Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Cổ phong (cổ thể)
Thời kỳ: Trần
2 bài trả lời: 1 bản dịch, 1 thảo luận
Đăng bởi Vanachi vào 30/09/2008 04:46

凡聖不異

身從無相本來空,
幻化分差成二見。
我人似露亦似霜,
凡聖如雷亦如電。
功名富貴等浮雲,
身世光陰若飛箭。
瞥起星兒憎愛情,
似覓饅頭而棄麵。
眉毛尖橫鼻孔垂,
佛與眾生都一面。

孰是凡兮孰是聖,
廣劫搜尋沒根性。
非心無是亦無非,
無見非邪也非正。
廣額屠兒果願王,
慶喜比丘功德聖。
覺他覺自拔迷途,
遍界清涼甦熱病。
君不見:
前失者是阿誰?
後得者又是誰?
兩這般心一般命。
到頭八萬四千陀羅尼之法門,
同聶入如來廣大圓智之鏡。
咄!

 

Phàm thánh bất dị

Thân tòng vô tướng bản lai không,
Huyễn hoá phân sai thành nhị kiến.
Ngã nhân tự lộ diệc tự sương,
Phàm thánh như lôi diệc như điện.
Công danh phú quý đẳng phù vân,
Thân thế quang âm nhược phi tiễn,
Miết khởi tinh nhi tăng ái tình.
Tự mịch man đầu nhi khí miến.
Mi mao tiêm hoành tỵ khổng thuỳ,
Phật dữ chúng sinh đô nhất diện.

Thục thị phàm hề thục thị thánh?
Quảng kiếp sưu tầm một căn tính.
Phi tâm vô thị diệc vô phi,
Vô kiến phi tà dã phi chính.
Quảng Ngạch đồ nhi Quả nguyện vương,
Khánh Hỷ tỳ-khưu công đức thánh.
Giác tha giác tự bạt mê đồ,
Biển giới thanh lương tô nhiệt bệnh.
Quân bất kiến,
Tiền thất giả thị a thuỳ?
Hậu đắc giả hựu thị thuỳ?
Lưỡng giá ban tâm nhất ban mệnh.
Đáo đầu bát vạn tứ thiên đà-la-ni chi pháp môn,
Đồng nhiếp nhập Như Lai quảng đại viên trí chi kính.
Đốt!

 

Dịch nghĩa

Thân từ “vô tướng” vốn là không,
Vì huyễn hoá mà chia biệt thành nhị kiến.
Ta và người, như móc cũng như sương,
Phàm và thánh, như sấm cũng như chớp.
Công danh và giàu sang đều như mây nổi,
Thân thế và tháng năm, tựa mũi tên bay.
Bỗng vì hoa mắt mà nẩy sinh tình yêu ghét,
Giống như tìm bánh bao mà bỏ bột.
Lông mày ngang, lỗ mũi dọc,
Phật và Chúng sinh đều một bộ mặt mà thôi.

Ai là phàm, ai là thánh?
Tìm tòi trong quảng kiếp cũng không thấy căn tính.
“Phi tâm” không phải cũng không trái,
“Vô kiến” chẳng tà, cũng chẳng chánh.
Anh đồ tể trán rộng là vua Quả nguyện,
Tỳ-kheo Khánh Hỷ là thánh công đức.
Giác ngộ mình và giác ngộ cho người vượt khỏi đường mê,
Khắp cõi mát mẻ và không bệnh tật.
Ngươi chẳng thấy,
Kẻ mất trước là ai?
Kẻ được sau là ai?
Hai cái “tâm” sai khác và một cái “mệnh” như nhau.
Rốt cục cửa pháp tám vạn bốn nghìn đà-la-ni,
Cùng thu vào tấm gương quảng đại viên trí của Như Lai.
Hét!


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập II), NXB Khoa học xã hội, 1988

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Huệ Chi

Thân từ vô tướng vốn là không,
Hư huyễn phân chia thành "nhị kiến".
Ta, người, như móc cũng như sương,
Phàm, thánh, như sấm cũng như điện.
Công danh, phú quý, mây bồng bềnh,
Năm tháng, đời người, tên bay biến.
Ghét, yêu, như mắt loé tia sao,
Khác nào bỏ bột tìm bánh bao.
Cũng nét mày ngang, đường mũi dọc,
Phật với chúng sinh mặt khác nào.

Ai là phàm chừ ai là thánh?
Muôn kiếp kiếm tìm không căn tính.
Chẳng tâm nào không thị với không phi,
Không kiến nào chẳng tà cũng chẳng chính.
Đồ tể Quảng Ngạch: Quả nguyện vương,
Tỳ-kheo Khánh Hỷ: công đức thánh.
Độ người, tự độ khỏi đường mê,
Mát rợi muôn phương không tật bệnh.
Anh chẳng thấy:
Người mất trước đó là ai?
Người được sau lại là ai?
Hai cái tâm riêng chung một mệnh.
Rốt cuộc tám vạn bốn ngìn pháp môn đà-la-ni,
Cùng thu vào tấm gương trí tuệ Như Lai rộng lớn vành vạch.
Hét!

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Nghĩa từ

瞥起星兒憎愛情,
似覓饅頭而棄麵。
- 瞥miết [piē]: là động từ với nghĩa “Liếc, lườm”, nhưng trong câu này lại là phó từ làm trạng ngữ cho động từ 起 nên có nghĩa: 2.暫現,很快地出現一下。3.突然;倏忽。(Hán ngữ đại từ điển)
- 星儿 xīng ér 1.一點兒。形容少。2.指細碎的東西。chỉ vật rất nhỏ. (Hán ngữ đại từ điển)
Đại ý: Bất chợt khởi lên chút tình cảm thương và ghét, thì cũng giống như tìm (muốn có) bánh mà bỏ bột (là nguyên liệu làm ra bánh).

非心無是亦無非,
無見非邪也非正。
- 非心phi tâm ☆ Lòng dạ xấu xa. Ở đây không thể sử dụng nghĩa này, mà 非 được dùng như 無, chẳng có tâm phân biệt.
- 無見 vô kiến: không có kiến chấp.
Có thể thấy từ 非 và 無 được Ngài Tuệ Trung sử dụng nghĩa phủ định như nhau.
Đại ý: Nếu chẳng có tâm phân biệt thì không có (thấy) đúng cũng không có (thấy) sai, nếu không có kiến chấp thì chẳng có (thấy) tà vạy cũng chẳng có (thấy) chân chánh.

覺他覺自拔迷途,
遍界清涼甦熱病。
- 甦tô [sū]: Sống lại, nhưng còn một nghĩa động từ nữa là: 4.緩解;免除。(Hán ngữ đại từ điển)
Đại ý: Việc làm giác ngộ cho người khác và giác ngộ cho chính mình rời đường mê, (làm cho) khắp thế giới mát mẻ xua tan đi cơn bệnh nóng bức.


Trong văn thơ của Ngài Tuệ Trung bàn bạc những câu nói phá chấp, vượt khỏi định kiến ràng buộc.

Xin được góp ý!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời