使部出南關回國口占

南關無事樂情多,
中外民夷擊壤歌。
昭德風清閒冪府,
同登塵怗靜梅坡。
儂人夜發通行輦,
粵客朝乘互市騾。
寄語瘴嵐今似昔,
飛焉跕跕墜洪波。

 

Sứ bộ xuất Nam Quan hồi quốc khẩu chiếm

Nam Quan vô sự lạc tình đa,
Trung ngoại dân di kích nhưỡng ca.
Chiêu Đức phong thanh nhàn Mạc phủ,
Đồng Đăng trần thiếp tĩnh Mai Pha.
Nùng nhân dạ phát thông hành liễn,
Việt khách triêu thừa hỗ thị la.
Ký ngữ chướng lam kinh tự tích,
Phi diên thiếp thiếp truỵ hồng ba.

 

Dịch nghĩa

Nam Quan thảnh thơi vô sự, vui vẻ xiết bao,
Nhân dân hai bên Nam Bắc ca hát cảnh thái bình.
Đài Chiêu Đức gió mát, Mạc phủ nhàn hạ,
Phố Đồng Đăng sạch bụi, Mai Pha yên tĩnh.
Người Nùng dong xe tải đi lúc ban đêm,
Khách buôn Quảng cưỡi lừa tới phiên chợ sớm.
Nhắn bảo ai đó: vùng này lam chướng nay chẳng khác xưa,
Chim diều hâu bay liệng chờn vờn, thường bị rơi xuống làn sóng lớn mà chết.


Nam Quan là ải ở biên giới Việt Nam – Trung Quốc, tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Quảng Tây.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hoài Anh

Nam Quan dân chúng thảnh thơi,
Bắc Nam ca hát vui chơi thái bình.
Chiêu Đức mát, Mạc phủ thanh,
Đồng Đăng bụi lặng, yên lành Mai Pha.
Người Nùng xe tải đêm qua,
Chợ mai khách Quảng sớm ra, cưỡi lừa.
Vùng này lam chướng tự xưa,
Diều hâu rớt xuống sóng to xác vùi.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Birthmark

Nam Quan dân chúng thảnh thơi qua,
Bắc Nam ca hát lại một nhà.
Chiêu Đức gió mát, Mạc phủ ca,
Đồng Đăng trầm lặng, tỉnh Mai Pha.
Người Nùng xe tải chạy đêm tà,
Chợ mai Việt khách, cưỡi lừa qua.
Vùng này lam chướng từ xưa lạ,
Diều hâu rơi xuống sóng to đà.

Hồng Đức
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời