Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Tây Sơn
2 bài trả lời: 2 bản dịch
1 người thích

Đăng bởi Vanachi vào 17/06/2007 17:20, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 27/04/2014 21:15

自述

猶有羈臣淚暗流,
國情家思兩悠悠。
他鄉豈必逢青眼,
逆境誰能不白頭。
許國孤忠蜀丞將,
報仇寸舌張留侯。
男兒不做轟天事,
虛度浮生死更休。

 

Tự thuật

Độc hữu ky thần lệ ám lưu,
Quốc tình gia tứ lưỡng du du.
Tha hương khởi tất phùng thanh nhãn,
Nghịch cảnh thuỳ năng bất bạch đầu.
Hứa quốc cô trung Thục thừa tướng,
Báo cừu thốn thiệt Trương lưu hầu.
Nam nhi bất tố oanh thiên sự,
Hư độ phù sinh tử cánh hưu.

 

Dịch nghĩa

Chỉ có người cô thần sùi sụt khóc thầm
Lo nước, nhớ nhà, hai mối tình dài dằng dặc
Ở đất khách chắc đâu gặp người mắt xanh
Xử cảnh nghịch ai giữ được không bạc tóc
Đem lòng cô trung cống hiến cho chúa là thừa tướng nước Thục
Dùng tấc lưỡi để báo thù là Trương lưu hầu
Làm trai mà không làm được việc dậy trời
Thì sống cũng là sống thừa chết là hết


Bản dịch nghĩa của Nguyễn Bích Ngô.

Nguồn: Tuyển tập thơ Hán-Việt (nhiều tác giả), Đông Xuyên tuyển dịch, Cảo thơm, 1975

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của (Không rõ)

Thầm ngán riêng mình nhỏ giọt châu,
Tình nhà nỗi nước dạ âu sầu.
Quê người há chẳng còn xanh mắt,
Cảnh nghịch ai không chóng bạc đầu.
Báo Hán ngay lòng Thục thừa tướng,
Đền Hàn lưỡi uốn Trương lưu hầu.
Vang trời, ví chẳng làm nên việc,
Uống kiếp tài trai chết cũng âu!

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Thầm khóc riềng mình người cô thần,
Tình nhà, nợ nước dạ sầu thân.
Mắt xanh đâu gặp nơi đất khách,
Nghịch cảnh ai không chóng bạc đầu.
Cô trung phò chúa thừa tướng Thục,
Tấc lưỡi báo thù Trương lưu hầu.
Vang trời, chí chẳng làm nên việc,
Sống cũng như thừa chết cũng âu!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời