15.00
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Cổ phong (cổ thể)
Thời kỳ: Trung Đường
3 bài trả lời: 3 bản dịch

Đăng bởi tôn tiền tử vào 01/08/2014 23:21

行路難

湘東行人長歎息,
十年離家歸未得。
弊裘羸馬苦難行,
僮僕饑寒少筋力。
君不見:
床頭黃金盡,
壯士無顏色。
龍蟠泥中未有雲,
不能生彼升天翼。

 

Hành lộ nan

Tương Đông hành nhân trường thán tức,
Thập niên ly gia quy vị đắc.
Tệ cừu luy mã khổ nan hành,
Đồng bộc cơ hàn thiếu cân lực.
Quân bất kiến:
Sàng đầu hoàng kim tận,
Tráng sĩ vô nhan sắc.
Long bàn nê trung vị hữu vân,
Bất năng sinh bỉ thăng thiên dực.

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của phanlang @www.tvvn.org

Đất Tương Đông người đi than thở mãi
Xa gia đình không trở lại mười năm
Áo cừu rách ngựa mệt gầy khó bước
Gân sức tàn đồng bộc đói lạnh căm
Người thấy chăng:
Đầu giường vàng bạc hết
Tiều tuỵ dung nhan tráng sĩ âm trầm
Mây chưa hiện, trong bùn rồng nằm cuộn
Biết khi nào mọc cánh vút lên không

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Đất Tương Đông người đi than mãi
Mười năm xa nhà vẫn chưa về
Áo sờn ngựa ốm khó đi
Tiểu đồng đói rét sức thì thảm thương
Ông thấy không, đầu giường tiền hết
Người tráng niên không nét hào hoa
Rồng nằm mây vận chưa qua
Hận không có cánh đặng mà thăng thiên.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Người đi than thở đất Tương Đông,
Không lại mười năm chốn cũ ròng.
Áo rách ngựa gầy đường khó bước,
Sức tàn đói lạnh bọn nhi đồng (*).
Người thấy chăng:
Đầu giường vàng bạc hết trong khăn,
Tiều tuỵ dung nhan tráng sĩ trầm.
Rồng cuộn trong bùn, mây chửa hiện,
Khi nào mọc cánh vút không gian.


* Tiểu đồng đi theo giúp việc vặt.
Chưa có đánh giá nào
Trả lời