授經臺

劍舞有神通草聖,
海山無事化琴工。
此臺一覽秦川小,
不待傳經意已空。

 

Thụ kinh đài

Kiếm vũ hữu thần thông thảo thánh,
Hải sơn vô sự hoá cầm công.
Thử đài nhất lãm Tần xuyên tiểu,
Bất đãi truyện kinh ý dĩ không.

 

Dịch nghĩa

Những ngọn cỏ với dáng dấp cao kỳ như thánh, khi đong đưa, trông như những ngọn thần kiếm đang vũ lộng,
Núi và sông, nhàn rỗi vô sự, tự nhiên trở thành những tay thợ đàn.
Chỉ một lần nhìn thấy đài này rồi, cả một dãy Tần Xuyên thành ra nhỏ bé,
Không phải đợi nghe được lời kinh, mà ý đã là không.


Nguyên chú: “Nãi nam sơn nhất phong nhĩ, phi phức hữu trúc xứ” 乃南山一峰耳,非復有築處 (Đó là một ngọn núi trong dãy Nam sơn chứ không phải là một cái đài được dựng lên).

Bản dịch nghĩa trong Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng (Tuệ Sỹ, NXB Ca Dao, 1973).

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Ngọn cỏ đong đưa, thần kiếm múa,
Núi sông vô sự, tự nhiên đàn.
Mới nhìn đài thấy Tần Xuyên nhỏ,
Chẳng đợi nghe kinh, ý đã sang.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Đong đưa cỏ múa kiếm thần,
Núi sông nhàn hoá thợ đàn tự nhiên.
Đài nhìn lớn trước Tần Xuyên,
Ý không chẳng đợi nghe liền lời kinh.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời