Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Đã mấy trăng[1] nay áng[2] chiến trường,
Nhọc nhằn thay bấy, kẻ cần vương[3]!
Cờ mao đủ nhuốm mùi lam chướng,
Áo sắt thêm dày vệt tuyết sương.
Nghìn dặm quét không hơi bụi thẳm,
Muôn năm đặt khoẻ thế âu vàng.
Thẻ quyên[4] bao trả công lênh ấy,
Thể tất niềm chu[5] tả một chương.


Đề bài bằng chữ Hán, nghĩa là: Bài thơ quốc âm uý lạo người đi chiến dịch phương xa trở về.

Chú thích:
[1]
Đã mấy tháng, một cách đếm thời gian ngày xưa.
[2]
Từ cổ, chỉ nơi diễn ra cảnh đua tranh. Áng chiến trường: chỉ nơi chiến địa.
[3]
Hết sức giúp rập, cứu đỡ nhà vua.
[4]
Sổ ghi công. Ý cả câu: Thẻ ghi công biết thế nào trả được công lênh vất vả của những người đi chinh chiến.
[5]
Thể tất: hiểu thấu đáo; chu: toàn vẹn, trọn vẹn. Ý cả câu: Ta đã hiểu thấu công lao vất vả đó, và xin viết ra bài văn này để biểu thị sự uý lạo.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]