dân ngỏ lời nhờ bộ đội Tây tiến diệt trừ giúp. Vốn là người gan dạ, khỏe mạnh, mới nghe thế máu mã thượng trong người Quang Dũng đã bốc lên. Ông gọi một số anh em trong đơn vị lại rồi lấy một con lợn trói tại gốc cây làm mồi bẫy, còn bản thân cùng anh em chia nhau nấp đợi hổ về.
Nửa đêm, dân làng nghe thấy mấy tiếng súng vọng lại từ rừng già, rồi sau đó là tiếng hổ gầm điên loạn, gần sáng thì thấy Quang Dũng dẫn đầu một tốp bộ đội hớn hở tìm về, người ngợm ướt đẫm sương.
Mãi sau này người ta mới biết, lúc bị thương con hổ điên cuồng chống trả, Quang Dũng phải nổ mấy phát súng mới kết liễu được nó. Vậy mà cái địa danh đáng nhớ ấy, suýt nữa thì ông Vĩnh cắt mất của cha mình.

Quang Dũng... còn sống

Mặc dù có người cha là cây bút được đánh giá là “nhà thơ mang trong mình dòng máu lãng du vào loại bậc nhất trong thi đàn đất Việt thế kỷ XX” nhưng ông Quang Vĩnh không bao giờ khoe khoang điều đó. Với đám con của mình, ông luôn dặn, ra ngoài đừng bao giờ vỗ ngực là cháu của Quang Dũng cả. Chính vì thế mới xảy ra câu chuyện nực cười.
Đó là khi con gái ông, chị Bùi Phương Lê ngày còn đi học phổ thông, một hôm học đến bài thơ Tây tiến của ông nội. Thực ra, chị Phương đã đọc bài thơ này tới cả trăm lần, đã được cha kể lại cho hàng trăm lần về những kỷ niệm của ông nội trên đường ra trận. Tiết văn học hôm đó, cả lớp học cũng đặc biệt hứng thú với bài thơ.
Học sinh đưa ra rất nhiều câu hỏi về nội dung bài thơ cho thày giáo. Và để chứng minh mình là người am hiểu, ông thày hôm đó đã cao hứng kể: Mới tuần trước tôi còn ngồi với Quang Dũng dưới Hà Nội. Rằng câu chuyện về đoạn thơ này, nhà thơ Quang Dũng lấy tứ ở đâu, khổ thơ kia lấy cảm hứng chỗ nào. Chính Quang Dũng tâm sự với tôi như thế. Tóm lại là nghe... như thật.

http://i682.photobucket.com/albums/vv185/btmit2006/quangdung-Nhatho-vo.jpg
Vợ và con trai của nhà thơ Quang Dũng.



Mặc dù rất băn khoăn, nhưng khi đó chị Lê cũng phải sững sờ vì khi đó Quang Dũng đã mất được chục năm. Hết giờ học, chị về kể lại điều đó với ông Vĩnh. Không chỉ riêng ông Vĩnh mà cả nhà đều tròn xoe mắt. Riêng bà Bùi Thị Thạch - vợ nhà thơ Quang Dũng - bây giờ vẫn ở chung với con giai trưởng thì cười độ lượng: “Ông mày làm một bài thơ mà bây giờ thành bất tử. Thế là hơn đứt nhiều người rồi còn gì”.
Tất nhiên, câu chuyện Quang Dũng đột nhiên sống lại trong một tiết văn học của học sinh cấp III đến nay chỉ có gia đình nhà thơ biết và mỗi khi nhắc đến những kỷ niệm về Quang Dũng, bà Thạch vẫn tường thuật lại câu chuyện đó như một cách trách yêu ông chồng tài hoa của mình.

Bài thơ  Tây tiến đáng giá bao nhiêu?

Bút tích  Tây tiến của Quang Dũng với nét chữ nắn nót như học trò, bây giờ vẫn được lưu giữ tại nhà ông Quang Vĩnh ở Thái Nguyên.
Ông Vĩnh kể, khi mới ra đời, bài thơ này gây được tiếng vang rất lớn bởi khi đó đại đa số chiến sĩ trong đoàn quân Tây tiến là trí thức, học sinh, sinh viên Hà Nội. Nét hào hoa trong từng câu chữ nói về đoàn quân “xanh màu lá” khiến cho không ít thiếu nữ Hà thành có người yêu là lính Tây tiến phải nhỏ lệ.
Chính vì vậy, cho đến mãi tận sau này, có lẽ đây là bài thơ duy nhất của người lính miền Bắc được ngay cả những người lính cộng hòa miền Nam yêu thích chép lại trong sổ tay. Nhiều nhà xuất bản dưới thời Việt Nam cộng hòa cũng cho in hàng loạt.
Mỗi lần in xong, không biết bằng cách nào, nhưng họ đều gửi sách biếu đến tận nơi. Tuy nhiên, để tránh những hiểu lầm, Quang Dũng đều mang đốt sạch.
Sau này khi đất nước hoàn toàn thống nhất, bỗng một hôm gia đình Quang Dũng nhận được một lá thư gửi đến từ địa chỉ không quen biết. Nội dung trong thư là chuyện của một tỷ phú đất Sài Gòn. Giống hệt như trong  Chữ người tử tù  của nhà văn Nguyễn Tuân, ông tỷ phú nọ ngỏ lời mời Quang Dũng vào Sài Gòn chơi một chuyến để ông ta được ngồi cùng đàm đạo.
Trong thư, ông tỷ phú tha thiết đài thọ toàn bộ mọi phí tổn chuyến đi, những mong Quang Dũng vào đó và tự tay chép tặng ông ta bài thơ  Tây tiến để ông ta treo tại bàn làm việc. Lẽ ra với một người hâm mộ thơ của mình như thế thì có lẽ cha tôi cũng đã “chẳng phụ một tấm lòng tri kỷ trong thiên hạ” - ông Vĩnh kể.
Thế nhưng, cuối lá thư, ông tỷ phú nọ lại “dại dột” tái bút: Nếu được ông chiếu cố vào viết tặng cho bài thơ  Tây tiến  thì thù lao chí ít cũng phải là một chiếc Honda. Ngoài ra, nếu ông có thể tặng thêm cho vài câu thơ khác thì số quà tặng còn giá trị hơn rất nhiều.
Đọc xong lá thư - ông Vĩnh kể tiếp - cha tôi chỉ cười nhạt mà rằng: “Văn chương chữ nghĩa rẻ rúng đến thế ư?”. Rồi có lẽ câu chuyện gạ “bán thơ” ấy ông cũng quên khuấy mất trong mớ ngẫu sự thường ngày.
Bằng chứng là sau năm 75 khi có dịp vào Sài Gòn thăm chị gái, ông cũng chỉ ở rịt trong nhà chẳng đi ra đến ngoài. Duy nhất có một lần bà chị gái ép Quang Dũng đi chơi phố thì ông nhất định đòi phải cải trang ăn mặc thành một tay chơi đất Sài Gòn rồi mới chịu bước chân ra đường. Ấy thế mà vẫn có người nhận ra.
Lần đó Quang Dũng đứng chọn sách trong một tiệm bán văn hóa phẩm, một người đàn ông trung niên đi ra bỗng vỗ vai ông hỏi: “Ông có phải Quang Dũng - tác giả  Tây tiến  không, tôi nhìn giống bức ảnh trong cuốn sách ở nhà lắm”. Ông Vĩnh kể, không hiểu cha tôi học tiếng Nam khi nào mà ông trả lời ngay: “Ông nhầm rồi, tôi ở Bạc Liêu mới zô”.
Ông Vĩnh nói vui: Có lẽ cha tôi lại sợ có người gạ “bán thơ” nên mới không dám nhận như thế. GS Hoàng Như Mai cũng kể lại: “Sau giải phóng, tôi vào Sài Gòn giảng bài, có đọc sách báo cũ. Về Hà Nội, tôi bô bô với Quang Dũng: Này ông, ở Sài Gòn họ ca tụng ông ghê lắm. Quang Dũng vội xua tay: “Thôi xin ông, ông đừng nói với ai nhé”.
Mặc dù “giàu thơ” như thế, nhưng Quang Dũng lại có cuộc sống hết sức đạm bạc. Bà Thạch, vợ nhà thơ nhớ lại, năm 1960 có một phái đoàn văn hóa nước ngoài sang Việt Nam cứ nhất định đòi đến thăm tư gia tác giả  Tây tiến.
Căn nhà bé tí tẹo của ông ở 91 Lý Thường Kiệt lại... hơi tồi tàn nên cơ quan “tạm” chuyển ông tới 51 Trần Hưng Đạo, nay là trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, cho đẹp mặt.
Có lẽ muốn giữ thể diện cho những nhà thơ Việt Nam trong con mắt khách nước ngoài nên Quang Dũng đành chấp nhận màn kịch ấy.
Ngay cả đến khi bị liệt, Quang Dũng cũng dạo chơi phố phường Hà Nội lần cuối trên chiếc xe lăn do bạn bè nước ngoài gửi tặng. Cho đến tận những ngày cuối đời nhà thơ hào hoa này vẫn chọn cho mình một cuộc sống thanh bạch.

(Nguồn: An Ninh Thế Giới)
...
Все пройдет и печаль и радость
Все пройдет так устроен свет
Все пройдет только верить надо
Что любовь не проходит нет ..
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Đồ Nghệ

Xin giới thiệu thêm một hướng cảm nhận thơ Quang Dũng

Hiểu đúng chữ  “Hoa”  trong bài thơ  “Tây Tiến”


"Tây Tiến” là bài thơ nổi tiếng của nhà thơ xứ Đoài  Quang Dũng. Nói đến "Tây Tiến", người ta nói đến một thứ ngôn ngữ thơ tài hoa, đậm màu sắc bi tráng và lãng mạn.

Bài thơ có nhiều hình ảnh đẹp, nhiều câu chữ xuất thần. Chữ “Hoa” xuất hiện ba lần trong toàn bài, đạt tới sự thăng hoa của cảm xúc nhưng nhiều người chưa hiểu thật đúng và sâu sắc ý thơ.
Chữ “Hoa” thứ nhất xuất hiện trong dòng thứ 4, khổ 1 của bài thơ gợi ra nhiều cách hiểu khác nhau:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát Hoa về trong đêm hơi”

Chữ “Hoa” trong hình ảnh “Hoa về trong đêm hơi” ở câu thơ trên có nhiều người (nhất là học sinh) hiểu theo nghĩa: Đoàn quân Tây Tiến về Mường Lát trong đêm mang theo cả hương hoa rừng. Cách hiểu thứ hai nghiêng về nghĩa vốn có của từ “Hoa” nghĩa là bông hoa rừng. Khi phân tích, bình giảng cũng có người hiểu theo nghĩa “Hoa” chính là hình ảnh ẩn dụ chỉ các chiến sĩ Tây Tiến. Đôi khi người ta cũng cho rằng đó chỉ là một thủ pháp lạ hóa ngôn từ của Quang Dũng mà thôi. Sách giáo khoa không có phần chú thích chữ này, và thực tế cho thấy, khi tìm hiểu bài thơ, ít có nhà nghiên cứu, hay người viết nào luận bàn thật sâu sắc từ này, vì chưa hiểu rõ nên người ta thường bỏ qua vẻ đẹp của nó.
Nhìn lại một số cách hiểu từ “hoa” như trên, tôi cho rằng chưa thỏa đáng. Cách hiểu thứ nhất là cách hiểu suy diễn, vì ở đây không hề xuất hiện từ “hương”, do đó không thể hiểu là “Hương hoa”. Theo cách hiểu thứ hai, đặt trong văn cảnh bài thơ, đoàn quân Tây Tiến về Mường Lát trong đêm, chữ “Hoa” với nghĩa là “Hoa rừng” tỏ ra không phù hợp vì trong đêm tối, nhất là đêm hơi, đêm sương nhà thơ dù tinh tế đến đâu cũng không thể nhìn thấy vẻ đẹp của hoa. Cách hiểu thứ ba, mới nhìn có vẻ hợp lý hơn hai cách trước, tuy nhiên, trong văn học, người ta thường lấy hoa làm biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ, chứ không thấy “Hoa” là biểu tượng cho người lính bao giờ. Vì thế, cũng không nên hiểu theo cách đó. Còn nếu nói, đó chỉ là thủ pháp lạ hóa về ngôn từ của nhà thơ, thì chỉ đúng phần nào, vì dù lạ hóa đến mức nào, ngôn từ cũng phải mang trong nó một ý nghĩa, một hàm ý nào đó.
Theo “Từ điển tiếng Việt” chữ “Hoa” đứng một mình mang tới 7 nghĩa, nhưng áp vào trường hợp trên, tôi thấy không có từ nào phù hợp. Chữ “Hoa” trong từ ghép có tới 51 từ, trong đó chỉ có 2 từ là “Hoa đăng”,”Hoa đèn” hay “Hoa chúc” (Từ điển Hán Việt - Đào Duy Anh) mang tính chất phù hợp hơn cả. Nhưng ta nên lý giải như thế nào để đúng với bài thơ?
Đi tìm một cách luận giải hợp lý, tôi cho rằng để hiểu chữ “Hoa” thứ nhất ta nên bàn thêm về chữ “Hoa” thứ hai trong khổ thơ tiếp theo:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ"

Chữ "Hoa" ở đây đặt trong từ “đuốc hoa” (hoa chúc), nghĩa là những ngọn đuốc trong đêm liên hoan của các chiến sĩ Tây Tiến với đồng bào dân tộc miền Tây. Ngọn đuốc đối với những người lính hành quân trong rừng đêm vừa là phương tiện soi đường, vừa là một thứ vũ khí đối phó với thú dữ. Trong bài  Việt Bắc, Tố Hữu cũng viết :

“Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”

Trở lại với chữ “Hoa” thứ nhất trong khổ thơ đầu của bài thơ Tây Tiến, chúng ta cần hiểu theo nghĩa “Đuốc Hoa”. Đây là cách hiểu chính xác hơn cả. Chữ “Hoa” đạt tới sự thăng hoa trong cảm xúc Quang Dũng. Nhìn từ xa đoàn quân Tây Tiến hành quân về Mường Lát mang theo những ngọn đuốc giống như một dòng sông hoa lung linh, ẩn hiện trong đêm sương. Cách hiểu hiểu này cũng phù hợp với nỗi nhớ mênh mang, chơi vơi của nhà thơ ở những dòng thơ đầu. Sự lạ hóa trong ngôn từ của Quang Dũng thật tài hoa, mang đầy chất lãng mạn. Chính sự lạ hóa này làm cho hình ảnh đoàn quân Tây Tiến đẹp hơn, thơ hơn rất nhiều.
Trong bài thơ Tây Tiến, chữ “Hoa” cũng xuất hiện trong đoạn thơ miêu tả vẻ đẹp thơ mộng của sông nước miền Tây:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Chữ “Hoa” đã thể hiện cảm nhận tinh tế của nhà thơ về thiên nhiên. Hình ảnh những bông hoa rừng đong đưa như làm duyên trên dòng nước lũ làm khổ thơ đẹp hơn rất nhiều, Ba chữ “Hoa đong đưa” gợi một cảm xúc rất tình tứ và duyên dáng. Viết về vẻ đẹp của hoa rừng, ít nhà thơ nào viết được như vậy.
Tóm lại, tuy chữ "hoa” chỉ là một chữ nhỏ trong bài thơ  Tây Tiến , song chỉ một chữ thôi, Quang Dũng đã thể hiện những cảm nhận thật tinh tế và sự thăng hoa tuyệt vời trong cảm xúc. Nếu hiểu thật đúng và sâu sắc ý thơ, chúng ta sẽ thấy bài thơ hay và đẹp hơn rất nhiều.

(ĐN st)
...
Все пройдет и печаль и радость
Все пройдет так устроен свет
Все пройдет только верить надо
Что любовь не проходит нет ..
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

duong van duong

Được nhắc đến như một nhà thơ, một hồn thơ chiến sĩ thời máu lửa oai hùng - Quang Dũng đã rất thành công khi khái quát hóa hình ảnh núi rừng Tây Bắc gắn liền với nổi nhớ của người chiến sĩ đoàn quân Tây Tiến.
"Tây Tiến" là bài thơ của người lính nói về người lính - anh Vệ quốc quân thời 9 năm kháng chiến chống Pháp. Quang Dũng vừa cầm súng đánh giặc vừa làm thơ nên thơ ông rất chân thực và hào sảng, dư ba. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948, khi cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc bước sang năm thứ ba, chặng đường kháng chiến còn đầy thử thách gian lao.



"Tây Tiến" nói lên nỗi nhớ và niềm tự hào của Quang Dũng về đồng đội thân yêu, cùng vào sinh ra tử một thời trận mạc.

1. Mở đầu bài thơ là một tiếng gọi làm nao lòng người. Nỗi nhớ thương, nỗi nhớ như nén chặt, bỗng trào dâng:

"Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi".

Từ "ơi" bắt vần với từ láy "chơi vơi" làm cho âm điệu câu thơ trở nên tha thiết sâu lắng, bồi hồi. Hai chữ "nhớ" như hai nốt nhấn gợi tả nỗi nhớ "chơi vơi" cháy bỏng khôn nguôi. Từ Phù Lưu Chanh ông nhớ dòng sông Mã, nhớ núi rừng miền Tây, nhớ đoàn binh Tây Tiến - một đơn vị bộ đội đã hoạt động tại vùng rừng núi miền Tây Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La - biên giới Việt Lào trong những năm đầu kháng chiến. Bao kỉ niệm đẹp một thời chinh chiến bỗng sống dậy. Những tên bản, tên mường của rừng xưa núi cũ yêu thương hiện về, bỗng trở nên gần gũi thân thiết, làm xao xuyến hồn người chiến sĩ:

"Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,

Mường Lát hoa về trong đêm hơi".

Những Sài Khao, Mường Lát... những địa danh vời vợi nghìn trùng từng in dấu chân đoàn chiến binh Tây Tiến. Trong ”sương lấp", trong "đêm hơi" mịt mù, lạnh lẽo, đoàn dũng sĩ đã phải vượt qua những nẻo đường hành quân vô cùng gian khổ. Ngày nối ngày, đêm nối đêm, trải qua bao dãi dầu, "đoàn quân mỏi" giữa cái biển sương mù của núi rừng miền Tây; "đoàn quân mỏi" tưởng như bị "lấp" đi, bị trĩu xuống trong mệt mỏi, gian truân, nhưng thật bất ngờ, bỗng xuất hiện "hoa về trong đêm hơi". Cái mỏi mệt, cái gian khổ như đã tiêu tan. Sáu thanh bằng liên tiếp diễn tả cái nhẹ nhàng, cái lâng lâng trong tâm hồn người lính trẻ đi tới đích sau những chặng đường dài hành quân đầy thử thách: "Mường Lát hoa về trong đêm hơi".

Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt giữa núi rừng miền Tây. Những đèo dốc "khúc khuỷu", "thăm thẳm" chưa từng in dấu chân người! Những "cồn mây heo hút". Những tầm cao của núi, những chiều sâu của lũng, của suối thử thách chí can trường như chặn bước tiến của đoàn quân:

"Dốc lên khúc khủyu, dốc thăm thẳm,

Heo hút cồn mây súng ngửi trời.

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi".

Các từ láy: "thăm thẳm", "khúc khuỷu", "heo hút" được lựa chọn và sử dụng như những nét khắc, nét vẽ có giá trị tạo hình đặc sắc, làm hiện lên những dốc, những cồn mây mà nhà thơ và đồng đội phải vượt qua trong những tháng ngày: "áo vải chân không đi lùng giặc đánh" (Hồng Nguyên). "Súng ngửi trời" là một hình ảnh nhân hóa phản ánh cái ngộ nghĩnh, hồn nhiên trẻ trung và yêu đời của người lính trẻ. Có câu thơ gồm 2 vế tiểu đối, bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ Tây Tiến được "đo" bằng: "Ngàn thước lên cao // ngàn thước xuống". Núi tiếp núi, đèo nối đèo, hết lên cao, lại xuống thấp, đoàn quân đi trong mù sương, trong màn mưa rừng. Từ những đỉnh cao "ngàn thước", các chiến binh dõi tầm mắt nhìn xa. Những bản mường, những nhà sàn thấp thoáng ẩn hiện. Câu thơ thất ngôn, toàn thanh bằng gợi tả cảm xúc tươi vui, lâng lâng thanh thản dâng lên trong tâm hồn người lính trẻ rất lạc quan yêu đời khi dõi nhìn về xa qua màn mưa rừng: "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi".

Những gì đã xảy trên những nẻo đường trường chinh lửa máu và gian khổ ấy? Âm điệu câu thơ bỗng trĩu xuống, nao nao:

"Anh bạn dãi dầu không bước nữa,

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!".

Hai tiếng "anh bạn" cất lên như một tiếng khóc thầm. Trong gian khổ "dãi dầu", trong những ngày dài hành quân và chiến đấu, có bao đồng đội thân yêu đã "không bước nữa", vĩnh biệt đoàn binh, "bỏ quên đời", bỏ quên đồng chí bạn bè, nằm lại vĩnh viễn nơi chân đèo, góc núi. Bốn chữ "gục lên súng mũ" thể hiện một sự hi sinh vô cùng bi tráng: ngã xuống, gục xuống trên đường hành quân giữa trận đánh khi súng còn cầm trên tay, mũ còn đội trên đầu. Mặc dù Quang Dũng đã thay thế từ "chết", từ "hi sinh" bằng cụm từ "không bước nữa", "gục lên"..., "bỏ quên đời", nhưng vẫn trào lên bao nỗi xót xa, thương tiếc. Sự thật chiến tranh xưa nay vẫn thế! Có điều là vần thơ của Quang Dũng tuy nói đến cái chết của người lính nhưng không gợi ra bi lụy, thảm thương, mà trái lại, trong sự tiếc thương có niềm tự hào khẳng định: Vì độc lập, tự do mà có biết bao chiến sĩ anh hùng đã ngã xuống trên các chiến trường, trong tư thế lẫm liệt "gục lên súng mũ..." như vậy!

Cảnh tượng chiến trường đâu chỉ có đèo cao, cồn mây, dốc thẳm, đâu chỉ có mưa ngàn, muỗi rừng vắt núi, mà còn có biết bao thử thách của rừng thiêng tự ngàn đời mang cái vẻ hoang sơ và bí mật, hùng vĩ và oai nghiêm. Chiều nối chiều, đêm tiếp đêm, chiến khu vang động tiếng "gầm thét" của thác, của "cọp trêu người". Trên một không gian mênh mông của chốn đại ngàn, từ Pha Luông đến Mường Hịch hoang vu, cái chết đang rình rập đe dọa. Chốn rừng thiêng ẩn dấu nhiều bí mật "oai linh", được nhân hóa như tăng thêm phần dữ dội. Thác thì "gầm thét", cọp thì "trêu người" như để thử thách chí can trường các chiến binh Tây Tiến:

"Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người".

Vượt lên gian khổ, hi sinh, hành trang người lính đầy ắp những kỉ niệm đẹp của tình quân dân. Quên sao được "cơm lên khói", hương vị đậm đà của "mùa em thơm nếp xôi". Trong cái hương vị đậm đà của bát cơm tỏa khói, của hương nếp xôi còn quyện theo bao tình sâu nghĩa nặng của bà con dân bản Mai Châu, của "mùa em". Hai tiếng "nhớ ôi" gợi lên nhiều bâng khuâng, vương vấn, thấm thía và ngọt ngào:

"Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi".

2. Phần thứ hai bài "Tây Tiến" gồm có 8 câu nói về "hội đuốc hoa" và những chiều sương cao nguyên Châu Mộc. Giọng thơ man mác, bâng khuâng. Nhà thơ tự hỏi mình "có thấy" và "có nhớ". Chất tài tử, tài hoa và lãng mạn của những chàng lính chiến được nói đến thật hay trong đêm "hội đuốc hoa". Chữ "kìa" là đại từ để trỏ từ xa, gợi nhiều ngạc nhiên, tình tứ. Trong ánh lửa đuốc bập bùng, sự xuất hiện những cô gái Mường, cô gái Thái miền Tây Bắc, những cô gái phù-xao Lào trong bộ xiêm áo dân tộc rực rỡ đã đem đến cho những người lính trẻ đoàn binh Tây Tiến bao niềm vui, tình quân dân thắm thiết. Có tiếng khèn "man điệu" của núi rừng, có khúc nhạc du dương "xây hồn thơ". Có dáng điệu duyên dáng "e ấp" của "nàng", của những "bông hoa rừng" đang múa xòe, đang múa lăm-vông:

"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,

Kìa em xiêm áo tự bao giờ,

Khèn lên man điệu nàng e ấp,

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ".

Chữ "bừng" là một nét vẽ có thần. "Bừng" là sáng bừng lên, cháy rực lên từ những ngọn đuốc trong đêm "hội đuốc hoa". Cũng có nghĩa là tưng bừng rộn ràng qua tiếng khèn "man điệu", qua giọng hát tình tứ, mê say của bài dân ca Thái, dân ca Lào.

Nhớ Tây Tiến là nhớ đến những chiều sương cao nguyên, nhớ đến những con thuyền độc mộc, nhớ đến "hồn lau nẻo bến bờ". Nhớ nhiều, nhớ mãi "dáng người trên độc mộc", nhớ không bao giờ quên hình ảnh nên thơ "Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa". Nếu không sống mạnh mẽ, sống hết mình của đời người lính trẻ một thời trận mạc gian nan thì không thể nào viết được những vần thơ mang hương sắc núi rừng xa lạ, tươi đẹp và thơ mộng như thế. Âm điệu đoạn thơ trầm bổng lâng lâng như đang ru hồn ta vào cõi mộng. Chất nhạc, chất thơ, chất họa toát lên từ vần thơ, cho thấy tính thẩm mĩ độc đáo của ngòi bút thơ Quang Dũng, đồng thời khắc họa vẻ đẹp tâm hồn các chiến sĩ Tây Tiến: trong gian khổ và thử thách, trong gian truân và chết chóc, họ vẫn lạc quan và yêu đời, hồn nhiên và mơ mộng.

Đây là một trong những đoạn thơ hay nhất trong bài "Tây Tiến" đã thể hiện sự cảm nhận và diễn tả tinh tế, tài hoa vẻ đẹp thiên nhiên và tình người, đồng thời lại rất mực hồn nhiên từng làm mê say người đọc:

"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ,

Có nhớ dáng người trên độc mộc,

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa".

3. Phần thứ ba, Quang Dũng đã dựng lên một tượng đài hùng vĩ, bi tráng về đoàn binh Tây Tiến. Đoàn quân luồn rừng đi trong biển sương mù, trong những cồn mây, trong màn mưa, vượt qua bao nhiều núi cao, đèo cao, dốc thẳm, "áo vải chân không đi lùng giặc đánh", bỗng bất ngờ xuất hiện:

"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm".

Đoạn thơ ghi lại một cách chân thật, hào hùng cái khốc liệt dữ dội của chiến tranh, của một dân tộc quật khởi đứng lên dùng giáo mác, gậy tầm vông chống lại sắt thép quân thù. Hình tượng thơ được đặt trong thế tương phản đối lập để khẳng định chí khí hiên ngang, anh hùng, những tâm hồn với bao mộng mơ tuyệt đẹp. "Đoàn binh không mọc tóc", "quân xanh màu lá", có vẻ tiều tụy, ốm đau vì bệnh sốt rét rừng, nhưng tư thế vô cùng oai phong lẫm liệt: "dữ oai hùm". Cũng là một cách nói truyền thống trong thơ ca dân tộc ngợi ca sức mạnh Việt Nam: "Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu" (Phạm Ngũ Lão), "Tỳ hổ ba quân - Giáo gươm sáng chói" (Trương Hán Siêu), "Sĩ tốt kén tay tì hổ - Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh" (Nguyễn Trãi),... Và những năm đầu kháng chiến chống Pháp, anh bộ đội Cụ Hồ mang sức mạnh Việt Nam từ nghìn xưa ra trận với chí khí lẫm liệt vô song: "Quân xanh màu lá dữ oai hùm". Trải qua những năm dài chiến đấu ác liệt, nếm trải biết bao cay đắng ngọt bùi, bao thiếu thốn gian truân, từng đánh những trận đánh đẫm máu giữa rừng sâu. Quang Dũng đã kế thừa một cách sáng tạo thơ ca cổ điển dân tộc để viết nên những vần thơ hào sảng như vậy!

Đoàn binh Tây Tiến phần lớn cán bộ và chiến sĩ là thanh niên, học sinh, sinh viên của 36 phố phường, nơi ngàn năm văn vật. Là "Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng..." ra đi đánh giặc với bao "mộng" và "mơ" tuyệt đẹp:

"Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm".

Mộng chiến công. Mộng đánh tan đồn giặc, cướp súng giặc giết giặc. "Mắt trừng" gợi tả tư thế chiến đấu lẫm liệt vô song khi đánh giáp lá cà, khi tung hoành trong đồn giặc! Đồng thời trong hành trang và trong tâm hồn những người lính trẻ còn mang theo bao giấc mơ tuyệt vời. Nhớ về phố cũ trường xưa, mơ về một tà áo đẹp, một "dáng kiều thơm", nơi Hà Nội thân yêu.

Câu thơ "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" thể hiện chất tài tử, hào hoa của người lính Tây Tiến. Còn người chiến sĩ trong bài "Đồng chí" của Chính Hữu, thì nỗi nhớ hướng về ruộng nương, về "gian nhà không mặc kệ gió lung lay", về giếng nước gốc đa... Nỗi nhớ của anh Vệ quốc quân trong bài thơ "Nhớ" của Hồng Nguyên là cả một mối tình quê trang trải, đằm thắm, sâu nặng, thiết tha:

... "Ba năm rồi gửi lại quê hương,

Mái lều gianh,

Tiếng mõ đêm trường,

Luống cày đất đỏ,

Ít nhiều người vợ trẻ

Mòn chân bên cối gạo canh khuya"...

Qua đó, ta thấy nỗi nhớ, cái mộng mơ của người lính thời trận mạc là nông dân, hay tiểu tư sản thành thị đều đẹp và đáng yêu vì nỗi nhớ, cái mộng mơ ấy đều biểu lộ một tình yêu quê hương thắm thiết. Thời gian và độc giả hơn nửa thế kỉ qua đã khẳng định cái hay riêng của thơ Quang Dũng vì nó góp phần làm phong phú thêm chân dung "anh bộ đội Cụ Hồ" trong kháng chiến chống Pháp.

Cái giá của độc lập, tự do được đo bằng tầm vóc lớn lao và khí phách của dân tộc, được ghi nhận bằng xương máu của nhân dân, mà trước hết là xương máu của hàng ngàn, hàng vạn người lính trên chiến trường. Cái ý tưởng cao đẹp: "Tổ quốc hay là chết" đã được Quang Dũng thể hiện bằng những vần thơ bi tráng lay động lòng người:

"Rải rác bên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành".

Có biết bao đồng đội thân yêu của nhà thơ đã ngã xuống trong lửa đạn. Với "áo bào thay chiếu" rất bình dị, chẳng có "da ngựa bọc thây" như những tráng sĩ thời xưa, các anh đã thanh thản "về đất", vĩnh viễn nằm trong lòng Mẹ - Tổ quốc thân yêu. Các anh đã "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Hai chữ "về đất" rất sáng tạo. Tiếng thác sông Mã "gầm lên" vang vọng giữa núi rừng như dội lên trầm hùng trong lòng đồng đội. Nó như tiếng kèn trong bài "Chiêu hồn liệt sĩ", như loạt đại bác nổ xé trời giữa núi rừng chiến khu, mang sắc thái của một lời thề cao cả, thiêng liêng. Đặt cái chết của những anh hùng vô danh giữa một không gian rộng lớn, giữa một thiên nhiên bao la hùng vĩ, câu thơ "rải rác biên cương mồ viễn xứ" đã làm cho nỗi đau mất mát hi sinh càng thêm mênh mang, càng được nâng lên tầm lẫm liệt, bi tráng. Cao cả hơn nữa là lí tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc được khẳng định như một lời thề, một niềm tin mãnh liệt: "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh".

"Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy" (Chế Lan Viên). Những câu thơ trên đây của Quang Dũng thực sự ngang tầm vóc với các chiến sĩ Tây Tiến, với những đồng đội dã bỏ mình vì Tổ quốc, đã oanh liệt hi sinh giữa núi rừng biên cương Việt - Lào. Quang Dũng đã miêu tả và ngợi ca người lính Tây Tiến mang chí khí những anh hùng vô danh, những anh hùng thời đại, ra trận với "tình sông núi", với quyết tâm "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh". Họ đã đi tiếp con đường tổ tiên, ông cha, đã đem máu xương ra giữ vừng sơn hà xã tắc. Họ đã sống bình dị, yêu đời, biết mơ ước khát khao, rất hồn nhiên lạc quan. Họ đã sống anh dũng, chết vẻ vang, sẵn sàng đem xương máu và cả "đời xanh" hiến dâng cho nhân dân và đất nước. Nhà thơ đã làm rung lên niềm thương tiếc, tự hào!

Sau này trong bài thơ "Sông Lào" cũng nói về những "nấm mồ viễn xứ" của những đứa con ưu tú khắp mọi miền quê, Chế Lan Viên xúc động, nghẹn ngào:

... "Tôi qua những con sông Lào đâu chỉ uống vào thơ

Gặp nghìn nấm mộ

Và trăm bản Lào bom Mĩ đốt ra tro!

Ngủ lại Xê-băng-hiên chàng trai nhỏ đất sông Hồng

Ngủ lại Xê-băng-phai là chàng Phú Thọ

Bóng khộp, bóng bằng lăng che mình thay bóng cọ.

Chàng trai Nghĩa Bình ngủ ở Xê-kông

Nén hương thơm lẫn với hương rừng

Những cô gái Lào đến thăm phần mộ

Các anh chưa từng cầm tay và múa lăm-vông...".

Đúng là "Có cái chết hóa thành bất tử" (Tố Hữu). Nhiều nhà thơ Việt Nam, trong đó có Quang Dũng đã viết nên những bài ca nói lên ý chí chiến đấu quả cảm và sự hi sinh oanh liệt của người chiến sĩ Vệ quốc trong thời đại Hồ Chí Minh!

Còn nữa (Tham khảo tạo mạng xã hội Hoc trò Việt .net)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

THLNPH

"Bây giờ còn nói như thế là ấu trĩ lắm. Suy diễn vậy làm chết thơ đấy."
Vì không biết nên bạn ấy mới thắc mắc thôi...chứ không phải có ý muốn thơ chết...mà thơ chết hay không là do độc giả cảm nhận.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 5 trang (49 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [2] [3] [4] [5]