Bình luận nhanh 4

PK Châu Khương18/06/2024 17:01
Tôi thấy Bản Dịch trên Nam Phong Tạp Chí quá hay. Sông Dương ngàn liễu khoe tươi Hoa dương sầu chết lòng người sang sông Chia tay tiếng địch não nùng Anh trông bến Sở, tôi trông đường Tần.
Tu Nguyen25/07/2020 22:20
Dương Tử đầu sông liễu đượm xuân Hoa buồn như thể giết giang nhân Ly đình sáo thoảng chiều đang xuống Ông đến Tiêu Tương tôi tới Tần
Tu Nguyen25/07/2020 22:20
Bến sông Dương đượm xuân cành liễu Sắc dương hoa sầu giết người ta Ly đình thoảng sáo chiều tà Tiêu Tương ông tới, tôi qua đất Tần.
Thang Nguyendac24/06/2019 21:21
Sông Dương tử rợp liễu vào xuân Hoa cánh buồn thiu chết cả phần Tiếng sáo biệt ly giờ phút cuối Tiêu Tương bạn hướng tớ sang Tần

淮上別友人

揚子江頭楊柳春,
楊花愁殺渡江人。
數聲風笛離亭晚,
君向瀟湘我向秦。

 

Hoài thượng biệt hữu nhân

Dương Tử giang đầu dương liễu xuân,
Dương hoa sầu sát độ giang nhân.
Sổ thanh phong địch ly đình vãn,
Quân hướng Tiêu Tương[1], ngã hướng Tần[2].

 

Dịch nghĩa

Bên sông Dương Tử, dương liễu đượm sắc xuân,
Hoa dương liễu khiến người qua sông buồn chết người.
Vài tiếng sáo gió vi vút ở đình ly biệt chiều xuân,
Anh đi tới sông Tiêu Tương, tôi đi tới đất Tần.


Sông Hoài chảy qua tỉnh Hà Nam, Giang Tô và An Huy.

Chú thích:
[1]
Tiêu Tương ( 26.253,111.607): Là nơi hợp lưu của hai con sông Tiêu thuỷ 瀟水 và Tương thuỷ 湘水 (hay Tương giang 湘江) để chảy vào hồ Động Đình, và cũng là tên vùng đất ở đây, thời xưa thuộc nước Sở, nay là trấn Tiêu Tương ở địa phận huyện Linh Lăng 零陵, tỉnh Hồ Nam 湖南, Trung Quốc. Sông Tiêu có tên khác là Doanh thuỷ 營水, phát nguyên từ núi Cửu Nghi, chảy đến Vĩnh Châu thì hợp lưu với sông Tương. Sông Tương phát nguyên ở huyện Hưng An, tỉnh Quảng Tây. Ở đây phong cảnh rất thê lương buồn bã, và có nhiều cảnh đẹp, thường được dùng làm đề tài cho thơ và hoạ, như Tiêu Tương bát cảnh 瀟湘八景.

Nơi đây thường là chỗ chia tay để mỗi người đi mỗi ngả, cho nên văn thơ thường dùng trong cảnh biệt ly. Nơi bờ sông Tương xưa kia hai bà vợ ông Thuấn đứng khóc chồng, nước mắt hoà máu rơi vào trúc thành những đốm thâm. Cho nên có chữ “giọt Tương” là giọt nước mắt, “khúc Tiêu Tương” là khúc đàn buồn về nỗi ly biệt.

Khúc sông Tiêu Tương liền với sông Mịch La là nơi Khuất Nguyên đã trầm mình.
[2]
Tên nước cũ, nay là tỉnh Thiểm Tây.

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 3 trang (29 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Khuyết danh Việt Nam

Trên ngàn khóm liễu tơi bời
Hoa sao hoa khéo ghẹo người bên sông
Ly đình một khúc não nùng
Ngươi trông bến Sở ta trông bến Tần


Bản dịch từ Đường thi thất tuyệt diễn ca phụ tạp văn 唐詩七絕演歌附雜文 (ký hiệu AB.333) đời Nguyễn.

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Dương Lâm

Bến Dương dương liễu tươi cười
Hoa dương chua xót lòng người sang sông
Ly đình sáo thổi Hồ cung
Tiêu Tương bác lại, Tần Trung em về


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Đôn Phục

Mơn mởn bờ Dương bến liễu gần,
Đò sang chết ruột khách trông xuân.
Chiều hôm tiếng sáo ly đình giục,
Người dạo Tiêu Tương kẻ dạo Tần.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Dương Tử đầu sông liễu đượm xuân
Hoa buồn như thể giết giang nhân
Ly đình sáo thoảng chiều đang xuống
Ông đến Tiêu Tương tôi tới Tần.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Bến sông Dương đượm xuân cành liễu
Sắc dương hoa sầu giết người ta
Ly đình thoảng sáo chiều tà
Tiêu Tương ông tới, tôi qua đất Tần


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Bên sông Dương Tử, liễu xuân tươi,
Hoa liễu khiến người chết người.
Gió sáo vi vu chiều xuân tiễn biệt,
Tiêu Tương anh tới, tôi Tần thôi.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

聲羌笛: thanh phong địch hay thanh khương địch?

聲羌笛: Nếu là thanh khương địch, thì có nghĩa là tiếng sáo Khương theo ngũ cung. Không biết có đúng không? Xin các bạn am hiểu giải nghĩa thêm cho.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Khương địch/phong địch

Sorry vì trước tại hạ để bản Hán văn là 羌笛, cũng không rõ là từ đâu ra nữa (không hiểu có phải là ảnh hưởng từ câu "Khương địch hà tu oán dương liễu" hay không), nhưng xem các bản chép thì đều là 風笛.


Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Khương địch/phong địch

xin thứ lỗi. theo ngu ý của tai hạ thì ( phong địch)có vẻ hợp hơn.nếu dịch rỏ hơn thì : bỗng nghe trong gió tiếng sáo (thật buồn) bên ly dình (ngày xưa bên trung quốc thường cất nhà nhỏ trên bến sông dể người dưa tiển hay đợi thuyền) vừa dứt. chớ khương địch thì tại hạ không rõ lắm


Chưa có đánh giá nào
Trả lời

Trang trong tổng số 3 trang (29 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3]