減字木蘭花-題雄州驛

朝雲橫度,
轆轆車聲如水去。
白草黃沙,
月照孤村三兩家。

飛鴻過也,
百結愁腸無晝夜。
漸近燕山,
回首鄉關歸路難。

 

Giảm tự mộc lan hoa - Đề Hùng Châu dịch

Triêu vân hoành độ,
Lộc lộc xa thanh như thuỷ khứ.
Bạch thảo hoàng sa,
Nguyệt chiếu cô thôn tam lưỡng gia.

Phi hồng quá dã,
Bách kết sầu trường vô trú dạ.
Tiệm cận Yên san,
Hồi thủ hương quan quy lộ nan.

 

Dịch nghĩa

Mây sớm bay ngang,
Tiếng xe đi lọc cọc như nước chảy.
Cỏ trắng, cát vàng,
Mặt trăng soi xuống xóm lẻ có đôi ba nhà.

Chim hồng bay qua,
Trăm nút ruột buồn không kể ngày đêm.
Gần đến Yên San,
Ngoảnh lại quê hương đường khó khăn.


Khi nước Kim xâm lược Tống, phụ thân là Tưởng Hưng Tổ không chịu khuất phục, nàng bị giặc bắt lên phương Bắc. Khi đi qua Hùng Châu (nay thuộc huyện Hùng tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc), nàng đã đề bài thơ này lên tường trạm dịch.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Xuân Tảo

Ngang trời mây nổi,
Lọc cọc tiếng xe như nước dội.
Cỏ trắng cát vàng,
Xóm lẻ đôi nhà dưới ánh trăng.

Chim hồng bay khuất,
Ruột sầu trăm mối ngày đêm thắt.
Gần tới Yên San,
Ngảnh lại quê nhà đường khó khăn.


Nguồn: Nguyễn Xuân Tảo, Tống từ, NXB Văn học, 1999
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Đương Tịnh

Mây sớm la đà
Lóc cóc xe như tiếng nước sa
Cát vàng cỏ xác
Trăng rọi đìu hiu mấy nóc nhà

Tung trời cánh nhạn
Muôn nỗi ngày đêm sầu cả dạ
Gần tới Yên Sơn
Ngoái cổ đường về ...ôi khó quá!

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời