Than ôi!
Người chẳng thấy! Hiện thời châu Á Tế Á ta:
Anh hùng mưu sự độc lập;
Chí sĩ toan việc báo cừu.
Thương vì cuộc biến;
Lo vì nhân loại.
Kìa phía Nam, nước Xiêm tự cường;
Nọ cõi Đông, nước Hàn tự chủ.
Nam Hải tiên sinh, cổ võ phong trào bên Trung Quốc;
Cao Sơn liệt sĩ, khóc than kêu gọi đất Phù Tang.
Xấu kia, người đều biết cả;
Hổ này, ta lẽ quên sao?...
Vui gì yến tiệc linh đình;
Tốt chi danh vọng luồn cúi!

Nước Việt ta từ thời lập quốc;
Ở một phương trời cõi Á Đông.
Từ Trần, Lê trở lên;
Tự Hồng Bàng trở xuống.
Nhân tâm thuần phác;
Sĩ khí quật cường.
Thành Lĩnh Biểu đuổi quân Tô Định;
Sông Phú Lương bắt tướng Mã Nhi.
Vỏ ngựa ruổi, Chiêm Thành lùi bước;
Ngọn gió đưa, Chân Lạp chia bờ.
Mạnh thay dòng giống nước ta;
Đâu có thua gì kẻ khác.
Tiếc chỉ sai lầm một lúc;
Mà gây hoạ để muôn đời.

Tục còn ưa thích văn chương;
Sĩ vẫn say mê khoa mục.
Ngày đêm điển tích miệt mài;
Năm tháng phú thơ cặm cụi.
Sách văn hay dở, cúi đầu theo miệng trường quan;
Lời lẽ nên chăng, nhắm mắt học thừa Trung Quốc.
Ồn ào tranh miếng lợi danh, toàn đồ kẻ cắp;
Bô bô lên giọng hào kiệt, cả lũ lưng khom.
Rõ ràng bọn túi cơm giá áo, lăn mình vào đợi chủ Tây sai;
Thật đúng phường mặt ngựa đầu trâu, đành dạ để xô hầm con đỏ.

Hành vi thế ấy!
Tâm địa nhường kia.
Binh làm sao mạnh?
Của làm sao giàu?
Tri tuệ sao mở mang?
Nhân tài sao dưỡng dục?

Than ôi! Đau đớn lẽ!
Nghĩ nhục tầy trời nay còn đó;
Nên có lời tỏ rõ cho hay.
Sự thế nhường nay;
Lòng người căm giận.
Ngày này ngày khác;
Thuế nọ thuế kia.
Xương thịt đẽo chẳng còn gì;
Máu mỡ hút còn chi nữa.
Nhân dân ngậm đắng nuốt hờn;
Quan lại co đầu rụt cổ.
Mũ kia buổi sớm ban cho;
Hốt nọ chiều hôm giựt lại.
Người mình xem trọng như thần;
Lũ nó coi khinh hơn vật.
Hối đã muộn rồi, mẹo cắn rún nghĩ làm sao kịp;
Thế đà như vậy, lửa cháy mày biết gỡ được chăng!

Cho nên phải đau lòng xót ruột;
Phải vẽ vời theo nghĩa quyên sinh.
Dưới hàng sĩ tử;
Trên đám công khanh.
Ném bút đứng dậy!
Liệng mũ vùng lên.
Chứng tham tàn, quan lại bỏ đi thôi!
Bệnh phù danh, sĩ dân đừng mắc nữa.
Hơi tàn gắng dậy, để chờ ngày cứu nước vớt dân;
Sống nhục vui chi, chẳng thà để phơi gan nát óc.

Há đầu để:
Tháng năm vui thú;
Nhục nhã quên đi.
Bút cùn một ngọn, vùi đầu chi mãi dưới đèn tàn;
Cuộc thế trăm năm, để thành kẻ say sống mê chết.

Than ôi!
Huyết khí đã có;
Gan ruột sao không.
Thẹn cùng trời đất;
Hổ với non sông.

Tôi nay:
Nóng lòng vì thế sự;
Mỏi mắt bởi thời gian.
Nghĩ non nước lòng đau tựa cắt;
Nhìn biến cuộc dạ rối như tương.
Khôn ngăn giọt lệ Trường Sa, lênh lang biển Sở;
Treo rồi dải mũ Thần Vũ, hiu hắt gió thu.
Mắt trông An Tử ở Thần sơn, mảnh buồm qua bến;
Lễ tiễn Kinh Kha trên Dịch thuỷ, một đi chẳng về.
Tiếng ca dài đương khi nức nở;
Ngọn bút hoà lệ nhỏ tran tran.
“Chí thành thông thánh” chẳng màng;
“Danh sơn lương ngọc” miễn bàn là hơn...


Nguồn: Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968
tửu tận tình do tại