Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt
Thời kỳ: Trần
5 bài trả lời: 5 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 20/09/2008 10:04

山房漫興其一

誰縛更將求解脫,
不凡何必覓神仙。
猿閑馬倦人應老,
依舊雲庄一榻禪。

 

Sơn phòng mạn hứng kỳ 1

Thuỳ phọc cánh tương cầu giải thoát,
Bất phàm, hà tất mịch thần tiên.
Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão,
Y cựu vân trang nhất tháp thiền.

 

Dịch nghĩa

Ai trói buộc mà phải tìm phương giải thoát,
Phẩm cách chẳng phàm tục cần gì tìm thần tiên.
Vượn nhàn, ngựa mỏi, người cũng đã già,
Vẫn một chiếc giường thiền ở am mây cũ.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập II), NXB Khoa học xã hội, 1988

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ

Ai trói buộc chi, tìm giải thoát?
Khác phàm đâu phải kiếm thần tiên.
Vượn nhà, ngựa mỏi, ta già lão,
Như trước, am mây chốn toạ thiền.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng vicar

Ai trói buộc lại cầu giải thoát
Chẳng phàm, hà tất kiếm thần tiên
Vượn nhàn ngựa mệt người muốn lão
Vẫn am mây cũ một phản thiền

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Chẳng buộc, cần đâu tìm giải thoát
Khác phàm nên chẳng kiếm thần tiên
Vượn nhàn, ngựa mỏi, thân già lão
Chốn cũ am mây một chiếu thiền

33.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Trói buộc gì đâu, tìm giải thoát?
Không phàm, hà tất kiếm thần tiên?
Vượn nhàn, ngựa mỏi, người thêm lão.
Như cũ, am mây, một chõng thiền!

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
12.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Ai trói buộc mà tìm giải thoát,
Khác phàm sao phải kiếm thần tiên.
Vượn nhàn, ngựa mỏi, ta thêm lão,
Am mây chốn cũ một giường thiền.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời