賡新平安撫范公師孟新平書事韻

志士寧辭蹈海危,
高歌長嘯任天倪。
霜簑暑笠酬明主,
虎落蛇區尉遠黎。
日月盈虧人易見,
賢愚窮達物難齊。
佳期久隔天涯望,
賦罷停雲月欲西。

 

Canh Tân Bình an phủ Phạm công Sư Mạnh “Tân Bình thư sự” vận

Chí sĩ ninh từ đạo hải nguy,
Cao ca tràng khiếu nhậm thiên nghê.
Sương soa thử lạp thù minh chúa,
Hổ lạc xà khu uý viễn lê.
Nhật nguyệt doanh khuy nhân dị kiến,
Hiền ngu cùng đạt vận nan tề.
Giai kỳ cửu cách thiên nhai vọng,
Phú bãi “Đình vân” nguyệt dục tê (tây).

 

Dịch nghĩa

Người chí sĩ đâu chịu chối từ cái nguy vượt biển,
Cất cao tiếng hát với tất cả lòng mình.
Mang tơi sương, đội nón nắng, đền đáp minh chúa,
Vào hang hùm, tới ổ rắn, yên ủi dâu xa.
Mặt trời, mặt trăng, khi tròn khi khuyết, người đời dễ thấy,
Người hiền, người ngu, lúc cùng lúc đạt, nhân vật khó đều.
Hẹn đẹp từ lâu, trông vời chân trời xa cách,
Làm xong vần thơ “Đình vân” trăng đã xế tây.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đào Phương Bình

Vượt biển nguy nan, chí đảm đương,
Hò vang hát lớn giữa trời quang.
Đội sương tắm nắng đền minh chúa,
Sục ổ lần hang vỗ viễn phương.
Nhật nguyệt đầy vơi người dễ thấy,
Hiền ngu cùng đạt vật khôn ngang.
Chân trời xa thẳm mong ngày hẹn,
Hát trọn Đình vân, thỏ ngậm gương.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Chí sĩ đâu từ cái hiễm nguy,
Cất cao tiếng hát cả lòng mình.
Tơi sương, nón nắng, đền minh chúa,
Ổ rắn, hang hùm, vỗ yên kinh.
Nhật nguyệt khuyết tròn, người dễ thấy,
Hiền ngu cùng đạt, vật khôn tinh.
Chân trời xa cách trông ngày hẹn,
Ngâm vịnh “Đình vân” trăng ẩn mình.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời