Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Cận đại
3 bài trả lời: 3 thảo luận
3 người thích

Đăng bởi Vanachi vào 21/10/2005 19:36, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 02/11/2019 20:38

Suối tuôn róc rách ngang đèo
Gió thu bay lá, bóng chiều về tây
Chung quanh những đá cùng cây
Biết người tri kỷ đâu đây mà tìm
Hỏi thăm những cá cùng chim
Chim bay xa bóng, cá chìm mất tăm!
Bây giờ vắng mặt tri âm
Lấy ai là kẻ đồng tâm với mình?
Nước non vắng khách hữu tình
Non xanh nước biếc cho mình nhớ ai!


Các tuyển tập của Tản Đà đều in bài thơ chỉ có như trên. Tuy nhiên, một số sách không rõ dẫn từ đâu, in bài có tên Phong thi khá dài mà phần trên chỉ là đoạn đầu.

Bản trong Việt Nam thi nhân tiền chiến:
Suối tuôn róc rách ngang đèo,
Gió thu bay lá, bóng chiều về tây.
Chung quanh những đá cùng cây,
Biết người tri kỷ đâu đây mà tìm?
Hỏi thăm những cá cùng chim,
Chim bay xa bóng, cá chìm mất tăm!
Bây giờ vắng mặt tri âm,
Lấy ai là kẻ đồng tâm với mình?
Nước non vắng khách hữu tình,
Non xanh nước biếc cho mình chờ ai?
Anh xuôi, em tựa đầu cầu,
Con sông vẫn đó, con tàu đã qua.
Lạy trời gió bão phong ba.
Cho tàu đổ ngược, cho ta thấy mình.
Muốn cho đêm ngắn hơn ngày,
Sớm vỡ ruộng rậm, trưa cày ruộng chiêm.
Muốn cho ngày ngắn hơn đêm,
Đèn khuya chung bóng cho em đỡ sầu.
Mình ơi có nhớ ta chăng?
Nhớ mình đứng tựa bóng trăng ta sầu.
Trăng kia soi nửa vòng cầu,
Mà ai tìm cái phong hầu thấy chưa?
Đường đi nho nhỏ,
Bờ cỏ xanh xanh,
Không duyên không nợ, không tình,
Đồng không quãng vắng, sao mình gặp ta?
Bây giờ trời nắng đường xa,
Rủ nhau vào dưới gốc đa ta ngồi.
Yêu nhau chẳng lọ thề bồi,
Kẻ Nam, người Bắc, ngậm ngùi nhớ thương.
Tơ tầm ai vấn mà vương?

Đêm qua mất cắp như chơi,
Có chỗ mất vợ, có nơi mất chồng!
Ông tơ nghĩ chẳng thẹn thùng,
Còn đương chấp mối tơ hồng se ai!
Một con sông, ba bảy con sông đào,
Trăm công nghìn nợ trông vào một em
Bao giờ sạch nợ giàu thêm,
Để anh đi kéo gỗ lim làm nhà.
Đôi ta trăm tuổi cùng già,
Con tằm khác kén, cùng là nhộng non.
Chữ đồng tạc núi ghi sông.

Đêm thu gió đập cành cau,
Chồng ai xa vắng ai sầu chăng ai?
Đêm thu gió hút ngoài tai,
Gió ơi có biết chăng ai nơi nào?
Đêm thu gió lọt song đào,
Chồng ai xa vắng, gió vào chi đây?
Đêm thu gió lạnh đôi mày,
Gió ơi có biết nỗi nầy cho chăng?
Con sông chạy buột về Hà,
Nhớ ai Hà Nội, trông mà ngùi thương,
Nhớ người cố quận tha hương,
Nhớ ai thời nhớ, nhưng đường thời xa.
Ai xuôi em lấy học trò,
Thấy nghiên, thấy bút những lo mà gầy!
Người ta đi lấy ông Tây,
Có tiền, có bạc cho thầy mẹ tiêu.
Ai đi! đợi với tôi cùng,
Tôi đi kiếm rượu cho chồng tôi xơi.
Chồng hư mang tiếng mang tai,
Tiếng tai thiếp chịu, hơn ai không chồng.
Cô kia đen thủi đen thùi,
Phấn đổ vô hồi, cái má vẫn đen.
Lắm vàng cho thắm nhân duyên,
Cô kia trắng nõn, không tiền lấy ai.
Trách ai đánh đá nung vôi.
Trách ai ngả gỗ trên đồi đốt than.
Làm cho vôi trắng than đen,
Cho lòng đen bạc, thế gian lắm người!
Bờ hồ những gió cùng trăng,
Những trăng cùng gió lăng nhăng sự đời,
Ai lên nhắn trách ông Trời,
Bày chi trăng gió, cho người gió trăng!
Bản trong Thi nhân Việt Nam hiện đại:
Suối tuôn róc rách ngang đèo,
Gió thu bay lá, bóng chiều về tây.
Chung quanh những đá cùng cây;
Biết người tri kỷ đâu đây mà tìm?
Hỏi thăm những cá cùng chim,
Chim bay xa bóng, cá chìm bặt tăm.
Bây giờ vắng mặt tri âm,
Lấy ai là kể đồng tâm với mình?
Nước non vắng khách hữu tình,
Non xanh nước biếc cho mình nhớ ai?

Đêm thu gió đập cành cau,
Chồng ai xa vắng, ai sầu chăng ai?
Đêm thu gió hút ngoài tai,
Gió ôi có biết chồng ai nơi nào?
Đêm thu gió lọt song đào,
Chồng ai xa vắng, gió vào chi đây?
Đếm khuya gió lọt đồi mây,
Gió ơi, có biết nỗi này cho chăng?

Muốn ăn rau sắng chùa Hương,
Tiện đò ngại tốn con đường ngại xa.
Người đi ta ở lại nhà,
Cái dưa thời khú, cái cà thời thâm,
Ai ơi đợi với tôi cùng,
Tôi đi kiểm rượu cho chồng tôi xơi,
Chồng hư mang tiếng mang tai,
Tiếng tai thiếp chịu, hơn ai không chồng.

Con cò lặn lội bờ ao,
Phất phơ đôi dải yếm đào gió bay.
Em về giục mẹ cùng thày,
Cắm sào đợi nước biết ngày nào trong?
Con cò lặn lội bờ sông,
Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha.
Em về giục mẹ cùng cha,
Chợ trưa dưa héo, nghĩ mà buồn tênh.
Nguồn:
1. Tản Đà toàn tập - tập I, NXB Văn học, 2002
2. Tản Đà vận văn toàn tập, NXB Hương Sơn, Hà Nội, 1945
3. Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng, Việt Nam thi nhân tiền chiến, quyển thượng, NXB Sống Mới, 1968
4. Phạm Thanh, Thi nhân Việt Nam hiện đại (quyển thượng), NXB Xuân Thu, 1990

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Thơ Tản Đà

Bài này thấy có nơi để tựa là PHONG THI??

Ngoài ra còn thêm một khổ 14 câu, nhưng 14 câu này thấy giọng thơ khác với đoạn trên quá!! Không hiểu thế nào!!??

Suối tuôn róc rách, ngang qua đèo
Gió thu bay lá bóng chiều về tây
Chung quanh những đá cùng cây
Biết người tri kỷ đâu đây mà tìm
Hỏi thăm những cá cùng chim
Chim bay xa bóng, cá chìm mất tăm
Bây giờ vắng mặt tri âm
Lấy ai là kẻ đồng tâm với mình
Nước non vắng khách hữu tình
Non xanh nước biết cho mình chờ ta
Anh xuôi, em dựa đầu cầu
Con sông vẫn đó, con tàu vẫn qua
Lạy trời gió bảo phong ba
Cho tàu đổ ngược cho ta thấy mình
Muốn cho ngày ngắn hơn đêm
Đèn khuya chung bóng cho em đỡ sầu
Trăng kia soi nửa vòng cầu
Mà ai tìm cái công hầu có chưa
Đường đi nho nhỏ
Bờ cỏ xanh xanh
Không duyên không nợ không tình
Đồng không quạnh vắng sao mình gặp tạ
Đêm thu gió hút ngoài tai
Gió ơi gió biết chăng ai nơi nào...

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bài thơ

Giữa 2 đoạn thơ đó còn có sự khác vần và có 2 câu 4 chữ gần cuối rất lạ nên mình không dám chắc chuyện này thế nào. Trên mạng có rất nhiều bài thơ ban đầu có một người viết sai hoặc viết thêm không chú thích rồi về sau cả thiên hạ sai theo.

Mình chưa dám tuỳ tiện sửa lại, nếu ai có nguồn đáng tin cậy từ sách báo xuất bản thì hay quá.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Trao đổi

Mình thấy bài "Không Đề" trong Thi viện đúng với bài "Không Đề" trong "Tuyển Tập Tản Đà" của Hội Nhà Văn xuất bảnơiSách ra năm 2002, với lời giới thiệu của Xuân Diệu.
Bài "Không Đề" nằm trong tập chép tay "Khối tình con thứ nhất - 1916" của Tản Đà.

Tượng Thờ dù đổ vẫn thiêng
Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời