124.75
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Thịnh Đường
108 bài trả lời: 88 bản dịch, 20 thảo luận
88 người thích
Từ khoá: Hoàng Hạc lâu (22) thơ sách giáo khoa (441) Văn học 10 [1990-2006] (49) Ngữ văn 10 [2007-2017] (23)
Đăng bởi Vanachi vào 08/06/2005 12:03, đã sửa 4 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 20/07/2006 23:50

黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。

 

Hoàng Hạc lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

 

Dịch nghĩa

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc.
Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại,
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không.
Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một,
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.
Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn!


Lầu Hoàng Hạc ở phía tây nam thành Vũ Xương.

Bài thơ này được sử dụng trong các chương trình SGK Văn học 10 giai đoạn 1990-2006, SGK Ngữ văn 10 giai đoạn từ 2007 (đọc thêm).

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 11 trang (108 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phanxipăng

Xưa người đã cưỡi hạc vàng bay,
Trơ lầu Hoàng Hạc ở chốn này.
Hạc vàng một mực không quay lại,
Mây trắng ngàn đời lãng đãng say.
Ửng bờ cây Hán, sông trôi chậm,
Thơm bãi chim Anh, cỏ biếc dày.
Quê nhà đâu nhỉ? Trời chiều tối,
Sông dâng khói sóng, dạ buồn thay.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phan Phong Linh

Người xưa cưỡi hạc xa bay
Mà đây hoàng hạc chốn này còn trơ
Hạc vàng mất hút tự xưa
Ngàn năm mây trắng hững hờ trôi qua
Hán Dưong cây giõi sông xa
Bãi châu Anh vũ cỏ hoa rầu rầu
Chiều tà biết cố hương đâu
Trên sông mờ sóng lòng sầu mang mang


Bản dịch của Phan Phong Linh, giáo sư dạy văn các trường trung học ở Hải phòng vào những năm 50 của thế kỷ 20, do nhà văn Thượng Sỹ cung cấp khi cũng dạy học ở HP vào thời ấy.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Quảng Tuân

Người xưa cưỡi hạc đã bay xa,
Hoàng Hạc lầu không vẫn chốn này.
Mây trắng ngàn năm lơ lửng mãi,
Hạc vàng một tếch khuất trùng ngay.
Hàn Dương sông tạnh cây phô sắc,
Anh Vũ cồn xa cỏ mọc dày.
Chiều muộn quê nhà đâu khuất bóng?
Trên sông khói sóng gợi buồn thay.

Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Hoàng Hạc lâu

theo em biết ở bản dịch của Khương Hữu Dụng câu thứ ba phải là: "Hạc vàng một đã đi đi biệt"

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Hùng II

Người xưa đã cưỡi chim Hoàng Hạc,
Đất trời lầu Hạc hãy còn đây.
Hạc vàng bay qua không trở lại;
Ngàn năm mây trắng nhở nhơ bay.
Hán Dương sông sáng, cây rõ bóng,
Cỏ thơm Anh Vũ, bãi xanh dày.
Trời chiều quan tái, quê đâu nhi?
Trên sông sóng khói gợi sầu đầy....

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của ThachHuong

Hạc vàng người cũ đã bay xa
Trơ lầu hoàng hạc bóng ai qua
Hạc vàng sải cánh không trở lại
Ngàn năm mây trắng vẫn thướt tha
Hán Dương cây rậm lay bóng nước
Cỏ non Anh Vũ bãi xanh la
Chiều nay quê cũ nhìn đâu thấy
Khói sóng trên sông nhuộm bóng tà

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bình

Bài thơ HOÀNG HẠC LÂU của Thôi Hiệu xưa nay được coi là " tuyệt kỳ bút pháp"...chỉ mấy chữ"tình xuyên phương thảo,nhật mộ yên ba"...với nghệ thuật thơ Đường bậc thầy thì Thôi Hiệu đã mệnh ý hết rồi,thẩm cách xong rồi và phát bút đã là vô tiền khoáng hậu; thế nghĩa là với HOÀNG HẠC LÂU thi sĩ đã đạt tiêu chí" hoàn hảo" khiến cho Đại thi hào Lý Bạch cũng phải cúi đầu nhún nhường"đạo bất đăc"( không nói được nữa !)? Các cụ ta xưa đã từng giảng :
Cái "diệu" của Thôi Hiệu ở chỗ: chỉ 1 câu tả "lầu",còn 3 câu kia đều tả " người xưa"...trong đó câu 1 tả "người xưa",câu 3 là nghĩ "người xưa",câu 4 là ngóng "người xưa",cứ như phớt lờ không nhắc gì đến "lầu". Câu 5-8 tiền giải tả "người xưa",hậu giải tả "người nay",tuyệt nhiên không tả đến "lầu",Thi sĩ chỉ NHẤT Ý TỰA CAO TRÔNG XA,riêng thổ lộ hoài bão của mình.Rồi"hương quan hà xứ thị"(ở nơi này)với cây thì "lịch lịch"(in rõ),bãi thì"thê thê"(tươi tốt),riêng có MẮT thì ngóng "hương quan" là không biết "hà xứ"(nơi nào). Rồi với 2 chữ "nhật mộ"(chập tối lúc chim về tổ, gà vào chuồng) đặt NGANG lên câu thơ làm cho 24 con chữ trong 4 câu tiền giải cùng nhảy múa tạo nên tuyệt tác để "đời sau đừng ai làm thơ về Hoàng Hạc Lâu nữa mà chuốc lấy hổ thẹn "?!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Về bản dịch của Tản Đà

Nếu nguyên tác của Thôi Hiệu là tuyệt bút thì bản dịch của Tản Đà lâu nay được coi là tuyệt vời ? Tuy nhiên,cái chỗ"còn có để mà bàn"(thảo luận) như chữ"không"(luồng những)trong câu thứ 2,được xem là " thi nhãn"(chữ mắt)thể hiện cái hồn của bài thơ:tâm trạng bâng khuâng,mênh mang.man mác ,buồn hiu hiu da diết ...Tản Đà dịch bằng chữ "trơ" là khá đắt ! Câu 3 "hạc vàng bay đi là thôi không trở lại" mà dịch là "hạc vàng đi mất từ xưa" thì quả là không đạt ?Câu 4 "không du du"(bay lững lờ trên bầu không-trôi mãi mãi)chữ "không" ở đây là "vĩnh viễn"...cũng như câu 5+6 dịch ra tiếng Việt quả thực là rất khó nói hết cái thi trung hữu hoạ,hữu nhạc,hữu hương của nguyên tác ?
 Theo thiển ý của NK thì Cái "gốc"(nguyên nhân,cốt lõi)có lẽ là ở chỗ "thể loại" ?
 Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu là viết theo" Luật thi".Đại thi hào Lý Bạch sở dĩ hư tâm phục thiện như thế chỉ vì chính ông hiểu rõ Luật thi cam khổ;Còn bản dịch của Tản Đà là "lục bát" (thơ dân tộc) dịch Hán ra Việt để Người Việt thưởng thức cái áng thiên cổ kỳ thi này.Cái "vênh",cái "khó" của DỊCH (chuyển ngữ) là ở chỗ này.Thể thất ngôn bát cú:mỗi câu 7 chữ,rồi từng cặp đôi câu theo phép KHỞI-THỪA-CHUYỂN-HỢP (đối nhau chằm chặp ),chữ MẮT (nhỡn tự) đắc địa ở chỗ nào ? với những Ý mới,tứ lạ,thi cách ra sao ? được chuyển dịch sang lục bát :1 câu 6 dịch câu 7,rồi 1 câu 8 dịch câu 7...nếu không gối chữ,trùm ý(gọi 2=2) THÌ ĐỐ AI DỊCH nổi(chữ=chữ,ý=ý lại lột tả được cái HỒN (cái Thần của thi phẩm).Chao ôi,"dịch là phản" như chơi là thế!
 Ở Tản Đà,có lẽ bản dịch Hoàng Hạc Lâu là đạt hơn cả.Sự đáng châm chước của lối dịch thơ kiểu này(luật thi ra lục bát)là không nên cố chấp"chữ đổi chữ" mà lấy Ý hớp HỒN là chính.Do đó 2 câu kết,Tản Đà dịch là "
      Quê hương khuất bóng hoàng hôn
      Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Xét về ngữ nghĩa,âm điệu (của thơ Việt) thì phải nói là đã đạt mức "tuyệt tác"...ta đọc lên,ngâm nga thấy SƯỚNG hơn cả đọc nguyên tác !?
  Còn về 2 chữ "phương thảo" (cỏ thơm)mà dịch là "cỏ non" là cách nói thông dụng của dân gian đất Việt.
  Dịch ra "Lục bát" là lối dịch "thoát",phải là tay cự phách trong làng thơ như Tản Đà mới có được một bản dịch bất hủ như vậy !

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Về tiểu sử Thôi Hiệu

"Hoàng Hạc Lâu" thuộc hàng đệ nhất Luật thi đời Đường.Tác giả của thiên kỳ thi tuyệt hảo này là Thôi Hiệu(?-754)người Biện Châu(nay là huyện Khai Phong,tỉnh Hà Nam),đỗ Tiến Sĩ năm Khai Nguyên 13(725),làm Quan đến chức Tư huân Viên ngoại lang(cỡ Vụ phó ngày nay-hàm ngũ phẩm).Ông bản tính lãng mạn,ham đánh bạc,rượu chè,thích "của lạ"(thay vợ đến 4 lần).Hồi trẻ thơ ông diễm lệ bóng bẩy;đến cuối đời phong thái cốt cách mạnh mẽ rắn rỏi,sáng tạo tân kỳ có thể theo kịp Giang Yêm,Bão Chiếu.Ông khổ vì ngâm vịnh đến trở bệnh xanh xao hốc hác cả người(hết mình vì làm thơ),Bạn ông đùa nói:"không phải Bác bệnh nó đến như vậy,bởi khổ vì ngâm thơ nên gầy mà thôi !
Ở Thôi Hiệu cho ta bài học : sở dĩ con người ta "thành đạt" là do có TÀI,có CHÍ và gặp THỜI ( ở đây là thời Khai Nguyên-Thiên Bảo rất thuận cho trí thức đi thi đỗ Tiến Sĩ,làm Quan và làm Thơ...tha hồ thi thố tài năng phò Vua,chấn hưng đất nước.)

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Hà hoàng

Bóng hạc vàng xưa không còn nữa
Lầu hạc còn trơ những dấu xưa
Hạc vàng bay mãi đi về nơi nao
Mây trắng vẫn lững lờ giữa tầng không
Bên sông Hán Dương cây ngàn rợp bóng
Bãi Anh Vũ cỏ thơm mát đôi bờ
Hoàng hôn xuống mang đầy nỗi nhớ
Quê hương mờ,khói sóng dục khách xa

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 11 trang (108 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] ... ›Trang sau »Trang cuối