贈北使李思衍

雨露汪洋普漢恩,
鳳啣丹詔出紅雲。
拓開地角皆和氣,
凈挾仟河洗戰塵。
盡道璽書十行下,
勝如琴殿五絃薰。
乾坤兼愛無南北,
何患雲雷復有屯。

 

Tặng bắc sứ Lý Tư Diễn

Vũ lộ uông dương phổ Hán ân,
Phụng hàm đan chiếu xuất hồng vân.
Thác khai địa giác giai hoà khí,
Tịnh hiệp thiên hà tẩy chiến trần.
Tận đạo tỉ thư thập hàng hạ,
Thắng như cầm điện ngũ huyền huân.
Càn khôn kiêm ái vô nam bắc,
Hà hoạn vân lôi phục hữu truân.

 

Dịch nghĩa

Ơn nhà Hán như mưa móc tràn trề khắp nơi,
Chim phượng ngậm tờ chiếu đỏ xuất hiện nơi đám mây hồng.
Mảnh đất mới mở rộng cũng có hoà khí,
Kéo sông Thiên hà rửa sạch bụi chiến tranh,
Mọi người đều bảo tờ chiếu ban xuống chỉ có mươi hàng,
Nhưng hơn hẳn tiếng hoà âm của chiếc đàn cầm năm dây.
Trời đất vốn một lòng yêu thương không phân biệt nam, bắc.
Còn lo gì gặp bước gian truân gió mưa sấm sét.


Năm 1289, sau một năm Đại Việt chiến thắng cuộc chiến tranh xâm lược của Đại Nguyên lần thứ 3 từ tháng 12 năm 1287 đến cuối tháng 4 năm 1288, Hốt Tất Liệt sai sứ giả Lý Tư Diễn mang chiếu sang phong vương cho vua Trần, nhưng thực chất là thương lượng để đón bọn tướng sĩ bị bắt, và nhà Nguyên cũng đem trả sứ bộ Nguyễn Nghĩa Toàn của ta. Cuộc tiếp sứ lần này diễn ra ôn hoà. Chuyến đi sứ suôn sẻ, nhưng Lý Tư Diễn không thể thuyết phục vua Trần thân sang triều phục.

Trong tiệc thiết đãi sứ giả, Lý Tư Diễn làm một bài thơ, Trần Nhân Tông hoạ lại ý từ chối sang triều phục, và làm tiếp bài thơ này tặng ý ca ngợi không khí hoà ấm sau chiến tranh, đồng thời ý tứ nhắc rằng lẽ trời đất là yêu thương con người không phân biệt nam bắc. Về sự tích, xem thêm các bài thơ trong mục tác giả Lý Tư Diễn.

Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập II), NXB Khoa học xã hội, 1988

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Lê Văn

Ơn tuôn mưa móc khắp nơi nơi,
Chiếu phượng, tầng mây ban xuống rồi.
Hoà khí lan đều trên nẻo đất,
Can qua rửa sạch dưới sông trời.
Chỉ là tờ ngọc lời thưa thớt,
So với đàn cầm giá mấy mươi.
Trời đất thương yêu nam với bắc
Gió mưa cũng đỡ nỗi lo đời.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
13.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Mưa móc tràn trề khắp muôn dân
Phượng ngậm chiếu vua rực mây vần
Đất xa vừa mở đều hoà khí
Rửa bụi chiến chinh kéo sông Ngân
Tận cuối mười hàng in ấn tín
Hơn đàn năm dây trấn vương thần
Trời đất yêu người không nam bắc
Lo chi mây sấm với gian truân.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của nhóm Trần Kính Hoà

Mưa móc ơn trên khắp dẫy đầy
Chiếu son phượng ngậm xuống từng mây.
Chiến trần rửa sạch sông Ngân Hán,
Hoà khí lan tràn chốn hải nhai.
Tỏ rõ thư Văn ban một lá,
So bằng đàn Thuấn gẫy năm dây.
Trời che đất chở nam như bắc,
Chẳng sợ vân lôi lại có ngày.


Nguồn: Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, An Nam chí lược, Viện Đại học Huế, 1961 (sách dịch nhầm rằng bài này do Lý Tư Diễn làm)
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Mưa móc tràn trề khắp nơi,
Ngậm tờ chiếu đỏ phượng bay mây hồng.
Đất mới mở hoà khí mong,
Thiên hà kéo xuống rửa xong chiến trần,
Tờ chiếu ban chỉ mươi hàng,
Nhưng hơn hẳn tiếng hoà cầm năm dây.
Trời đất nam, bắc thương đầy.
Lo gì sấm sét bùn lầy gió mưa.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời