送北使張顯卿

顧無瓊報自懷慚,
極目江皋意不堪。
馬首秋風吹劍鋏,
屋梁落月照書庵。
幕空難駐燕歸北,
地暖愁聞雁別南。
此去未知傾蓋日,
詩篇聊為當清談。

 

Tống Bắc sứ Trương Hiển Khanh

Cố vô quỳnh báo tự hoài tàm,
Cực mục giang cao ý bất kham.
Mã thủ thu phong xuy kiếm giáp,
Ốc lương lạc nguyệt chiếu thư am.
Mạc không nan trú yến quy Bắc,
Địa noãn sầu văn nhạn biệt Nam.
Thử khứ vị tri khuynh cái nhật,
Thi thiên liêu vị đáng thanh đàm.

 

Dịch nghĩa

Nghĩ không có ngọc quỳnh đáp lại lòng tự thẹn,
Trên bờ sông nhìn xa mãi xiết bao bùi ngùi.
Gió thu trước đầu ngựa thổi vào thanh gươm,
Ánh trăng lọt qua rường nhà dọi vào phòng sách.
Màn trống khó ngăn chim én về phương Bắc,
Đất ấm buồn nghe chim nhạn biệt phương Nam.
Lần đi này chưa biết này nào mới có dịp nghiêng lọng,
Xin vì cuộc chuyện trò tao nhã mà có một bài thơ.


Trương Hiển Khanh tức Trương Lập Đạo 張立道, sang sứ nước ta hai lần, lần thứ nhất năm 1265 để tuyên dụ chiếu chỉ của vua Nguyên (Trần Thái Tông đã làm thơ tiễn nhân dịp này), lần thứ hai năm 1291 (triều Trần Nhân Tông) nhằm dụ nước ta quy phục và bắt Nhân Tông thân sang chầu. Tuy nhiên, do ba lần chiến thắng của dân ta và thái độ mềm mỏng nhưng kiên quyết của vua tôi nhà Trần, Hiển Khanh phải có thái độ kính nể. Trong bài hoạ đáp vua Trần, Hiển Khanh viết: “An Nam tuy tiểu văn chương đại, Vị khả khinh đàm tỉnh để oa” 安南雖小文章大,未可輕談井氐蛙 (An Nam tuy nhỏ nhưng có văn chương, Chưa thể nói nông cạn họ là ếch ngồi đáy giếng).

Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập II), NXB Khoa học xã hội, 1988

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đào Phương Bình

Thẹn không ngọc báu tạ ơn lòng,
Bát ngát nhìn sông dạ rối bong.
Đầu ngựa gió thu khua bảo kiếm,
Nóc nhà trăng dọi sáng thư phòng.
Én về đất Bắc màn trơ trọi,
Nhạn biệt trời Nam tiếng não nùng.
Nghiêng lọng ngày nào chưa dễ biết,
Thơ này xin thế chuyện riêng chung.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của nhóm Trần Kính Hoà

Mảy may thẹn chửa đáp ơn sâu,
Hút mắt sông cồn những ngán ngao.
Vỏ kiếm gió thu reo mỏn ngựa,
Án thư bóng nguyệt lọt rường lầu.
Én về cõi bắc khôn lưu trú,
Nhạn biệt trời nam những gợi sầu.
Nghiêng lọng bao giờ ngày tái ngộ,
Tiễn đưa thơ hứng tạm vài câu.


Nguồn: Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, An Nam chí lược, Viện Đại học Huế, 1961
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Thẹn không ngọc báu tạ ơn lòng,
Bùi ngùi nhìn xa từ bờ sông.
Gió thu thổi thanh gươm trước ngựa,
Ánh nguyệt qua rường dọi thư phòng.
Màn trống khó ngăn én về Bắc,
Đất ấm buồn nghe nhạn biệt Nam.
Chưa biết dịp nào còn nghiêng lọng,
Thơ này xin vì cuộc riêng chung.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học

Lời kém quỳnh dao tự thẹn thầm
Bên sông khôn xiết ngó đăm đăm
Gió thu đầu ngựa mơn chuôi kiếm
Trăng xế rường nhà chiếu mái am
Màn trống khó ngăn yến về Bắc
Đất ấm buồn nghe nhạn biệt Nam
Chuyến này chưa biết ngày gặp lại
Thơ tiễn xin thay cuộc diện đàm


Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Quốc học - Toàn Việt thi lục (tập 1), Lê Quý Đôn, NXB Văn học, 2019
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời