Bình luận nhanh 15

Thích Thơ Đường15/07/2026 16:00
Trăng tà quạ rúc trời sương phủ Bập bùng chài lửa đêm chẳng ngủ Cây phong bờ nước dõi lòng ai Canh ba Cô Tô chùa chuông nhủ
nivzee17/01/2026 04:54
trăng lặn qua kêu, sương đầy trời rặng phong lửa bến giấc chơi vơi Cô Tô, San tự đêm thành ngoại Chuông vọng thuyền khách, tiếng chạm rời
Nguyễn Công Tuấn08/09/2025 07:38
Trăng lặn , quạ kêu , sương phủ dày, Ngư ông ngủ bụi , đuốc phong cây. Hàn Sơn chùa ngoại , cô Tô đến, Chuông đổ nửa đêm, khách thuyền ngây. N/Đ Ngày 08/09/2025
Trần Đức Thạnh31/03/2025 00:08
ĐÊM BẾN PHONG KIỀU Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi Đèn chài, phong bến, đầy vơi giấc sầu Cô Tô thành ngoại canh thâu Hàn Sơn chùa vọng chuông rầu thuyền nhân
Trăng tà, sương phủ, quạ kêu Tàn phong ánh lửa dập diều trong mơ. Thuyền ai ngủ bến Cô Tô, Nửa đêm vọng tiếng chuông chùa Hàn San. 28/9/2024.
Tôn Thất Minh Đạt20/04/2024 18:38
Bài này súc tích quá, xin dịch thành 8 câu lục bát: NỬA ĐÊM ĐẬU BẾN PHONG KIỀU Quạ kêu trăng lặn mất rồi Sương giăng trắng xóa nước trời mênh mông. Lờ mờ liễu rũ ven sông Đèn treo trước gió nhìn không…
Cao Quang Hai15/11/2023 14:27
Trăng tà , tiếng Quạ trong sương , Bãi Phong , lửa xóm chài, người buồn đơn . Chùa Hàn San cách Cô Tô , Nửa đêm chuông vọng thuyền neo [bến ] Phong Kiều .
Nguyễn Lữ06/10/2023 21:09
Trăng tàn nghe quạ kêu sương Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ Chùa Hàn San cách Cô Tô Nửa đêm vọng tiếng chuông vào thuyền ai
Luong Pham07/02/2023 10:15
Trăng tàn tiếng quạ động màn sương Lửa chài lá đỏ buồn vấn vương Cô Tô thuyền đậu Hàn San tự Nửa đêm vọng lại những tiếng chuông Tranh thư pháp https://www.facebook.com/photo/?fbid=10159727755108983&set=a.261675658982
Pham Ha Vu12/12/2021 15:59
Quạ kêu, trăng lặn, dày sương Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ Con thuyền đỗ bến Cô Tô Nửa đêm nghe thấy chuông chùa Hàn San.

Đăng bởi Vanachi vào 01/07/2005 23:16, đã sửa 4 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 22/09/2007 18:51

楓橋夜泊

月落烏啼霜滿天,
江楓漁火對愁眠。
姑蘇城外寒山寺,
夜半鐘聲到客船。

 

Phong Kiều dạ bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hoả đối sầu miên.
Cô Tô[1] thành ngoại Hàn San tự[2],
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

 

Dịch nghĩa

Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời.
Hàng phong bên sông, ngọn đèn thuyền chài ở trước người đang ngủ buồn.
Ngoài thành Cô Tô là chùa Hàn San,
Tiếng chuông lúc nửa đêm vẳng đến thuyền khách.


Đây là bài thơ nổi tiếng nhất của Trương Kế, tả một đêm mùa thu dừng thuyền bên ngoài thành Cô Tô. Chỉ với hai mươi tám chữ, tác phẩm kết hợp ánh sáng, màu sắc, nhiệt độ và âm thanh để tạo nên một cảnh thu tĩnh lặng, lạnh lẽo, thấm đẫm nỗi sầu của người lữ khách. Thơ ông còn lại không nhiều, nhưng riêng Phong Kiều dạ bạc đã khiến tên tuổi ông được lưu truyền rộng rãi.

Năm Thiên Bảo thứ 14 (755), loạn An - Sử bùng nổ. Do vùng Giang Nam tương đối yên ổn, nhiều văn nhân chạy xuống vùng Giang Tô, Chiết Giang lánh nạn, trong đó có Trương Kế. Khoảng năm 756, vào một đêm cuối thu, ông dừng thuyền gần Phong Kiều, ngoài phía tây thành Tô Châu, trước cảnh đêm mà viết bài thơ này. Cũng có thuyết cho rằng Trương Kế làm bài sau khi thi không đỗ hoặc chưa được bổ nhiệm làm quan. Tuy nhiên, cách giải thích bài thơ ra đời trong thời gian tránh loạn ở Giang Nam phù hợp hơn với niên đại thường được chấp nhận. Dù theo thuyết nào, tâm trạng trong bài vẫn là nỗi buồn của một người đi xa: vừa có sầu ly hương, vừa có nỗi bất an về tiền đồ và thời cuộc.

Bài thơ được tuyển vào Trung hưng gian khí tập của Cao Trọng Vũ với nhan đề Dạ bạc Tùng giang hoặc Dạ túc Tùng giang. Về sau, các tuyển tập như Văn uyển anh hoa chép thành Phong Kiều dạ bạc, trở thành nhan đề thông dụng hiện nay. Trong Toàn Đường thi, bài còn được ghi là có tên khác Dạ bạc Phong giang.

Đời Bắc Tống, Âu Dương Tu từng nhận xét rằng nửa đêm không phải lúc đánh chuông, cho rằng Trương Kế vì muốn có câu thơ hay mà viết không đúng thực tế. Tuy nhiên, nhiều học giả đời sau đã phản bác. Các tư liệu ghi nhận thời Đường có tục đánh chuông ban đêm, một số chùa vùng Ngô Trung còn có “phân dạ chung”, tức chuông báo thời khắc giữa đêm. Trong thơ Đường cũng không hiếm những câu nhắc tới tiếng chuông nửa đêm. Diệp Mộng Đắc, một người Tô Châu đời Tống, cho rằng Âu Dương Tu nêu nghi vấn vì chưa từng đến vùng Ngô Trung, các chùa tại đây quả thật có tục đánh chuông lúc nửa đêm. Lục Du sau khi tổng hợp nhiều dẫn chứng còn cho rằng không chỉ Tô Châu mà chùa chiền đời Đường nói chung có thể đã có lệ đánh chuông ban đêm. Vì vậy, “dạ bán chung thanh” không nhất thiết là chi tiết do nhà thơ hư cấu. Dù xét theo lịch sử hay nghệ thuật, tiếng chuông nửa đêm đều hoàn toàn có thể tồn tại và là trung tâm âm thanh của bài thơ.

Về nghệ thuật, bài thơ tiêu biểu cho bút pháp tả cảnh ngụ tình. Hai câu đầu sử dụng rất nhiều hình ảnh: trăng lặn, quạ kêu, sương trời, cây phong, lửa chài và người khách mất ngủ; cảnh vật dày đặc, gần gũi, được cảm nhận bằng cả mắt, tai và thân thể. Hai câu sau mở rộng không gian: từ chiếc thuyền nhỏ nhìn ra thành Cô Tô, chùa Hàn Sơn và màn đêm rộng lớn; cảnh vật ít đi, chỉ còn tiếng chuông từ xa vọng tới. Cấu trúc bài thơ vì vậy chuyển từ nhiều hình ảnh gần sang một âm thanh xa, từ cái nhìn của người khách sang tiếng chuông của ngôi chùa, từ cảnh vật hữu hình sang dư âm vô hình. Tiếng chuông không xoá được nỗi sầu, nhưng khiến nỗi sầu có chiều sâu và lan ra khắp không gian sông nước. Chữ “sầu” chỉ xuất hiện một lần nhưng chi phối cả bài. Trăng lặn, quạ kêu, sương lạnh, cây phong, lửa chài và chuông chùa tự thân không nhất thiết buồnc chúng trở nên buồn vì đều được nhìn và nghe qua tâm trạng của một người đang cô độc, xa quê và mất ngủ giữa thời loạn.

Chú thích:
[1]
Tức thành Tô Châu. Phía tây nam thành Tô Châu có ngọn núi tên là Cô Tô, vì vậy người ta thường gọi Tô Châu là Cô Tô.
[2]
Ngôi chùa nằm ở phía tây trấn Phong Kiều, Tô Châu, được xây vào năm Thiên Giám (502-519) đời Lương Vũ Đế với tên Diệu Lợi Phổ Minh tháp viện, đến năm Trinh Quán (627-649) đời Đường Thái Tông được gọi là Hàn San tự để tưởng nhớ nhà sư Hàn San cuồng sĩ đã tu ở đây. Trong chùa có tranh tượng hai nhà sư nổi tiếng Hàn San, Thập Đắc.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 8 trang (80 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [5] [6] [7] [8]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Trăng lặn quạ kêu sương khắp trời
Phong buồn khó ngủ lửa ghe chài
Chùa Hàn thành ngoại Cô Tô vắng
Chuông tới thuyền đêm ngân vọng dài.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Tạ Trung Hậu

Lạc bóng trăng tà, quạ khóc sương
Lửa chài, phong bãi, giấc thiu buồn
Cô Tô ngoài bến neo thuyền khách
Chuông sớm chùa Hàn văng vẳng buông


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Tạ Trung Hậu

Quạ réo trời sương, bóng nguyệt chìm
Lửa chài, phong bãi, giấc buồn thêm
Chùa Hàn ngoài bến Cô Tô vắng
Vọng đến khách thuyền chuông giữa đêm


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đất Văn Lang

Quạ kêu, trăng lặn, trời sương trắng
Đèn cá, hàng phong, giấc cảm hoài
Xa tít, Hàn San chùa tịch lặng
Nửa đêm thuyền lộng tiếng chuông dài.


Đất Văn Lang
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Trăng tà tiếng quạ dội trời sương,
Cây bến đèn ngư đối giấc buồn.
Thành ngoại Cô Tô, chùa lặng lẻ,
Nửa đêm thuyền khách vọng hồi chuông.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Trăng lặn quạ kêu trời phủ sương,
Lửa chài le lói giấc sầu vương.
Cô Tô thành ngoại Hàn San vắng,
Thuyền khách nửa đêm nghe vọng chuông.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bổ sung chú giải nghĩa Phong Kiều dạ bạc – Trương Kế

楓橋夜泊-張繼
月落烏啼霜滿天,江楓漁火對愁眠。
姑蘇城外寒山寺,夜半鐘聲到客船
Phong Kiều dạ bạc – Trương Kế
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang Phong Ngư hoả đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn sơn Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Chú giải nghĩa:
1. Phong Kiều (楓橋): tên địa danh, vùng đất bên ngoài cửa Xương Môn thành Tô Châu (Thành Cô tô), nay là thành phố Tô Châu tỉnh Giang Tô Trung Quốc, gần chùa Hàn sơn.
2. Dạ bạc (夜泊): dạ là đêm, bạc có nghĩa là bến nước, bến sông, chữ bạc trong chữ Lương Sơn bạc。
3. Phong Kiều dạ bạc: đêm cập thuyền ở bến Phong Kiều.
4. Nguyệt lạc (月落): mặt trăng xuống hướng tây, đã quá nửa đêm。
5. Ô đề (烏啼): ô: tên thường gọi là Lô Tư Ô, có nghĩa là con chim cốc, loại chim được thuyền chài đánh cá trên sông nuôi để bắt cá. Người Việt khi dịch thơ vẫn hay nhầm dịch thành con quạ, con quạ tiếng Hán là ô nha. Đề: tiếng kêu. Ô đề: tiếng chim cốc kêu.
6. Sương mãn thiên(霜滿天) sương mù trời, khói sương mịt mùng mặt nước.
7. Giang Phong (江楓): cây phong mọc bên bờ sông.
8. Ngư hoả (漁火): ngọn đèn lửa hoặc ngọn lửa trời của thuyền đánh bắt cá, người Trung Quốc ban đêm bắt cá trên sông dùng ánh sáng đèn hoặc ngọn lửa trời để thu hút cá. Sau đó thả chim cốc xuống sông bắt cá.
9. Đối sầu miên (對愁眠): cùng sầu thiếp ngủ. Sự hoài cảm của khách trên thuyền.
10. Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự (姑蘇城外寒山寺): chùa Hàn Sơn bên ngoài thành Cô Tô.
11. Dạ bán chung thanh(夜半鐘聲): đương thời chùa viện có thói quen đánh chuông vào ban đêm gọi là “chuông vô thường”.
12. khách thuyền (客船): thuyền chở tác giả, do tác giả ngồi thuyền phiêu bạt trên đất khách cho nên tự gọi là khách thuyền.

Dịch Nghĩa:
Trăng tà, tiếng cốc kêu, sương giăng đầy trời.
Hàng phong bên sông, ngọn đèn thuyền chài cùng khách trên thuyền đang ngủ buồn.
Chùa Hàn Sơn bên ngoài thành Cô Tô.
vẳng tiếng chuông chùa đến khách thuyền lúc nửa đêm.

Dịch thơ (mượn ý thơ cụ Tản Đà)
Trăng tà, tiếng cốc kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm vẳng tiếng chuông chùa Hàn San.


15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của TchyA

Quạ kêu trăng xế sương tuôn,
Lửa chài cây bến đối buồn nằm khan.
Thành Cô Tô, miếu Hàn San,
Nửa đêm chuông vẳng tiếng sang thuyền người.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Vũ Trí Viễn

Trăng khuất quạ kêu sương giăng trời,
Lửa chài bờ phong buồn đầy vơi.
Hàn Sơn chùa tại Cô Tô ngoạị,
Chuông đến khách thuyền nửa đêm khơi.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Thích Viên Thành

Trăng lặn quạ kêu sông nhuộm sương
Lửa chài gây bén giấc sầu vương
Thuyền ai ghé bến Cô Tô đậu
Trong viện Hàn Sơn vẳng tiếng chuông.


Tháng 11-1968

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
HOẠT MA ĐẠO AN
Chưa có đánh giá nào
Trả lời

Trang trong tổng số 8 trang (80 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [5] [6] [7] [8]