踏莎行

霧失樓臺﹐
月迷津渡,
桃源望斷無尋處。
可堪孤館閉春寒,
杜鵑聲裡斜陽暮。

驛寄梅花,
魚傳尺素,
砌成此恨無重數。
郴江幸自繞彬山,
為誰流下瀟湘去。

 

Đạp sa hành

Vụ thất lâu đài,
Nguyệt mê tân độ,
Đào nguyên vọng đoạn vô tầm xứ.
Khả kham cô quán bế xuân hàn,
Đỗ quyên thanh lý tà dương mộ.

Dịch ký mai hoa,
Ngư truyền xích tố,
Thế thành thử hận vô trùng số.
Sâm giang hạnh tự nhiễu Sâm sơn,
Vị thuỳ lưu há Tiêu Tương khứ.

 

Dịch nghĩa

Sương mù bốc lên, lâu đài mất hẳn
Bóng trăng mờ che khuất bến đò
Trông dứt tầm mắt không nhìn thấy nguồn đào
Chịu sao nổi nơi quán lẻ, đóng chặt cái rét mùa xuân.
Mặt trời chiều trong tiếng quyên kêu.

Nhà trạm gửi hoa mai
Con cá trong bụng có mảnh lụa
Xây nên xiết bao nỗi hờn
Sông Sâm vốn chảy quanh núi Sâm
Vì ai lại xuôi dòng chảy xuống sông Tiêu Tương.


Bài này được trong thời gian tác giả bị biếm đi Sâm Châu. Tương truyền Tô Đông Pha rất thích hai cấu cuối bài từ này, đem chép lên cây quạt của mình.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Xuân Tảo

Sương khuất lầu cao,
Trăng mờ bến cũ,
Nguồn đào xa tít nhìn đâu rõ.
Lạnh lùng quán lẻ khép trời xuân,
Khắc khoải tiếng quyên, chiều bóng ngả.

Trạm gửi hoa mai,
Cá đưa bức lụa,
Xây nỗi hận chất chồng vô số.
Sông Sâm vốn quanh bọc non Sâm,
Vì ai chảy xuống dòng Tương nọ.


Nguồn: Nguyễn Xuân Tảo, Tống từ, NXB Văn học, 1999
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Cao Tự Thanh

Mù khuất lâu đài,
Trăng mờ bến bãi.
Nguồn Đào đứt mắt không nhìn thấy.
Khó kham quán lẻ nhốt xuân tàn,
Cuốc kêu mấy tiếng tà dương tối.

Trạm chuyển mai kia,
Cá đưa lụa ấy.
Hận này chất ngất bao nhiêu nỗi.
Sông Sâm uốn lượn cạnh non Sâm,
Vì ai rẽ lối Tiêu Tương chảy.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời