淮上即事寄廣陵親故

前舟已眇眇,
欲度誰相待。
秋山起暮鐘,
楚雨連滄海。
風波離思滿,
宿昔容鬢改。
獨鳥下東南,
廣陵何處地?

 

Hoài thượng tức sự ký Quảng Lăng thân cố

Tiền chu dĩ miễu miễu,
Dục độ thuỳ tương đãi.
Thu sơn khởi mộ chung,
Sở vũ liên thương hải.
Phong ba ly tứ mãn,
Túc tích dung mấn cải.
Độc điểu há đông nam,
Quảng Lăng hà xứ địa?

 

Dịch nghĩa

Trước mắt, đò đã rời bến chỉ còn thấy chấm nhỏ xíu,
Muốn đi nhưng ai mà chờ mình.
Tiếng chuông trong núi thu vang báo chiều xuống,
Cơn mưa đất Sở giăng tới biển xanh.
Sóng gió làm sầu ly biệt dâng ngập hồn,
Sự việc làm dung nhan và đầu tóc tiều tuỵ.
Một con chim bay lẻ loi về hướng đông nam,
Mi bay về Quảng Lăng, phải không?


Hoài thượng tức vùng đất bên sông Hoài, nay là huyện Hoài Âm, tỉnh Giang Tô. Quảng Lăng nay là huyện Dương Châu, cùng tỉnh Giang Tô. Tác giả từ giã người thân từ Quảng Lăng, đáp đò hướng tây bắc đến Hoài thượng, viết cho người thân kể khi ông đến bến thì đã trễ, đò đã đi.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Đò đã rời chỉ còn chấm nhỏ
Mình muốn đi ai có đợi mình
Tiếng chuông chiều báo inh inh
Mưa giăng đất Sở tới ghềnh biển xanh
Sóng gió khiến hồn dâng sầu biệt
Sự việc làm tiều tuỵ dung nhan
Chim côi bay hướng đông nam
Phải bay về phía Quảng Lăng chăng là?

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Con thuyền trước mặt mờ mờ
Muốn đi mà biết ai chờ mình chăng
Núi thu chiều vẳng tiếng chuông
Giăng giăng mưa Sở nối liền biển xanh
Biệt ly sóng gió não nùng
Bộn bề bao chuyện rối tung mái đầu
Đông nam lẻ cánh chim trời
Quảng Lăng chốn ấy xa xôi chăng là!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời