秋螢

浮草何時化,
西風入夜飛。
往來空自照,
漂泊更誰依。
月暗長門殿,
霜寒織女機。
愁人多不寐,
到此更流輝。

 

Thu huỳnh

Phù thảo hà thời hoá,
Tây phong nhập dạ phi.
Vãng lai không tự chiếu,
Phiêu bạc cánh thuỳ y.
Nguyệt ám Trường Môn điện,
Sương hàn Chức Nữ ky.
Sầu nhân đa bất mị,
Đáo thử cánh lưu huy.

 

Dịch nghĩa

Hoá ra khi nào từ đám cỏ nát?
Theo gió tây bay vào trong đêm
Bay đi bay lại trên không, tự soi sáng
Phiêu bạc đó đây, biết nhờ cậy ai?
Khi trăng lu, nương trong điện Trường Môn
Lúc sương lạnh, bên thoi dệt Chức Nữ
Người buồn phần nhiều không ngủ được
Tới đây bèn được soi sáng


Nguồn: Hội Tao Đàn (Tác giả - tác phẩm), Viện Nghiên cứu Hán-Nôm, Lâm Giang chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 1993

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Phước Hậu

Cỏ hoá lúc nào đây?
Bay vào đêm gió tây.
Trên không tới lui sáng,
Phiêu bạc há nhờ ai?
Điện Trường môn trăng ám.
Thoi Chức nữ sương dày,
Người buồn thường không ngủ,
Đem ánh sáng nơi này.

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Cỏ tàn, hoá tự khi nào
Bay theo ngọn gió thổi vào trong đêm
Tới lui mình tự soi mình
Tấm thân phiêu bạc khôn mong cậy nhờ
Trường Môn một mảnh trăng mờ
Bên thoi Chức Nữ sương thu lạnh lùng
Người buồn giấc ngủ chưa xong
Tới đây xin mượn ánh hồng sáng soi

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời