崑山清虛洞碑銘

司徒創庵,
于彼崟嶔。
豈有願於獨樂,
蓋寓意乎登臨。
日坐盤石則欲置國勢之安,
日俯清流則欲資國論之深。
蔭茂樹則思擴吾民之大庇,
倚脩竹則欲致賢士之如林。
輔贊我治,無有遐心,
此朕所以嘆而書于山之陰者也。

 

Côn Sơn Thanh Hư động bi minh

Tư đồ sáng am,
Vu bỉ ngâm khâm.
Khởi hữu nguyện ư độc lạc,
Cái ngụ ý hồ đăng lâm.
Nhật toạ bàn thạch, tắc dục trí quốc thế chi an,
Nhật phủ thanh lưu, tắc dục tư quốc luận chi thâm.
Âm mậu thụ, tắc khuếch ngô dân chi đại tí,
Ỷ tu trúc, tắc dục trí hiền sĩ chi như lâm.
Phụ tán ngã trị, vô hữu hà tâm,
Thử trẫm sở dĩ thán nhi thư vu sơn chi âm giả dã.

 

Dịch nghĩa

Tư đồ dựng am,
Trên núi thâm nghiêm.
Há phải muốn riêng mình vui thú,
Chính là để ngụ cái ý lên cao.
Ngồi trên bàn đá là muốn đặt thế nước yên ổn,
Cúi nhìn dòng nước trong là muốn bàn sâu vào việc nước.
Nương dưới bóng cây là muốn mở rộng được sự che chở cho dân,
Tựa vào khóm trúc là muốn đến với nhiều hiền sĩ.
Ông giúp ta trị nước, chứ không có tâm địa gì,
Trẫm thương tiếc, nên tìm hòn đá đẹp ghi vào lời này.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hà Như

Tư Đồ dựng am
Giữa chốn sơn lâm
Đâu muốn riêng mình vui thú
Chính là mượn ý cao thâm
Mong cho thế nước yên, lưng thử dựa đá bàn sừng sững,
Trước khi bàn chính sự, tai được nghe tiếng suồi thì thầm
Muốn hiền sĩ ngước mắt trông vào, thân hãy tự so với cây trúc thẳng
Cầu đời dân vơi đi cực khổ, Vua hãy bao che như áng mây râm
Ông giúp triều ta, lòng không trắc ẩn
Trẫm lòng thương tiếc, khắc đá tri âm

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Tư đồ dựng am,
Trên núi thâm nghiêm.
Há phải muốn riêng mình vui thú,
Chính là để ngụ cái ý lên cao.
Ngồi trên bàn đá là muốn đặt thế nước yên,
Cúi nhìn dòng nước trong là muốn bàn kế nước bền.
Nương dưới bóng cây là muốn dân tình rộng che chở,
Tựa vào khóm trúc là muốn đến với nhiều kẻ sĩ nhân hiền.
Trị nước giúp ta, không tâm địa,
Ghi lời đá đẹp trẫm tiếc thương.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời